LẠI THỊ BÍCH NGỌC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
LẠI THỊ BÍCH NGỌC
QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ TẠI
NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
KHOÁ 2014A
Hà Nội – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
LẠI THỊ BÍCH NGỌC
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ TẠI
NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
HÀNG PHÁT TRIỂN ..................................................................................... 4
1.1 Khái quát về Ngân hàng phát triển ......................................................... 4
1.1.1 Sự hình thành ........................................................................................... 4
1.1.2 Khái niệm về Ngân hàng Phát triển...................................................5
1.1.3 Đặc điểm của Ngân hàng Phát triển...................................................6
1.1.4 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Phát triển...............................7
1.1.5 Vai trò của Ngân hàng Phát triển.....................................................12
1.2 Hoạt động tín dụng đầu tư tại Ngân hàng phát triển .......................... 15
1.2.1 Khái niệm........................................................................................15
1.2.2 Các hình thức tín dụng đầu tư tại Ngân hàng Phát triển.................15
1.2.3 Vai trò của tín dụng đầu tư tại Ngân hàng phát triển......................16
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng đầu tư.................................... 17
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng đầu tư tại Ngân hàng phát
triển.................................................................................................................. 23
1.2.6 Sự cần thiết hoàn thiện hoạt dộng tín dụng đầu tư................................ 24
1.3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về hoạt động tín dụng đầu
tư có hiệu quả và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam ......................... 24
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về hoạt động tín dụng đầu tư
có hiệu quả ...................................................................................................... 24
1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam ................................................. 29
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ TẠI
NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM ................................................. 32
2.1 Khái quát hoạt động của VDB ............................................................... 32
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển ............................................. 32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động ................................................ 34
2.1.3 Tình hình hoạt động của Ngân hàng phát triển Việt Nam trong thời gian
qua ................................................................................................................... 37
2.2 Phân tích hoạt động tín dụng đầu tư ..................................................... 44
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ đầy đủ
1. BCTC
Báo cáo tài chính
2. BKS
Ban Kiểm soát
3. CĐT
Chủ đầu tư
4. CNH - HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
5. CNTT
Công nghệ thông tin
6. ĐKKD
Đăng ký kinh doanh
Ngân hàng thương mại
15. NSNN
Ngân sách Nhà nước
16. ODA
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
17. TCTD
Tổ chức tín dụng
18. TDĐT
Tín dụng đầu tư
19. TDXK
Tín dụng xuất khẩu
20. VDB
Ngân hàng Phát triển Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những đặc điểm nổi bật của nền kinh tế hiện đại là Chính phủ trở
thành tác nhân với vị trí trung tâm để định hướng, phối hợp các hoạt động của toàn
xã hội; ổn định và cân bằng tổng thể; kích thích tạo nhân tố mới cho sự phát triển,
góp phần điều chỉnh cấu trúc kinh tế mà thị trường dù có hoạt động tốt cũng không
thể giải quyết một cách có hiệu quả. Vai trò mới của Chính phủ tăng lên do những
thất bại của thị trường và xã hội đặt ra những yêu cầu mới cao hơn.
Trải qua 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có những thành công bước đầu trong
việc hình thành và hoàn thiện cơ chế thị trường, cũng như điều chỉnh vai trò tương
ứng của Nhà nước trong nền kinh tế. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế bước
đầu đã được phối hợp nhịp nhàng giữa “Nhà nước là chủ thể quản lý kinh tế” và
“Nhà nước là một nhà đầu tư phát triển” thông qua các công cụ, đặc biệt là công cụ
điều tiết và phân bổ nguồn lực tài chính – tín dụng, để đảm bảo mục tiêu cải thiện
cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật; chuyển dịch nền kinh tế; thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế bền vững. Việc phân bổ nguồn lực tài chính – tín dụng được Nhà nước thông qua
các kênh truyền dẫn khác nhau đến nền kinh tế; trong đó có một nguồn vốn lớn
được Nhà nước sử dụng thông qua hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)
đó là nguồn vốn đầu tư, vốn đầu tư là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định
đến sự tăng trưởng kinh tế. Tín dụng đầu tư (TDĐT) của Nhà nước là kênh hỗ trợ
vốn quan trọng cho các dự án đầu tư của các thành phần kinh tế thuộc các ngành,
lĩnh vực, các vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn cần được khuyến khích đầu tư và
các chương trình kinh tế lớn trọng điểm của Chính phủ góp phần quan trọng trong
việc phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của đất nước.
Trong thực tiễn triển khai những năm vừa qua, TDĐT phát triển của Nhà tại
Ngân hàng phát triển Việt Nam đã dạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên,
hoạt động TDĐTcho đến nay vẫn chưa tạo ra được những thay đổi mang tính đột
phá, tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, tại một lĩnh vực/ khu vực…
nói riêng. Đã có những hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện chưa đáp ứng tốt
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu bao gồm 03 chương:
2
- Chương 1: Lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng đầu tư của Ngân hàng phát
triển.
- Chương 2: Phân tích hoạt động tín dụng đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt
Nam.
- Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư tại Ngân
hàng Phát triển Việt Nam.
3
Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG
PHÁT TRIỂN
1.1 Khái quát về Ngân hàng phát triển
1.1.1 Sự hình thành
Thời kỳ trước Thế chiến thứ II, vào thế kỷ 19, nước Mỹ đã hoàn thành việc
công nghiệp hóa và thậm chí trước đó, Anh và một số nước châu Âu khác đã phát
triển nền móng công nghiệp của mình. Các nước công nghiệp này đã đạt đến trình
độ công nghiệp hóa nhờ vào chức năng trung gian của các ngân hàng tài trợ đầu tư
dài hạn trong việc đảm nhận những rủi ro của việc bước chân vào các lĩnh vực sản
xuất mới. Trong thế kỷ 19, các tổ chức này có những tên gọi khác nhau và thường
được biết đến như “các ngân hàng công nghiệp”. Vào cuối thế kỷ 19, các ngân hàng
công nghiệp đã mang lại nguồn “vốn rủi ro” hay “vốn cổ đông” cho các dự án hứa
hẹn sẽ mang lại lợi nhuận cao từ việc khai thác các ngành sản xuất mới. Một ví dụ
khác cho hình thức tài trợ này là việc xây dựng đường ray xe lửa tại Mỹ diễn ra từ
thế kỷ 18.
độc lập. Một trong những vấn đề then chốt là có rất nhiều nước không có đủ nguồn
tiết kiệm cần thiết để tài trợ cho công cuộc phát triển. Tại các quốc gia này, nguồn
tiết kiệm nội địa cần thiết để đáp ứng cho nhu cầu vốn đầu tư phục vụ tái thiết đất
nước và công nghiệp hóa không được tạo ra một cách đầy đủ. Một trong những vấn
đề cơ bản có liên quan là phải tìm ra phương thức tác động lên việc chu chuyển
nguồn vốn nước ngoài, các kênh vốn từ các quốc gia có thặng dư tiết kiệm tới các
quốc gia thiếu hụt tiết kiệm. Để giải quyết vấn đề này, ý tưởng về việc thành lập
NHPT như một cơ chế chu chuyển vốn hợp lý của các nguồn tài trợ quốc tế cho các
dự án phát triển đã nảy sinh. Một loạt các NHPT được thành lập tại Nhật Bản, Đức,
các nước Đông Á và một số nước Đông Nam Á cùng với một hình thức cũ của
NHPT tại Mexico, Chile, Venezuela và một số nước khác vào những năm 1930.
Trong quá trình hình thành và phát triển, các Ngân hàng này đều phải đối mặt với
yêu cầu hoàn thiện để trở thành cơ chế tài trợ đầu tư có hiệu quả, có tác dụng thúc
đẩy quá trình hỗ trợ phát triển tại nước mình. Thực trạng vốn rất phổ biến tại các
quốc gia đang phát triển sau thế chiến thứ II này chính là nhân tố động lực đứng sau
sự hình thành và phát triển của các NHPT hiện nay.
1.1.2 Khái niệm về Ngân hàng phát triển
5
Các ngân hàng thương mại (NHTM), ngân hàng đầu tư, các tổ chức tài chính
phi ngân hàng như quỹ đầu tư, công ty tài chính… đóng vai trò ngày càng quan
trọng trong việc thu hút tiết kiệm và tài trợ cho phát triển, hạn chế rủi ro và tăng khả
năng sinh lời. Phần lớn các trung gian tài chính hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi
ích tài chính của chủ sở hữu. Tuy nhiên, có một số tổ chức hoạt động với các mục
tiêu và đối tượng phục vụ đặc biệt, hướng tới lợi ích KT-XH. NHPT cũng là một tổ
chức tài chính như thế. Như vậy, có thể khái quát về NHPT như sau:
Ngân hàng phát triển là tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là tài trợ
trung và dài hạn cho các dự án phát triển và hoạt động không vì mục tiêu lợi
phát triển của Chính phủ theo kế hoạch phát triển KT-XH của quốc gia. Việc hỗ trợ
tài chính của NHPT được thể hiện thông qua việc cung cấp số vốn hỗ trợ lớn với tài
sản đảm bảo tiền vay được nới lỏng hơn so với các tổ chức tín dụng thương mại,
thời hạn cho vay tương đối dài, thường là các khoản cho vay trung, dài hạn, lãi suất
cho vay ưu đãi so với lãi suất thị trường trên cơ sở mức độ ưu tiên của dự án trong
chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ.
1.1.4 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng phát triển
* Huy động vốn
Huy động vốn đã trở thành hoạt động chủ yếu của ngân hàng từ lâu. Tuy
nhiên, đối với NHPT, vấn đề đặt ra trong hoạt động này là làm thế nào để huy động
được nguồn vốn trung và dài hạn với lãi suất bình quân thấp trong các điều kiện
cạnh tranh của các tổ chức tín dụng gia tăng, ổn định vĩ mô kém bền vững và khả
năng tích luỹ của nền kinh tế là không cao...
Yêu cầu với nguồn vốn huy động của NHPT là phải đảm bảo mối liên hệ về
kỳ hạn và lãi suất. Quy mô của các nguồn liên quan đến quy mô của các dự án mà
ngân hàng tài trợ và quy mô tăng lợi nhuận. Lãi suất và kỳ hạn của nguồn bị tác động
bởi kỳ hạn và khả năng sinh lời của dự án được tài trợ.
Ngoài ra, với hoạt động chủ yếu là tài trợ cho các dự án trung và dài hạn có
khả năng sinh lời thấp hoặc rủi ro cao, yêu cầu đặt ra cho NHPT phải có nguồn vốn
hỗn hợp với lãi suất bình quân tương đối thấp, thời gian sử dụng vốn dài và chấp
nhận rủi ro. Trong điều kiện thị trường vốn trung, dài hạn kém phát triển, khả năng
tích luỹ của nền kinh tế thấp, để thực hiện yêu cầu trên đòi hỏi phải kết hợp nỗ lực
7
của NHPT và các điều kiện kinh tế, pháp luật phù hợp.
Các hình thức huy động vốn của NHPT:
- Huy động tiền gửi trên thị trường:
Tiền gửi của khách hàng (chủ yếu là các tổ chức kinh tế) là nguồn huy động
Bên cạnh hai hình thức huy động tiền gửi trên còn có hình thức huy động tiền
gửi từ các ngân hàng khác. Tuy nhiên, với NHPT, huy động nợ thông qua hình thức
này không phổ biến và nguồn thu là không đáng kể.
- Phát hành trái phiếu:
+ Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh:
Tương tự như các doanh nghiệp, các tổ chức ngân hàng khác, NHPT cũng
huy động nợ bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu và trái phiếu) trên
thị trường vốn. Đây là nguồn huy động rất lớn, có tính ổn định và là lợi thế của các
NHPT, đáp ứng nhu cầu cho vay đầu tư các dự án đầu tư phát triển trung dài hạn.
Lợi thế được nhắc đến của NHPT chính là sự bảo lãnh của Chính phủ và uy tín
của những tổ chức tài chính phát triển này. Huy động từ phát hành trái phiếu đem
lại nguồn vốn lớn, ổn định, thời gian huy động dài và nó là những khoản vay lớn
mà không cần dựa vào tài sản đảm bảo.
+ Trái phiếu không được Chính phủ bảo lãnh:
Ở một số nước có thị trường tài chính phát triển mạnh, ngoài huy động từ
phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, NHPT còn huy động bằng cách phát
hành trái phiếu của chính mình - trái phiếu NHPT. Giá trị và sức hút tạo nên nguồn
thu cho việc phát hành trái phiếu NHPT cũng có tác dụng như phát hành trái phiếu
được Chính phủ bảo lãnh.
- Huy động các quỹ của Nhà nước (tài trợ của Nhà nước cho các dự án phát triển):
Nhà nước thường tài trợ cho dự án phát triển thông qua NHPT để duy trì tính
chất là thể chế tài chính thuộc sở hữu Nhà nước hoặc hoạt động phục vụ chính sách
phát triển của Nhà nước. Các quỹ này thường rất eo hẹp trong điều kiện các nước
nghèo, tuy nhiên lại có vai trò rất quan trọng, tạo ra nguồn vốn hỗn hợp với chi phí
bình quân thấp hơn các NHTM, tạo điều kiện để NHPT cho vay với lãi suất thấp
hơn, hoặc gia tăng khả năng chấp nhận rủi ro. Vì vậy, quy mô của quỹ này quyết
định quy mô cho vay đối với các dự án phát triển. Quy mô nguồn từ Nhà nước phụ
9
10
- Huy động khác:
Ngoài các hình thức huy động kể trên, tại NHPT còn có những khoản huy
động khác với lượng vốn cũng rất đáng kể từ nguồn vốn uỷ thác, nguồn vốn khấu hao
cơ bản những ngành công nghiệp như điện lực, giao thông...
+ Nguồn vốn uỷ thác: NHPT là tổ chức được Chính phủ các quốc gia tín
nhiệm nhất trong việc uỷ thác cho vay, cấp phát lại các nguồn vốn của quốc gia,
nguồn ODA, viện` trợ... Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng cao tại NHPT.
+ Nguồn khấu hao cơ bản: Đây là những nguồn vốn của các ngành công
nghiệp uỷ thác cho ngân hàng phát triển để thanh toán, cấp phát cho các đơn vị trong
ngành của họ theo kế hoạch hàng năm.
* Sử dụng vốn
Các hình thức sử dụng vốn chủ yếu của NHPT cũng ít đa dạng hơn so với hệ
thống NHTM. NHPT thường làm các hoạt động cho vay và cung cấp dịch vụ thanh
toán cho các Chủ đầu tư (CĐT) có dự án mà NHPT tài trợ.
- Cho vay đầu tư trung dài hạn thúc đẩy các hoạt động phát triển trong
nước:
NHPT cấp các khoản tín dụng ưu đãi thực hiện các mục tiêu phát triển cơ sở
hạ tầng, phát triển hệ thống giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, hệ thống nước
sạch….NHPT có thể tài trợ theo dự án được Chính phủ chỉ định hoặc tài trợ theo dự
án do ngân hàng tìm kiếm.
- Tài trợ xuất khẩu:
Kim ngạch xuất khẩu tăng luôn đem tới các ích lợi cho mỗi quốc gia. Thành
tích xuất khẩu là lực đẩy mạnh mẽ, góp phần đẩy nhanh tốc độ hội nhập kinh tế của
mỗi nước. Mỗi quốc gia thường xác định được lợi thế cạnh tranh của mình để gia
nhập vào hệ thống xuất khẩu của thế giới và được Chính phủ đặc biệt khuyến khích.
Tài trợ xuất khẩu có thể thực hiện cho cả nhà nhập khẩu hay nhà xuất khẩu.
- Tài trợ vốn trung và dài hạn cho phát triển:
Nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế, đặc biệt vốn trung và dài hạn là rất lớn.
Nhu cầu về cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng cho phát triển như đường
giao thông, bến cảng, cung cấp điện nước, nghiên cứu cơ bản…Nhu cầu của các
doanh nghiệp về đầu tư mới, trang bị máy móc, mở rộng quy mô sản xuất,…đều cần
đến vốn trung và dài hạn. Nhu cầu này được đáp ứng chủ yếu bằng tiết kiệm của
12
doanh nghiệp, dân cư và thu ngân sách dành cho đầu tư. Tuy nhiên những nguồn
này rất hạn chế, đặc biệt tại nước đang phát triển, nguyên do:
Một là, hệ thống NHTM với nguồn vốn ngắn hạn là chủ yếu, chỉ tập trung
cho vay ngắn hạn (thời hạn dưới 12 tháng), tỷ trọng cho vay trung và dài hạn thấp
(với kỳ hạn thường là 3-7năm). Với kỳ hạn cho vay này thường không phù hợp với
các công trình xây dựng cơ bản, thu hồi vốn chậm, không phù hợp với việc xây
dựng các xí nghiệp mới với quy mô vốn lớn và sử dụng thời gian dài.
Hai là, thị trường vốn trung và dài hạn không có hoặc kém phát triển. Nhu
cầu đầu tư dài hạn thường đáp ứng thông qua thị trường vốn dài hạn, hoặc thu hút
đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cả hai loại thị trường này đều bị hạn chế ở các nước
đang phát triển.
Ba là, chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho phát triển kinh tế bị hạn chế do
ngân sách eo hẹp và các khoản chi tiêu thường xuyên đã cản trở mạnh mẽ sự đầu tư
của Chính phủ cho phát triển kinh tế.
Vì vậy, cần có một loại hình tổ chức tài chính có khả năng thu hút và cung
cấp các nguồn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho các nước đang phát triển.
- Thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội:
Bên cạnh mục tiêu hiệu quả tài chính, phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực
hiện đồng bộ các mục tiêu KT-XH như thay đổi kinh tế, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ
môi trường và các biện pháp tăng cường các khu vực yếu kém về mặt xã hội (doanh
án. Chính phủ sử dụng nguồn vốn tín dụng nhằm làm tăng tính hiệu quả tài chính
của dự án phát triển. Lý do sử dụng nguồn vốn tín dụng trong tài trợ dự án phát
triển là:
NSNN bị giới hạn trong khi phải ưu tiên sử dụng cho các dự án không thể
hoàn lại vốn. Trong khi đó, nhiều dự án phát triển tạo nguồn thu trực tíêp (có khả
năng sinh lời), có khả năng hoàn trả, có thể và cần thiết phải tiếp cận với nguồn tín
dụng. Yêu cầu hoàn trả gốc và lãi buộc CĐT phải tìm kiếm và thực hiện các dự án
có hiệu quả tài chính rõ ràng dù mức sinh lời thấp hoặc rủi ro cao, đồng thời phải
thực hiện các giải pháp tăng tính hiệu quả tài chính của dự án.
Bên cạnh đó thì phương pháp tài trợ bằng cách cho vay có nhiều ưu thế.
Trước hết vốn của Nhà nước thường được cộng thêm vốn đối ứng huy động trên thị
trường, tạo điều kiện mở rộng quy mô tài trợ cho các dự án phát triển. Kết quả của
14
việc hoàn trả là nguồn vốn của Nhà nước lại được tái tạo, tiếp tục một hoạt động tài
trợ mới.
Tài trợ ưu đãi qua chương trình tín dụng của Chính phủ được thực hiện có
hiệu quả thông qua hoạt động của NHPT. Ngoài việc cung cấp các nguồn trung và
dài hạn cho các dự án, ngân hàng còn cung cấp với một số các điều kiện ưu đãi mà
các tổ chức tín dụng hoạt động theo cơ chế thị trường không thể thực hiện được.
Như vậy, NHPT được thành lập nhằm tài trợ các loại hình đầu tư phát triển có hiệu
quả tài chính.
1.2 Hoạt động tín dụng đầu tư tại Ngân hàng phát triển
1.2.1 Khái niệm hoạt động tín dụng đầu tư tại Ngân hàng phát triển
Hoạt động TDĐT của NHPT là hoạt động mà theo đó, NHPT chuyển một
lượng tiền cho khách hàng đầu tư các dự án phát triển thuộc các ngành, các lĩnh vực
được Nhà nước khuyến khích đầu tư với điều kiện hoàn trả gốc và lãi đúng hạn theo
hợp đồng TDĐT.
đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành quan trọng, chương
trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế bền vững, vai trò của TDĐT càng được thể hiện rõ nét:
Thứ nhất, TDĐT góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế đảm bảo sự phát triển
nhanh và bền vững của nền kinh tế. Đây là một công cụ quan trọng để Nhà nước tài
trợ cho dự án đầu tư phát triển nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH và phát triển
các ngành công nghiệp then chốt, do đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế. Mặt khác, việc tập trung nguồn vốn TDĐT cho xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại
và phát triển các ngành công nghiệp then chốt, có khả năng đi tắt đón đầu cũng là
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó góp phần đảm bảo sự phát triển nhanh và
bền vững của nền kinh tế.
Thứ hai, TDĐT là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô các quan hệ cân đối
lớn của nền kinh tế và hướng dẫn hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế, TDĐT
của Nhà nước có tác động rất lớn đến việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế như hỗ trợ đầu
tư các công trình kết cấu hạ tầng và các cơ sở sản xuất; huy động vốn và cho vay
đối với các dự án; đầu tư cho các dự án phục vụ xuất khẩu hoặc đầu tư ra nước
ngoài dưới hình thức hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), góp phần điều chỉnh quan
hệ cân đối xuất khẩu- nhập khẩu, điều tiết tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dùng của dân
16