TRẦN QUANG SÂM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-------------------------------------------------
TRẦN QUANG SÂM
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
QUẢN TRỊ KINH DOANH
CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGUỒN VỐN
NGÂN SÁCH CỦA HUYỆN THANH BA , TỈNH PHÚ THỌ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ THÀNH PHƯƠNG
KHÓA 2011B
HÀ NỘI – 2014
Luận văn thạc sỹ
Trường: ĐHBK Hà Nội
3-39
VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
1.1. HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.1. Khái niệm về hoạt động ĐT và các đặc trưng cơ bản của hoạt động ĐT
1.1.1.1. Khái niệm về hoạt động đầu tư
3-17
3-5
3
1.1.1.2. Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư
4-5
1.1.2. Chi phí và kết quả đầu tư
5-6
1.1.2.1. Chi phí đầu tư
5
1.1.2.2. Kết quả đầu tư
6
1.1.3. Dự án ĐT và phân loại DA ĐT
1.1.3.1. Khái niệm
1.1.3.2. Phân loại dự án đầu tư
Luận văn thạc sỹ
Trường: ĐHBK Hà Nội
1.1.4.6. Vận hành (sử dụng, khai thác …) dự án
1.1.4.7. Đánh giá sau khi thực hiện dự án
1.1.4.8. Kết thúc dự án
16
16-17
17
1.2. ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
17-27
1.2.1. Khái niệm ĐT từ NSNN
17-19
1.2.2. Quan điểm đánh giá hiệu quả ĐT PT từ NSNN
19-20
1.2.2.1. Quan điểm của nhà đầu tư
20-21
1.2.2.2.Quan điểm của Nhà nước
1.3.2.1. Môi trường kinh tế - xã hội
1.3.2.2. Cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước
28
27-28
1.3.2.3. Quan điểm của huyện
28
1.3.2.4. Năng lực quản lý của huyện nói chung và của đội ngũ cán bộ
28
1.3.2.5. Phương pháp quản lý ĐT PT từ NSNN của huyện
28
1.4. NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NSNN
1.4.1. Công tác lập và quản lý quy hoạch
1.4.2. Lập kế hoạch và bố trí vốn ĐT
29-39
29
29-31
1.4.3. Phân cấp quản lý ĐT và xây dựng
31
THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ.
2.1.1. Yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
40
2.1.2. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
40-41
2.1.3. Tài nguyên khoáng sản
41-42
2.1.4. Danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hóa
42-43
2.2. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG THỜI
43-47
GIAN 2005 - 2009
2.2.1. Tăng trưởng kinh tế, thu chi ngân sách và đầu tư
43-44
2.2.2. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế
44-45
2.3.2. Phân tích công tác quản lý ĐT PT từ NSNN của huyện
55-84
2.3.2.1. Công tác lập và quản lý quy hoạch
55-56
2.3.2.2. Lập kế hoạch và bố trí vốn ĐT
56-60
2.3.2.3. Phân cấp quản lý ĐT và xây dựng
60-61
2.3.2.4. Công tác lập và thẩm định DA ĐT
61-65
2.3.2.5. Công tác quản lý đấu thầu
65-67
2.3.2.6. Giám sát, giải ngân và quản lý chất lượng công trình
67-72
Luận văn thạc sỹ
84-85
2.3.3.5. Phương pháp quản lý đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước của huyện
85-86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN
86-87
88-107
LÝ ĐTPT TỪ VỐN NSNN CỦA HUYỆN THANH BA
3.1. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
88
HUYỆN THANH BA GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
3.2. XÁC ĐỊNH CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA HUYỆN
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN
89
89-106
LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
3.3.1 Định hướng chung các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các dự án
89-90
đầu tư của huyện
97-98
Luận văn thạc sỹ
Trường: ĐHBK Hà Nội
3.3.2.8 Tăng cường công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ làm công tác quản lý
98-99
đầu tư, quản lý tài chính đầu tư
3.3.2.9 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra sử dụng vốn đầu tư
99
trong XDCB
3.3.2.10 Thực hiện tốt công tác giám sát cộng đồng và công khai tài chính
99-100
trong đầu tư XDCB
3.3.2.11 Chống thất thoát vốn Nhà nước trong đầu tư và xây dựng
100-104
3.4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
104-105
Xin được cảm ơn lãnh đạo UBND huyện Thanh Ba đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình nghiên cứu do khả năng và trình độ còn hạn chế nên
bản luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định mong nhận được
sự góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo, để đề tài nghiên cứu được
hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Người thực hiện
Trần Quang Sâm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc, được trích dẫn
và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã
được công bố và các trang web…
Tôi xin cam đoan các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ cơ sở lý
luận và quá trình nghiên cứu từ thực tiễn.
Người thực hiện
Trần Quang Sâm
1
Luận văn: Thạc sỹ khoa học
các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định và bền
vững cho một đất nước cũng như trong từng địa phương.
Thời gian vừa qua cùng với cả nước, huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ đã có
nhiều cố gắng và thu được một số kết quả trong lĩnh vực đầu tư phát triển. Việc
quản lý dự án theo điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, thực hiện quy chế đấu thầu
đã có tiến bộ. Nhiều dự án đầu tư đã hoàn thành và từng bước phát huy hiệu quả,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện từng bước đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân. Song đến nay so với mặt bằng chung của cả nước, Thanh Ba là
huyện có điểm xuất phát và tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế thấp. Tổng ngân sách
dành cho đầu tư phát triển rất nhỏ, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn hạn chế. Bởi
vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển luôn thu hút sự quan
tâm của các cấp, các ngành. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, huyện Thanh Ba ,
tỉnh Phú Thọ đang trong tiến trình đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá,
phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng GDP ngày một cao và bền vững, nhằm nhanh
chóng khắc phục tình trạng tụt hậu về kinh tế. Đặt ra nhu cầu đầu tư phát triển rất
lớn, trong khi các nguồn lực nhất là nguồn vốn đầu tư của Nhà nước còn hạn hẹp.
Vì thế, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
phát triển bằng vốn Nhà nước càng là vấn đề cấp thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tế
đó, tôi đã chọn vấn đề: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công
tác quản lý đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách của huyện Thanh Ba ,
tỉnh Phú Thọ” làm đề tài tốt nghiệp. Sinh viên mong mỏi có thể đóng góp một
phần nhỏ bé hỗ trợ cho việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, đồng thời, góp phần thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế của huyện.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
2.1. Đánh giá thực trạng đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách huyện.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ
Trường: ĐHBK Hà Nội
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
1.1 . HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.1. Khái niệm về hoạt động đầu tư và các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư
1.1.1.1. Khái niệm về hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nhằm thu lợi trong tương lai.
Không phân biệt hình thức thực hiện, nguồn gốc của vốn … mọi hoạt động
có các đặc trưng nêu trên đều được coi là hoạt động đầu tư.
Đầu tư trên góc độ nền kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra
các tài sản mới cho nền kinh tế.
Đầu tư phát triển là quá trình thực hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền thành
vốn hiện vật để tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo ra
cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất kinh doanh mới, thông qua việc mua sắm
lắp đặt thiết bị, máy móc xây dựng nhà cửa vật kiến trúc và tiến hành các công việc
có liên quan đến sự phát huy tác dụng của các cơ sở vật chất kỹ thuật do hoạt động
đầu tư phát triển tạo ra.
thực hiện không, có khả năng thu hồi được không, mức sinh lợi là bao nhiêu …).
Nhiều dự án có thể khả thi ở các phương diện khác (kinh tế, xã hội) nhưng không
khả thi về phương diện tài chính và vì thế cũng không thể thực hiện trên thực tế.
- Là hoạt động có tính chất lâu dài.
Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác,
đầu tư luôn luôn là hoạt động có tính chất lâu dài. Do tính lâu dài nên mọi sự trù
liệu đều là dự tính, chịu một xác suất biến đổi nhất định do nhiều yếu tố. Chính điều
này là một trong những vấn đề hệ trọng phải tính đến trong mọi nội dung phân tích,
đánh giá của quá trình thẩm định dự án.
- Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong
tương lai.
Đầu tư trên một phương diện nào đó là một sự hy sinh lợi ích hiện tại để
đánh đổi lấy lợi ích tương lai (vốn để đầu tư không phải là các nguồn lực để dành),
vì vậy luôn luôn có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai. Rõ
ràng rằng, nhà đầu tư mong muốn và chấp nhận đầu tư chỉ trong điều kiện lợi ích
thu được trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện nay họ tạm thời phải hy sinh (không
tiêu dùng hoặc không đầu tư vào nơi khác).
- Là hoạt động mang nặng rủi ro.
Các đặc trưng nói trên đã cho thấy hoạt động đầu tư là một hoạt động chứa
đựng nhiều rủi ro. Bản chất của sự đánh đổi lợi ích và lại thực hiện trong một thời
gian dài không cho phép nhà đầu tư lượng tính hết những thay đổi có thể xảy ra
trong quá trình thực hiện đầu tư so với dự tính. Vì vậy, chấp nhận rủi ro như là bản
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ
- Dự trữ sản xuất (vật tư, vật liệu, nhiên liệu … cho một chu kỳ sản xuất kể
cả dự trữ bảo hiểm cần thiết).
- Dự trữ cho bán thành phẩm, thành phẩm tồn kho.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ
6
Trường: ĐHBK Hà Nội
- Các khoản thuộc quỹ tiền mặt.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm, điều kiện của từng dự án mà có thể hoặc không có;
có nhiều hoặc ít nhu cầu về vốn lưu động ban đầu.
1.1.2.2. Kết quả đầu tư
Kết quả đầu tư là những biểu hiện của mục tiêu đầu tư dưới dạng các lợi ích
cụ thể. Kết quả đầu tư có thể biểu hiện ở các dạng sau:
- Kết quả tài chính: là các lợi ích về tài chính thu nhận được từ dự án biểu
hiện bằng giá trị theo giá thị trường.
- Kết quả kinh tế: là các lợi ích về kinh tế biểu hiện bằng giá trị tính theo giá kinh tế.
- Kết quả xã hội: Kết quả biểu hiện dưới dạng các lợi ích xã hội (trình độ dân
trí, khả năng phòng chống bệnh tật, đảm bảo môi trường sống …). Kết quả xã hội
biểu hiện khá phong phú và thường không thể đo lường một cách rõ ràng.
1.1.3. DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ PHÂN LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.3.1. Khái niệm
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao
- Theo luật chi phối: Dự án được chia ra thành dự án đầu tư theo Luật Đầu
tư; theo Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (FDI) …
- Theo hình thức đầu tư: Tự đầu tư, Liên doanh, Hợp đồng hợp tác kinh
doanh, BOT, BTO, BT …
- Theo các hình thức thực hiện đầu tư: Xây dựng, Mua sắm, Thuê …
- Theo lĩnh vực đầu tư: Dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phát triển cơ sở
hạ tầng, văn hoá xã hội …
- Phân loại theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư
+ Đối với đầu tư trong nước chia làm 4 loại: Dự án quan trong cấp quốc gia
do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân
thành 3 nhóm A, B, C theo quy định về quản lý đầu tư và xây dựng.
+ Đối với dự án đầu tư nước ngoài, gồm 3 loại A, B và loại được phân cấp
cho các địa phương.
1.1.4. CHU KỲ CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.4.1. Khái niệm chu kỳ của dự án đầu tư
Chu kỳ của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua
bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt động.
Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư trải qua 3 giai đoạn:
Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư.
Nội dung các bước công việc của mỗi giai đoạn của các dự án không giống
nhau, tuỳ thuộc vào lĩnh vực đầu tư (sản xuất kinh doanh hay kết cấu hạ tầng, sản
xuất công nghiệp hay nông nghiệp …), vào tính chất tái sản xuất (đầu tư chiều rộng
hay chiều sâu), đầu tư dài hạn hay ngắn hạn, …
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ
Vận hành, khai thác
KHAI
THÁC
, VẬN
HÀNH
Đánh giá sau dự án
Kết thúc dự án
Hình 1.1 Chu kỳ của dự án đầu tư
Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành
tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho nhau nhằm
nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo thuận lợi cho
việc tiến hành nghiên cứu ở các bước kế tiếp.
Trong 3 giai đoạn trên đây, giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và quyết
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ
9
Trường: ĐHBK Hà Nội
định sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc biệt là ở giai đoạn vận hành
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ
10
Trường: ĐHBK Hà Nội
quả đầu tư chính là vòng đời (kinh tế) của dự án, nó gắn với đời sống sản phẩm (do
dự án tạo ra).
1.1.4.2. Nghiên cứu cơ hội đầu tư (Nhận dạng dự án, xác định dự án)
Mục đích của bước nghiên cứu này là xác định một cách nhanh chóng,
nhưng ít tốn kém về các cơ hội đầu tư.
Nội dung của việc nghiên cứu là xem xét các nhu cầu và khả năng cho việc
tiến hành các công cuộc đầu tư, các kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện
đầu tư.
Đây là những ý tưởng ban đầu được hình thành trên cơ sở cảm tính trực quan
của nhà đầu tư hoặc trên cơ sở quy hoạch định hướng của vùng, của khu vực hay
của quốc gia, quy hoạch tổng thể phát triển ngành. Thường giai đoạn này kết thúc
bằng một kế hoạch mang tính chất chỉ đạo về hướng đầu tư và hình thành tổ chức
nghiên cứu.
Cần phân biệt 2 loại cơ hội đầu tư tuỳ thuộc vào phạm vi phát huy tác dụng
của các kết quả đầu tư và phân cấp quản lý đầu tư. Đó là:
+ Cơ hội đầu tư chung cho đất nước, cho địa phương, cho ngành kinh tế - kỹ
thuật hoặc cho một loại tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Chẳng hạn như cơ hội đầu
tư phát triển du lịch của nước ta; cơ hội đầu tư để khai thác dầu mỏ và khí đốt của nước
ta, cơ hội đầu tư trồng và chế biến các sản phẩm từ cà phê của các tỉnh khu vực Tây
Nguyên nước ta …
Đối với loại cơ hội đầu tư này, thường có nhiều dự án. Chẳng hạn các dự án đầu
quốc tế, để có thị trường ở nước ngoài.
- Tình hình cung cấp những mặt hàng hoặc hoạt động dịch vụ trên đây ở
trong nước và trên thế giới còn chỗ trống cho để dự án chiếm lĩnh trong một thời
gian dài. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều tất nhiên.
Tuy nhiên, ở những lĩnh vực hoạt động cung chưa đáp ứng cầu thì sự cạnh tranh
trong tiêu thụ sản phẩm và tiến hành các hoạt động dịch vụ không là vấn đề phải
quan tâm nhiều. Do đó, tìm chỗ trống trên thị trường để tiến hành các hoạt động đầu
tư sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ sản phẩm không gặp phải sự cạnh tranh gay gắt với
các cơ sở khác. Điều này cho phép giảm chi phí tiêu thụ sản phẩm, tăng năng suất
lao động, nhanh chóng thu hồi đủ vốn đã bỏ ra.
Một điều cần lưu ý là do vốn chi cho một công cuộc đầu tư phát triển thường
rất lớn, các thành quả của công cuộc đầu tư cần và phải hoạt động trong một thời
gian dài mới thu hồi đủ vốn đã bỏ ra. Vì vậy, “chỗ trống” trong thị trường tiêu thụ
sản phẩm của dự án đầu tư cũng phải tồn tại trong một thời gian dài đủ để dự án
hoạt động hết đời và chủ đầu tư tiêu thụ hết sản phẩm của dự án.
- Tiềm năng sẵn có cần và có thể khai thác về vốn, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động
để thực hiện dự án của đất nước, của địa phương, của ngành, hoặc của các cơ sở. Những lợi
thế so sánh nếu thực hiện đầu tư so với nước khác, địa phương khác hoặc cơ sở khác.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, có lợi thế so sánh sẽ đảm bảo khả
năng thắng đối thủ cạnh tranh rất nhiều. Vì vậy, khi dự kiến tiến hành các công cuộc
đầu tư sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận, không thể không chú ý đến vấn đề
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ
12
+ Nghiên cứu kỹ thuật
+ Nghiên cứu về tổ chức và nhân sự
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ
13
Trường: ĐHBK Hà Nội
+ Nghiên cứu về tài chính
+ Nghiên cứu lợi ích kinh tế xã hội
Những nội dung này cũng được xem xét ở giai đoạn nghiên cứu khả thi sau này.
Đặc điểm nghiên cứu các vấn đề trên ở giai đoạn này là chưa chi tiết, xem
xét ở trạng thái tĩnh, ở mức trung bình mọi đầu vào, đầu ra, mọi khía cạnh kỹ thuật,
tài chính kinh tế của cơ hội đầu tư và toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư vận hành
kết quả đầu tư. Do đó độ chính xác chưa cao.
Đối với các khoản chi phí nhỏ có thể tính nhanh chóng. Chẳng hạn dự tính vốn
lưu động cho một chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp bằng cách chia tổng doanh thu
bình quân năm cho số chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp trong năm. Đối với chi phí
bảo hiểm, thuế: ước tính theo tỷ lệ phần trăm so với doanh thu, chi phí lắp đặt thiết bị:
ước tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị công trình hoặc thiết bị (các tỷ lệ này khác
nhau đối với các dự án khác nhau). Đối với các chi phí đầu tư lớn như giá trị công trình
xây dựng, giá trị thiết bị và công nghệ … phải tính toán chi tiết hơn.
Sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu tiền khả thi là luận chứng tiền khả thi.
Nội dung của luận chứng tiền khả thi bao gồm các vấn đề sau:
ví dụ trên). Nghiên cứu quy mô kinh tế của dự án là một nội dung trong nghiên cứu
hỗ trợ. Có nghĩa là nghiên cứu các khía cạnh của dự án về mặt kinh tế, tài chính, kỹ
thuật, quản lý, từ đó lựa chọn các quy mô thích hợp nhất để đảm bảo cuối cùng đem
lại hiệu quả kinh tế tài chính cao nhất cho chủ đầu tư và cho đất nước.
Nghiên cứu hỗ trợ vị trí thực hiện dự án đặc biệt quan trọng đối với các dự
án có chi phí vận chuyển đầu vào và đầu ra lớn (kể cả hao hụt tổn thất trong quá
trình vận chuyển). Nhiệm vụ của nghiên cứu hỗ trợ ở đây là nhằm xác định được vị
trí thích hợp nhất về mặt địa lý vừa đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật trong hoạt động,
vừa đảm bảo chi phí vận chuyển là thấp nhất.
Nghiên cứu hỗ trợ để lựa chọn công nghệ, trang thiết bị được tiến hành đối
với các dự án đầu tư có chi phí đầu tư cho công nghệ và trang thiết bị là lớn, mà
công nghệ và trang thiết bị này lại có nhiều nguồn cung cấp với giá cả khác nhau,
các thông số kỹ thuật (công suất, tuổi thọ …), thông số kinh tế (chi phí sản xuất,
chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, giá cả sản phẩm có thể bán được) khác nhau.
Các nghiên cứu hỗ trợ có thể được tiến hành song song với nghiên cứu khả thi, và
cũng có thể tiến hành sau nghiên cứu khả thi tuỳ thuộc thời điểm phát hiện các khía cạnh
cần phải tổ chức nghiên cứu sâu hơn. Chi phí cho nghiên cứu hỗ trợ nằm trong chi phí
nghiên cứu khả thi.
1.1.4.4. Nghiên cứu khả thi
Đây là bước sàng lọc lần cuối để lựa chọn được dự án tối ưu. Ở giai đoạn này phải
khẳng định cơ hội đầu tư có khả thi hay không? Có vững chắc, có hiệu quả hay không?
Ở bước nghiên cứu này, nội dung nghiên cứu cũng tương tự như giai đoạn
nghiên cứu tiền khả thi, nhưng khác nhau ở mức độ chi tiết hơn, chính xác hơn. Mọi
khía cạnh nghiên cứu đều được xem xét ở trạng thái động, tức là có tính đến các yếu
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
giai đoạn. Giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư nhằm loại bỏ ngay những dự kiến rõ
ràng không khả thi mặc dù không cần đi sâu vào chi tiết. Tính không khả thi này
được chứng minh bằng các số liệu thống kê, các tài liệu thông tin kinh tế dễ tìm.
Điều đó giúp cho tiết kiệm được thời giờ, chi phí của các nghiên cứu kế tiếp.
Việc nghiên cứu tiền khả thi nhằm loại bỏ các dự án bấp bênh (về thị trường,
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ
16
Trường: ĐHBK Hà Nội
về kỹ thuật), những dự án mà kinh phí đầu tư quá lớn, mức sinh lời nhỏ, hoặc không
thuộc loại ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hoặc chiến lược phát
triển sản xuất kinh doanh. Nhờ đó các chủ đầu tư có thể loại bỏ hẳn dự án để khỏi
tốn thời gian và kinh phí, hoặc tạm xếp dự án lại chờ cơ hội thuận lợi hơn.
Còn việc nghiên cứu khả thi là xem xét lần cuối cùng nhằm đi đến những kết
luận xác đáng về mọi vấn đề cơ bản của dự án bằng các số liệu đã được tính toán
cẩn thận, chi tiết, các đề án kinh tế - kỹ thuật, các lịch biểu và tiến độ thực hiện dự
án trước khi quyết định đầu tư chính thức.
Như vậy, nghiên cứu khả thi là một trong những công cụ thực hiện kế hoạch kinh
tế của ngành, của địa phương và của cả nước, để biến kế hoạch thành hành động cụ thể
và đem lại lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước, lợi ích tài chính cho nhà đầu tư.
1.1.4.5. Thực hiện dự án
Thực hiện dự án là giai đoạn biến các dự án đầu tư thành hiện thực nhằm đưa