Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại tổng cục dự trữ nhà nước - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-----------------

NGÔ THỊ HẢI YẾN

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỰ TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI
NHÓM HÀNG BẢO ĐẢM AN NINH KINH TẾ, AN SINH XÃ HỘI
TẠI TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hà Nội - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-----------------

NGÔ THỊ HẢI YẾN

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỰ TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI NHÓM
HÀNG BẢO ĐẢM AN NINH KINH TẾ, AN SINH XÃ HỘI
TẠI TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH


Tác giả luận văn


LỜI CAM ĐOAN
Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật, chuyên ngành Quản trị kinh doanh với đề tài
“Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với
nhóm hàng đảm bảo an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước”
được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Nghiến - Viện Kinh tế và
quản lý - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức khoa học, nghiên
cứu khảo sát tình hình thực tiễn.
Các số liệu tổng hợp, phân tích trong Luận văn là hoàn toàn trung thực, các
luận điểm và phương hướng, giải pháp đưa ra xuất phát từ kinh nghiệm và thực tiễn
khoa học. Tôi xin cam đoan các kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn

Ngô Thị Hải Yến

i


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô Khoa Sau Đại Học, Viện Kinh tế
và Quản lý - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã truyền dạy những kiến thức quý
báu trong chương trình cao học; đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn
Văn Nghiến đã tận tình hướng dẫn tôi từ việc xây dựng đề cương đến triển khai thu
thập số liệu, nghiên cứu, hoàn thiện Luận văn này.
Cũng qua đây tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Tổng cục, các Vụ, các
phòng, cùng các đồng nghiệp tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước đã tạo điều kiện thuận

4. Nội dung quản lý hoạt động dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh
kinh tế, an sinh xã hội ............................................................................................... 24
4.1. Dự báo xu hướng phát triển của nền kinh tế, sự biến động của tình hình
chính trị và xã hội ảnh hưởng đến hoạt động DTQG ........................................... 24
4.2. Xây dựng chiến lược phát triển dự trữ quốc gia ............................................ 26
4.3. Lập kế hoạch dự trữ hàng năm ...................................................................... 27
4.4. Tổ chức thực hiện kế hoạch dự trữ đề ra ....................................................... 27
4.5. Tổ chức đánh giá và điều chỉnh chiến lược và kế hoạch cho phù hợp với tình
hình cụ thể. ............................................................................................................ 28
TỔNG KẾT CHƢƠNG I ........................................................................................ 29
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DỰ TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI
NHÓM HÀNG BẢO ĐẢM AN NINH KINH TẾ, AN SINH XÃ HỘI TẠI
TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƢỚC ..................................................................... 30
1. Tổng quan về Tổng cục DTNN ............................................................................. 30
1.1. Giới thiệu về Tổng cục DTNN ...................................................................... 30
1.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng Cục DTNN ........................... 32
1.3. Cơ cấu tổ chức của Tổng cục DTNN ............................................................ 34
1.3.1 Cơ quan Tổng cục Dự trữ Nhà nước ......................................................... 34

iii


1.3.2. Các Cục Dự trữ Nhà nước khu vực:......................................................... 37
1.3.3. Các Chi cục Dự trữ Nhà nước trực thuộc Cục Dự trữ Nhà nước khu vực:37
2. Công tác dự trữ quốc gia đối với lương thực, muối ăn ......................................... 37
2.1. Thực trạng nghiên cứu, dự báo vấn đề lương thực, muối ăn của nền kinh tế 37
2.2. Phân tích thực trạng hoạt động dự trữ đối với mặt hàng lương thực, muối ăn39
2.2.1. Thực trạng nhập – xuất lương thực, muối ăn ........................................... 39
2.2.1.1. Về mặt hàng lương thực DTQG .......................................................... 39
2.2.1.2. Về mặt hàng muối ăn........................................................................... 48

iv


1.2. Các nhân tố tác động đến hoạt động dự trữ quốc gia .................................... 73
1.2.1. Tác động của yếu tố tự nhiên ................................................................... 73
1.2.2. Tác động của yếu tố xã hội ...................................................................... 74
2. Bài học kinh nghiệm ............................................................................................. 75
3. Những giải pháp hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm
an ninh kinh tế, an sinh xã hội................................................................................... 77
3.1. Giải pháp hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với lương thực và muối ăn
ở Tổng cục Dự trữ Nhà nước ............................................................................... 77
3.1.1. Đổi mới phương pháp, cơ chế nhập - xuất lương thực, muối ăn ............. 77
3.1.2. Đổi mới cơ chế giá mua, bán lương thực, muối ăn .................................. 78
3.1.3. Đổi mới việc quy hoạch, bố trí mạng lưới kho dự trữ lương thực ........... 80
3.1.4. Hoàn thiện phương thức quản lý bảo quản lương thực, muối ăn ............. 81
3.1.5. Nâng cao công tác tổ chức, quản lý cán bộ tại các Chi cục Dự trữ nhà
nước trực tiếp bảo quản lương thực, muối ăn .................................................... 83
3.1.6. Các giải pháp đồng bộ khác ..................................................................... 84
3.2. Những kiến nghị ............................................................................................ 85
TỔNG KẾT CHƢƠNG III..................................................................................... 87
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 90
PHỤ LỤC

v


DANH MỤC BẢNG
Bảng 01: Tình hình thực hiện kế hoạch nhập lương thựctừ năm 2011 đến năm 2014
...................................................................................................................................39


: Dự trữ quốc gia

DTNN

: Dự trữ Nhà nước



: Nghị định



: Quyết định

TCN

: Tiêu chuẩn ngành

TT

: Thông tư

TTg

: Thủ tướng

vii



1


hỏa hoạn, dịch bệnh, tham gia bình ổn thị trường khi có tình huống đột biến xẩy
ra, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; hoạt
động dự trữ quốc gia luôn được phát triển và đổi mới, phù hợp với tình hình phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế.
Trong thời gian qua, với sự ưu tiên, quan tâm của Nhà nước, tiềm lực dự trữ
quốc gia đã được tăng cường. Theo đó, nguồn lực dự trữ các mặt hàng lương thực,
thiết bị tìm kiếm cứu nạn nên các địa phương đều được hỗ trợ kịp thời để giải quyết
khó khăn trong đời sống của người dân, giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và của,
cũng như sớm khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm an sinh xã hội. Ngoài ra, nguồn
dự trữ quốc gia về thuốc bảo vệ thực vật, thuốc, vaccine cho gia súc, các loại hạt
giống cũng được xuất cấp kịp thời, giúp địa phương ngăn ngừa sớm, dập dịch hiệu
quả, bảo đảm ổn định sản xuất. Nguồn lực dự trữ quốc gia của lĩnh vực quốc phòng,
công an được tăng cường giúp nâng cao khả năng bảo vệ, góp phần hỗ trợ trong bảo
đảm an ninh kinh tế và những sự kiện chính trị - xã hội lớn của đất nước. Việc sử
dụng dự trữ quốc gia để viện trợ lương thực cho các nước chịu ảnh hưởng nặng nề
do thiên tai đã giúp thắt chặt tình đoàn kết với các quốc gia trên thế giới, nâng cao
vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Để dự trữ quốc gia được đóng góp một phần sức lực góp phần đổi mới, phát
triển nền kinh tế đất nước, đảm bảo được vai trò, nhiệm vụ vốn có của dự trữ quốc
gia trong việc đảm bảo an ninh kinh tế, an sinh xã hội, tác giả chọn đề tài: “Phân
tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với
nhóm hàng đảm bảo an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại Tổng cục Dự trữ Nhà
nước” để nghiên cứu và phát triển thành luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Cơ sở khoa học: những lý luận cơ bản của quản lý nhà nước về dự trữ quốc
gia, hoạt động dự trữ quốc gia.
- Tính thực tiễn: hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng đảm

- Luận văn nghiên cứu hoạt động dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo
đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội trong vòng 10 năm trở lại đây (từ năm 2005 đến
năm 2014).
6. Phƣơng pháp nghiên cứu và đánh giá công tác dự trữ quốc gia
Để đi sâu, làm rõ mục đích nghiên cứu, phân tích trực trạng và những nhân tố
ảnh hưởng đến nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội (cụ thể là các
mặt hàng lương thực và muối ăn) tại Tổng cục DTNN, cần phải có rất nhiều phương

3


pháp nghiên cứu và sự kết hợp hài hòa giữa các phương pháp nghiên cứu đó để từ
đó đưa ra được những đánh giá, kết luận và những giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác dự trữ quốc gia nói chung và công tác dự trữ quốc gia đối với lương thực, muối
ăn nói riêng tại Tổng cục DTNN. Để làm được điều đó, bài luận văn sẽ bám sát sử
dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1. Phƣơng pháp thu thập số liệu
Hình thức thu thập: Hình thức tổ chức thu thập các dữ liệu là báo cáo thống
kê định kỳ.
- Báo cáo thống kê định kỳ: Là hình thức tổ chức thu thập dữ liệu ban đầu
một cách thường xuyên, định kỳ theo hình thức, nội dung, phương pháp và chế độ
báo cáo đã quy định.
Cách thức thực hiện thu thập
Để sử dụng phương pháp này cho việc nghiên cứu luận văn, tác giả đã sử
dụng phương pháp trực tiếp và gián tiếp. Cụ thể:
- Phương pháp trực tiếp: Theo phương pháp này, tác giả phải tự mình thu
thập các số liệu thực tế thông qua ghi chép tài liệu, báo cáo hàng tháng, báo cáo
năm của Tổng cục DTNN. Ưu điểm của cách thức này là tài liệu đảm bảo chính
xác.
- Phương pháp gián tiếp: Theo phương pháp này, tác giả thu thập số liệu theo

nghiên cứu.
Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và bổ
sung cho nhau trong nghiên cứu, và có cơ sở khách quan trong cấu tạo, trong tính
quy luật của bản thân sự vật. Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn
tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ phận ấy,
có ý nghĩa rất quan trọng. Trong nghiên cứu tổng hợp vai trò quan trọng thuộc về
khả năng liên kết các kết quả cụ thể (có lúc ngược nhau) từ sự phân tích, khả năng
trìu tượng.
Với phương pháp này tác giả căn cứ vào số liệu thu thập được trong giai
đoạn từ 2013-2015, tiến hành phân tích đánh giá công tác dự trữ quốc gia đối với
nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh kế, an sinh xã hội.
6.3.Phƣơng pháp so sánh
Trên cơ sở các chỉ tiêu đã được tính toán, tiến hành so sánh các chỉ tiêu có
mối quan hệ tương quan như kết quả thực hiện so với kế hoạch…và các chỉ tiêu
tương ứng. Phương pháp so sánh giúp phát hiện sự khác biệt, những bất cập trong

5


hoạt động dự trữ quốc gia,từ đó thấy được những ưu, khuyết điểm, khó khăn, thuận
lợi làm cơ sở đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối
với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại Tổng cục DTNN.
6.4.Phƣơng pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê, mô tả số tuyệt đối, tương đối để xác định sự biến
động của các hiện tượng kinh tế xã hội trong một thời gian và không gian nhất định.
Các phương pháp thống kê mô tả, thống kê phân tích được sử dụng trong quá trình
nghiên cứu luận văn để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động dự trữ quốc gia đối
với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại Tổng cục DTNN nhằm
phản ánh chân thực và chính xác đối tượng nghiên cứu. Các phương pháp này cũng
giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các số liệu được chính xác, phân tích tài

những tư liệu sản xuất đã nằm trong tay người sản xuất, đang nằm trong quá trình
sản xuất, chuẩn bị bước vào tiêu dùng cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp,bao
gồm nguyên, nhiên, vật liệu và thiết bị máy móc. Muốn cho quá trình sản xuất khỏi
gián đoạn, không kể là dự trữ đó được đổi mới hàng ngày, hoặc đổi mới sau những
kì hạn nhất định, thì tại nơi sản xuất luôn luôn phải có dự trữ nguyên, nhiên, vật
liệu… Đặc điểm của loại dự trữ này là nó nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuât
không bị gián đoạn, thường nằm ở các hộ sản xuất, hộ tiêu dùng và mang tính thụ
động. Cho nên, lượng dự trữ bao nhiêu cho hợp lý đòi hỏi phải tính toán. Dự trữ sản
xuất được chia làm 4 bộ phận: dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm, dự trữ chuẩn
bị, dự trữ thời vụ.
+ Dự trữ thường xuyên: nhằm đảm bảo cho sản xuất liên tục giữa hai kỳ
cung ứng kế tiếp nhau.
+ Dự trữ bảo hiểm: nhằm đảm bảo cho sản xuất liên tục khi có sự vi phạm
hợp đồng mua bán hoặc khi mức tiêu dùng bình quân 1 ngày đêm thực tế cao hơn
so với kế hoạch.
+ Dự trữ chuẩn bị: hàng hoá trước khi đưa vào sử dụng phải qua khâu tiếp
nhận và qua khâu chuẩn bị, những công việc đó đòi hỏi phải có thời gian.
+ Dự trữ thời vụ: muốn cho quá trình sản xuất khỏi bị gián đoạn thì cần phải
có một dự trữ nhất định về những nguyên liệu và bán thành phẩm, đặc biệt là những
sản phẩm do nông nghiệp cung cấp, trong suốt cả khoảng thời gian mà sản phẩm
mới chưa thay thế được sản phẩm cũ.
- Dự trữ lưu thông: là dự trữ những sản phẩm hàng hoá đang nằm trong quá trình

7


chuyển từ nới sản xuất đến nơi tiêu dùng, đó là những sản phẩm của các doanh nghiệp
sản xuất đã sản xuất hoàn chỉnh (hoặc của doanh nghiệp nhập khẩu) đã hoàn thành thủ
tục nhập kho sẵn sàng đưa ra thị trường để bán hoặc hàng hoá đang trên đường vận động
từ nơi sản xuất hoặc đầu mối nhập khẩu đến nơi tiêu dùng cho sản xuất.

lúc nào hết chúng ta cần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm an ninh kinh
tế tài chính vĩ mô. DTQG bằng tiền và hàng hóa đủ mạnh và hợp lý sẽ là mặt quan
trọng của an ninh kinh tế - tài chính quốc gia.
Như vậy, DTQG là yêu cầu khách quan, cần thiết trong mọi thời kỳ cách
mạng của nước ta. DTQG hình thành, tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan
cùng với quá trình vận động của mỗi quốc gia, như sự cần thiết cho quá trình vận động
của một cơ thể sống.
1.2. Tính tất yếu của dự trữ quốc gia
Dự trữ các tư liệu vật chất tồn tại tất yếu của mọi hình thái kinh tế - xã hội.
Dự trữ hàng hóa là điều kiện của lưu thông hàng hóa, DTQG chỉ xuất hiện từ khi có
nhà nước; điều đó được cụ thể hóa như sau:
Thứ nhất, DTQG hình thành do yêu cầu thực hiện chức năng của nhà nước
để quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Khi nhà nước ra đời thì quỹ DTQG cũng
dần hình thành và phát triển. Tuy nhiên, quy mô và hình thức, dự trữ của mỗi quốc
gia không giống nhau, vì nó được hình thành xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội và yêu cầu đảm bảo ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh, tùy
thuộc vào tiềm lực kinh tế của mỗi quốc gia. Lê Nin đã coi sản xuất và dự trữ lương
thực là vận mệnh của toàn bộ cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Nga, Người
đã khẳng định "Chỉ khi nào có được một số lượng dự trữ lương thực đầy đủ thì khi
đó Nhà nước Công nhân mới đứng vững về mặt kinh tế".
Thứ hai, DTQG hình thành nhằm đáp ứng các nhu cầu mà các loại dự trữ
khác trong nền kinh tế không đáp ứng được, trong những trường hợp đột biến do
thiên tai, lũ lụt, hạn hán, đại dịch và tình huống chiến tranh xảy ra..., những đột biến
này xảy ra trên phạm vi rộng, thiệt hại lớn… thực tế không thể có loại hình dự trữ
nào có thể đáp ứng nổi mà chỉ có DTQG.
Lịch sử đã chứng minh quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội,
ở mọi thời kỳ, mọi chế độ xã hội, con người luôn phải đối mặt với những tình
huống bất trắc do thiên nhiên tạo ra, rất nhiều những cơn cuồng phong lũ lụt… tàn
phá một cách ghê gớm mà con người phải hứng chịu. Sau những hậu quả đó thì kéo
theo các dịch bệnh, dẫn đến thiệt hại rất lớn cho nền kinh tế - xã hội.

vẫn bị các thế lực thù địch, phản động gây rối. Như vậy, xét cả một quá trình từ khi
dựng nước và giữ nước đến nay, nước ta liên tục phải đấu tranh dựng nước và giữ
nước chống giặc ngoại xâm.
Ngày nay, nguy cơ đe dọa quân sự vẫn diễn ra tiềm ẩn, những xung đột khu

10


vực vẫn liên tục xảy ra có chiều hướng phức tạp lâu dài. Tình hình ngày càng chứa
đựng nhiều yếu tố bất trắc khó lường. Điều đó đặt ra về mặt chiến lược ngoài những
điều kiện cần thiết khác đảm bảo cho quốc phòng thì việc tăng cường DTQG là một
yếu tố vô cùng quan trọng đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ vững chắc tổ quốc
trong mọi tình huống.
Thứ tư, trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về
kết quả, sản xuất kinh doanh của mình. Khi doanh nghiệp là người tự quyết định
trong sản xuất kinh doanh, tự do cạnh tranh thì không thể ép buộc họ gánh vác trách
nhiệm dự trữ cho toàn xã hội, cho những biến cố xảy ra bất ngờ, thậm chí trong những
tình huống xảy ra như thế họ còn đầu cơ, trục lợi để kinh doanh thu lợi nhuận cao.
Vì vậy, chỉ có nhà nước với trách nhiệm quản lý toàn xã hội phải hình thành
DTQG. Bất luận ở chế độ chính trị - xã hội nào, ở đâu, mọi nhà nước đều phải có
DTQG. Một loại dự trữ nhằm đáp ứng những nhu cầu đột biến mà không có một
loại dự trữ nào có thể đáp ứng được, dự trữ này do nhà nước quyết định, đó là
DTQG.
Thứ năm, DTQG cần thiết như một công cụ hữu hiệu để Chính phủ điều
hành vĩ mô nền kinh tế, xử lý những diễn biến bất lợi của thị trường, nhất là trong
điều kiện hội nhập, toàn cầu kinh tế hiện nay, chứa đựng cả cơ hội lẫn thách thức
đan xen. Vì vậy, DTQG là công cụ để khắc phục có hiệu quả những khuyết tật của
cơ chế thị trường, nhằm phát triển nền KTTT định hướng XHCN có sự quản lý của
Nhà nước hiện nay.
Thứ sáu, DTQG hình thành do yêu cầu ổn định chính trị - xã hội, an ninh quốc phòng, nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cũng như

bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong thành phần kinh tế Nhà nước, là một
trong những công cụ quản lý có tác dụng tốt ở tầm vĩ mô để Đảng và Nhà nước có
thực lực giải quyết những tình huống bất lợi khi xảy ra thiên tai địch họa và điều tiết
thị trường khi có những biến động không tốt.
Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ theo cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, hơn
lúc nào hết chúng ta cần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm an ninh kinh
tế tài chính vĩ mô. DTQG bằng tiền và hàng hóa đủ mạnh và hợp lý sẽ là mặt quan
trọng của an ninh kinh tế - tài chính quốc gia.
Như vậy, DTQG là yêu cầu khách quan, cần thiết trong mọi thời kỳ cách
mạng của nước ta. DTQG hình thành, tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan

12


cùng với quá trình vận động của mỗi quốc gia, như sự cần thiết cho quá trình vận động
của một cơ thể sống.
1.3. Chức năng dự trữ quốc gia trong nền kinh tế thị trƣờng
KTTT là nền kinh tế hàng hóa phát triển. Khi tất cả các quan hệ kinh tế giữa
người ta với nhau được tiền tệ hóa, các yếu tố của sản xuất như đất đai và tài
nguyên, vốn, sức lao động, các sản phẩm và dịch vụ, chất xám và tiền tệ là hàng
hóa, còn giá cả được hình thành bởi sự tác động của cung cầu trên thị trường, thì dự
trữ hàng hóa được coi như loại vốn luân chuyển, là "những hàng hóa" hiện được giữ
lại để sản xuất hay tiêu thụ sau này. Adam Smith (người Anh) - Nhà kinh tế học nổi
tiếng - trong cuốn sách "Của cải và sự giàu có của các quốc gia" xuất bản năm
1776, trong đó nổi bật là lý thuyết "bàn tay vô hình", cho rằng trong nền KTTT,
từng thành viên trong xã hội hoạt động theo đuổi mục đích đều hướng tới lợi ích
riêng. Hoạt động của mỗi thành viên đó do sự dẫn dắt của thị trường. Hoạt động của
toàn xã hội bao gồm hoạt động của các thành viên, do đó toàn xã hội hướng tới lợi
ích chung dưới sự dẫn dắt của thị trường, của một "bàn tay vô hình"để đạt tới lợi ích

trường, cần xóa bỏ cơ sở sinh ra nó, tức là xóa bỏ kinh tế hàng hóa, tổ chức sản xuất
trao đổi tiêu dùng một cách tập trung. Quan điểm này không được các nhà kinh tế
học đồng tình vì đi ngược lại các quy luật tự nhiên vốn có.
- Quan điểm thứ hai, thừa nhận những hạn chế, khuyết tật của KTTT. Vấn đề là
ở chỗ phải tìm ra các biện pháp điều tiết, khắc phục những tiêu cực và phát huy ưu thế
của KTTT. Đi theo hướng này, các nhà kinh tế đánh giá cao vai trò của nhà nước đối
với nền kinh tế. Theo Keynes để khắc phục, hạn chế tiêu cực của thị trường thì Nhà
nước phải can thiệp vào thị trường thông qua công cụ kinh tế. Có thể nói, lý thuyết
Keynes về vai trò kinh tế của Nhà nước như là "Bàn tay hữu hình" tác động vào thị
trường. Vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền KTTT khác về bản chất với sự chỉ huy
tập trung quan liêu trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Trong nền KTTT, Nhà
nước tạo ra môi trường pháp lý, kinh tế, xã hội, tâm lý… để thúc đẩy các doanh nghiệp
cạnh tranh lành mạnh và phát triển theo định hướng của Nhà nước. Đó là mục tiêu
trong chính sách kinh tế vĩ mô mà Chính phủ các nước có nền KTTT đang theo
đuổi.
Ở từng giai đoạn, từng mô hình KTTT, vai trò Nhà nước có sự khác nhau.
Tuy nhiên có hai hình thức mà mọi Nhà nước phải đảm nhiệm: định ra các thể chế
pháp lý kinh tế và xã hội, tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định cho các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được tự do kinh doanh và cạnh tranh phát

14


triển; sử dụng các nguồn lực tập trung của Nhà nước vào các mục tiêu công cộng
như việc xây dựng kết cấu hạ tầng, công trình phúc lợi, dự phòng ngân sách cho
những biến cố, xây dựng một số doanh nghiệp quan trọng theo từng thời kỳ. Những
chức năng này đòi hỏi Nhà nước phải có trong tay những nguồn lực nhất định, trong
đó có một thực lực dự trữ nhất định với tư cách chủ thể quản lý kinh tế vĩ mô.
Đối với một nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN như ở nước ta thì
vai trò của Nhà nước càng trở lên quan trọng. Trong quá trình chuyển từ cơ chế kế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status