trờng đại học ngoại thơng hà nội
Khoa Kinh tế ngoại thơng
Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài:
Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
tại ngân hàng ngoại thơng Việt Nam
Giáo viên hớng dẫn
: GS. Đinh Xuân Trình
Sinh viên thực hiện
Lớp
: Giang thị thu trang
: A5 - K38B - KTNT
Hà Nội 2003
lời nói đầu
I. Tên đề tài:
Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng
Ngoại thơng Việt nam.
II. Lí do chọn đề tài:
Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra hết sức sôi
hiệu quả quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng
Ngoại thơng.
IV. Phơng pháp, phạm vi nghiên cứu:
Khoá luận sử dụng phơng pháp nghiên cứu tài liệu, phơng pháp thống
kê, tổng hợp dựa trên các số liệu thu thập từ Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại
thơng Việt nam, vụ quản lý Ngoại hối; cũng nh phơng pháp phỏng vấn trực
tiếp nhằm đem lại hiệu quả tích cực cho đề tài.
VI.Cấu trúc của đề tài:
Ngoài lời nói đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chơng sau:
-
Chơng I: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro trong hoạt
động kinh doang ngoại hối.
-
Chơng II: Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại
hối tại ngân hàng Ngoại thơng Việt nam.
-
Chơng III: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro trong
hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Ngoại thơng Việt nam.
Mục lục
3.1.2. Mô hình quản lý rủi ro phân tán.................................18
3.2. Các biện pháp quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại
hối.............................................................................................18
3.2.1. Quản lý rủi ro tài chính...............................................18
a. Quản lý rủi ro hối đoái...........................................18
b. Quản lý rủi ro tỷ lệ SWAP.......................................24
3.2.2. Quản lý rủi ro tín dụng................................................27
3.2.3. Quản lý rủi ro về khả năng thanh toán.......................28
3.2.4. Quản lý rủi ro hoạt động.............................................30
Chơng II. Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động kinh
doanh ngoại hối tại Ngân hàng Ngoại thơng Việt
Nam......................................................................................32
I. Tình hình kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam. 32
1. Giới thiệu về Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam...........................32
1.1. Tóm tắt tình hình hoạt động kinh doanh.................................33
1.2. Các dịch vụ................................................................................35
1.3. Tình hình huy động vốn............................................................36
2. Tình hình kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Ngoại thơng Việt
Nam..................................................................................................38
2.1. Tỷ giá mua bán ngoại tệ...........................................................38
2.2. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ................................................40
2.2.1. Khách hàng của Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam
trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ..........................40
2.2.2. Các mảng kinh doanh..................................................43
2.2.3. Diễn biến tình hình kinh doanh ngoại hối trong các
năm gần đây................................................................44
II. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Ngoại
2. Đối với thị trờng nớc ngoài...............................................................74
II. Các giải pháp nhằm nâng cao quản lý rủi ro trong hoạt động kinh
doanh ngoại hối tại Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam................75
1. Các giải pháp đối với Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam.............75
1.1. Nhóm giải pháp về mặt mô hình quản lý rủi ro.......................75
1.2. Nhóm giải pháp về mặt thông tin.............................................76
1.3. Nhóm giải pháp về mặt kỹ thuật nghiệp vụ.............................76
1.3.1. Xây dựng quy trình kinh doanh ngoại hối bài bản, cho
phép quản lý rủi ro trong các giao dịch kinh doanh
ngoại tệ........................................................................76
1.3.2. Xây dựng hệ thống các hạn mức và các báo cáo phân
tích ngoại hối nhằm hạn chế rủi ro tỷ giá...................77
1.3.3. Xây dựng hệ thống các báo cáo ..................................78
1.4. Thờng xuyên đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ tinh thông và
có đạo đức nghề nghiệp...........................................................79
2. Các giải pháp vĩ mô đối với Ngân hàng Nhà nớc...........................80
2.1. Tiếp tục hoàn thiện môi trờng pháp lý và cơ chế tỷ giá linh
hoạt có sự điều chỉnh của Nhà nớc.........................................80
2.2. Khẩn trơng tiếp cận và triển khai các nghiệp vụ mới trong giao
dịch hối đoái theo thông lệ quốc tế ........................................83
Kết luận..................................................................................................85
Danh mục tài liệu tham khảo.........................................................86
chơng i:
những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý rủi ro
trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
ngoại hối có thể đợc tiến hành trực tiếp với nhau.
Các giao dịch chủ yếu trên thị trờng ngoại hối bao gồm: Giao dịch
giao ngay( Spot transaction), Giao dịch kỳ hạn (Forward transaction), Giao
dịch hoán đổi (Swap transaction) và Giao dịch quyền chọn (Option
transaction).
Trong phạm vi luận văn này, ngời viết sẽ chủ yếu xem xét ngoại hối dới khía cạnh là ngoại tệ kinh doanh và bốn hoạt động chủ yếu của một ngân
hàng trên thị trờng ngoại hối bao gồm:
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán các
hợp đồng ngoại thơng.
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho chính mình) nhằm
mục đích thực hiện đầu t nớc ngoài trực tiếp và gián tiếp.
- Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng (hoặc cho chính mình) nhằm
điều chỉnh trạng thái ngoại hối của đồng tiền đó để giảm rủi ro
hối đoái.
- Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ trong việc dự tính sự biến
động của tỷ giá.
Trong bốn hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên, hai hoạt động đầu ngân
hàng thực hiện cho khách hàng để thu phí, do đó ngân hàng không phải hứng
chịu rủi ro hối đoái. Hoạt động thứ ba, ngân hàng tiến hành nghiệp vụ phòng
ngừa rủi ro hối đoái, tức là làm giảm rủi ro hối đoái. Nh vậy rủi ro trong hoạt
động kinh doanh ngoại hối ngoài các rủi ro thuần tuý do hoạt động kinh
doanh đem lại thì có liên quan trực tiếp đến hoạt động thứ t, tức là liên quan
trực tiếp đến trạng thái hối đoái mở đối với những hoạt động mua bán mang
tính đầu cơ.
2. Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
Rủi ro là một khái niệm chỉ khả năng xảy ra những biến cố mang lại
kết quả xấu khi tiến hành một công việc nào đó. Rủi ro gồm hai loại chính là
-
Rủi ro tín dụng
-
Rủi ro về khả năng thanh toán
-
Rủi ro hoạt động
3.1. Rủi to tài chính
Rủi ro tài chính bao gồm rủi ro tỷ giá hối đoái và rủi ro lãi suất. Đây
chính là các rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh ngoại hối.
3.1.1. Rủi ro tỷ giá hối đoái
Rủi ro tỷ giá là loại rủi do gây nên bởi sự biến động mạnh của tỷ giá
dẫn đến thua lỗ trong giao dịch. Nói một cách khác, rủi ro tỷ giá là rủi ro
thua lỗ từ trạng thái không cân bằng không bảo hiểm (trạng thái mở) do sự
biến động tỷ giá xác định.
Đây là loại rủi ro có ý nghĩa rộng lớn trong nghiệp vụ kinh doanh
ngoại tệ. Trờng hợp thờng xảy ra nhất đối với loại rủi ro này là vịêc duy trì
một trạng thái hối đoái mở của một đồng tiền nhất định. Nếu nh trạng thái
hối đoái mở là dơng (Long position) đối với một loại ngoại tệ hay tài sản Có
(Asset) lớn hơn tài sản Nợ (Liabilities) mà ngoại tệ đó bị giảm gía thì chắc
chắn sẽ bị rủi ro. Mặt khác nếu đồng tiền đó lên giá, ngời quản lý ngân quỹ
đang d thừa đồng tiền đó sẽ thu đợc lợi nhuận từ việc chuyển đổi bằng tỉ giá
Tình hình d thừa hay thiếu hụt của cán cân thanh toán quốc tế.
Nếu cán cân thanh toán d thừa thì có thể dẫn đến khả năng cung ngoại hối
lớn hơn cầu ngoại hối và ngợc lại.
-
Thu nhập thực tế tức mức độ GNP thực tế tăng lên sẽ làm tăng
nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu, do đó làm cho nhu cầu ngoại hối
để thanh toán hàng nhập khẩu tăng lên.
-
Những nhu cầu ngoại hối bất thờng tăng lên do thiên tai, bão lụt,
hạn hán, mất mùa, chiến tranh...cũng nh do buôn lậu hàng nhập khẩu gây ra.
Bên cạnh quan hệ cung cầu ngoại hối làm cho tỷ giá hối đoái biến
động còn có các nhân tố khác nh mức chênh lệch lạm phát giữa hai nớc và
mức chênh lệch lãi suất giữa các nớc có đồng tiền liên quan.
Xem xét mức chênh lệch lạm phát của hai nớc ảnh hởng đến sự biến
động của tỷ giá. Giả sử, trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất lao
động của hai nớc nh nhau, quản lý hối đoái tự do. Một loại hàng ở Mỹ có giá
trị 1 USD và ở Nhật là 100 JPY, có nghĩa là ngang giá sức mua đối nội của
hai đồng tiền này là USD/JPY = 100. Nếu ở Mỹ có mức lạm phát là 5% và ở
Nhật là 10% thì hàng hoá ở Mỹ tăng lên là 1,05 USD và ở Nhật là 110 JPY
dó đó ngang sức mua đối nội sẽ là 1,05 USD= 110 JPY
Hay là USD/JPY= 104,761
Mức chênh lệch tỷ giá là 4,761 hay gần tơng tự nh mức chênh lệch lạm
phát 5%.
Mức chênh lệch về lãi suất giữa các nớc cũng ảnh hởng đến sự biến
thể gặp rủi ro lãi suất nếu nh thời điểm đáo hạn của các hợp đồng mua và bán
không khớp nhau. Sở dĩ nh vậy là vì rủi ro đối với trạng thái kỳ hạn nằm ở lãi
suất của các ngoại tệ có mặt trong giao dịch mua bán ngoại tệ đó. Nếu trớc
thời điểm đáo hạn của giao dịch có sự biến động về lãi suất của một trong hai
đồng tiền giao dịch mà nằm ngoài mong muốn thì sẽ xuất hiện rủi ro lãi suất.
Giao dịch SWAP là giao dịch gồm đồng thời hai giao dịch mua và bán
của cùng một số lợng đồng tiền này với một đồng tiền khác (chỉ có 2 đồng
tiền đợc thực hiện trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao
dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch đợc xác định tại thời điểm ký kết
hợp đồng giao dịch hoán đổi. Do đó giao dịch SWAP không có tác động đến
trạng thái hối đoái mở. Vì vậy lãi hay lỗ trong trạng thái SWAP chỉ phụ
thuộc duy nhất vào biến động lãi suất của hai đồng tiền có liên quan.
Rủi ro tỷ lệ SWAP trở nên quan trọng nếu trạng thái hối đoái thời hạn
với khối lợng kinh doanh đã thoả thuận xong nhng thời hạn thanh toán thì cha chấm dứt. Ví dụ: một ngân hàng mua 5 triệu GBP theo 3 tháng và bán theo
thời hạn 4 tháng thì hai khoản này về giá trị là bằng nhau nhng thời hạn thì
không đồng nhất. Điều đó có nghĩa là ở đây không có rủi ro về tỷ giá, nhng
lại có rủi ro về tỷ lệ SWAP, tức là rủi ro sẽ nảy sinh vào cuối tháng thứ 3, nếu
trạng thái hối đoái này đợc hình thành qua thực hiện một nghiệp vụ SWAP
mà tỷ lệ SWAP lại phát triển không thuận lợi.
Rủi ro này có ý nghĩa : một mặt trong nghiệp vụ Arbitrage về tỷ giá
thời hạn và mặt khác là trong nghiệp vụ khách hàng. Trong giao lu với khách
hàng, các ngân hàng phải ký kết các nghiệp vụ thời hạn, với thời hạn vòng,
tức là thời hạn mà lúc đó thị trờng không hoạt động. Sau đó các ngân hàng ký
thực hiện nghiệp vụ đối ứng với thời hạn tiêp theo trong thị trờng và khắc
phục những bất đồng về thời điểm, bằng cách ký hợp đồng SWAP ngắn hạn
và luân chuyển (ví dụ SWAP theo ngày).
Khi hạch toán các ngân hàng thờng căn cứ vào tình hình lúc ký kết
nghiệp vụ thời hạn. Theo nguyên tắc các ngân hàng cũng dự tính một khoảng
Bán 5 triệu GBP giao ngay với tỷ giá GBP/SGD là 2,8 = 14.000.000 SGD
Mua 5 triệu GBP thời hạn 1 tháng với tỷ giá là 2,7977:=13.988.500 SGD
Ngân hàng chịu lỗ một khoản 21.000 SGD (cha tính đến phần lãi suất duơng
từ doanh thu tiền mặt phát sinh do từ cuối tháng thứ 3 ngân hàng thu đợc
14.000.000 SGD từ nghiệp vụ SWAP gia hạn, nhng chỉ phải trả có
13.965.500 SGD. Nếu tỷ giá GBP/SGD giảm thì doanh lợi về lãi suất sẽ trở
thành thiệt hại về lãi suất).
So sánh với rủi ro tỷ về tỷ giá, không nghi ngờ rằng, rủi ro về tỷ lệ lãi
suất ít có ý nghĩa hơn, nhng với khối lợng kinh doanh lớn cũng tạo ra điều
đáng quan tâm. Điều này ít có giá trị cho nghiệp vụ giao dịch với khách
hàng, vì ngay từ đầu nghiệp vụ này bị giới hạn bởi số lợng khách hàng và
một phần hoạt động chuyển đổi đối ứng đã đợc các nhà xuất nhập khẩu tự
cân đối với nhau. Trong nghiệp vụ với khách hàng, khối lợng lợi nhuận tạo ra
đã tạo thành khối lợng đảm bảo. Ngợc lại trong trờng hợp Arbitrage tỷ giá
hối đoái kỳ hạn không thể có đợc một giới hạn rủi ro tự nhiên. Nếu xét về
khả năng ký kết các hợp đồng nghiệp vụ Arbitrage thời hạn có phạm vi rộng
lớn. Tơng tự nh vậy, ở đây sẽ xuất hiện nguy cơ làm thất thoát lớn.
Tóm lại, rủi ro lãi suất hay gọi là rủi ro tỷ lệ SWAP chính là rủi ro về
tỷ lệ lãi suất, tuy nhiên nó khác rủi ro lãi suất trên hoạt động thị trờng tiền tệ
ở chỗ trên thị trờng tiền tệ chúng ta chỉ quan tâm đến sự biến động lãi suất
của một đồng tiền. Nhng khi hoạt động trên thị trờng hối đoái qua giao dịch
SWAP cần phải xem xét thay đổi lãi suất của cả hai đồng tiền.
3.2 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng (rủi ro độ tin cậy) là tình trạng khách hàng hay đối tác
của ngân hàng cố tình hoặc rơi vào tình trạng bất khả kháng, không có khả
năng thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng giao dịch mua bán ngoại
tệ vào thời điểm phát sinh các nghĩa vụ cam kết đó.
Trong rủi ro tín dụng, có rủi ro đối tác và rủi ro do các nguyên nhân
không thực hiện đợc những hợp đồng bán USD đã ký với ngân hàng Herstatt
mặc dù họ đã nhận đồng DEM và lợng ngoại tệ này bây giờ chỉ đợc xem là
những món nợ phải đòi đối với tài sản thanh lý còn lại.
3.3 Rủi ro về khả năng thanh toán
Rủi ro về khả năng thanh toán trên thị trờng hối đoái cũng xuất hiện
trong trờng hợp không có khả năng vó đợc vốn bằng đồng tiền nh dự định.
Ví dụ: một giao dịch SWAP mua SGD kỳ hạn 3 tháng bằng đồng USD
đồng thời bán SGD lấy USD kỳ hạn 1 tháng. Nếu ngân hàng trung ơng
Singapore quyết định dừng mọi giao dịch hối đoái của mình vì lý do thị trờng
bất ổn định, chúng ta sẽ phải mua SGD trên thị trờng khác, những ngời bán
SGD này không thể giao dịch với khối lợng lớn, chẳng hạn 1000 triệu SGD
hoặc hơn, thì khó có thể thực hiện đợc giao dịch nh đã định. Trong trờng hợp
giao dịch không đợc thực hiện nh đã định, điều đó có nghĩa gần nh chắc chắn
xảy ra tình trạng phá sản đối với một số tổ chức tài chính.
3.4 Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động thờng thể hiện dới ba hình thức chính là rủi ro trong
việc dùng ngời, rủi ro vận hành và rủi ro tổ chức.
3.4.1.Rủi ro trong việc dùng ngời:
Là loại rủi ro xuất phát một cách chủ quan từ các nhân viên tham gia
vào quá trình thực hiện giao dịch kinh doanh ngoại hối, nguyên nhân chính là
còn hạn chế về trình độ, mức độ tinh thông nghiệp vụ cũng nh kinh nghiệm
còn ít ỏi.
Chẳng hạn một ngời kinh doanh quên không lập chứng từ mua bán,
sau khi thực hiện hợp đồng thì khoản kinh doanh trong bảng cân đối của
ngân hàng sẽ không thống nhất với thực trạng giao dịch, và hậu quả là sẽ
phát sinh thiệt hại khi thanh toán sau này thông qua việc rút tiền vợt quá số
tiền thấu chi (overdraft) qui định trên tài khoản của khách hàng nớc ngoài.
II. Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối.
1. Khái niệm quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
Định nghĩa về quản lý ngoại hối tự thân nó đã là một đề tài lớn. Tuỳ
theo cách hiểu và trong từng lĩnh vực khác nhau mà ngời ta có những định
nghĩa khác nhau về quản lý rủi ro.
ở đây, ta xem xét quản lý rủi ro dới khía cạnh là việc nhận định và áp
dụng các biện pháp dự báo và phòng ngừa rủi ro dới khía cạnh là việc nhận
định và áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro cần thiết, đồng thời có khả
năng kiểm soát và quản trị đợc những rủi ro này nếu nh chúng xảy ra, nhằm
mục đích tránh và hạn chế tối đa tổn thất thiệt thại, hoặc chấp nhận rủi ro ở
mức nhất định có thể cho phép.
2. Vì sao quản lý rủi ro có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh
doanh ngoại hối
Trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, có thể nói không thể tránh khỏi
mọi rủi ro. Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng luôn có mối quan hệ cùng chiều.
Peter Clairin, chuyên gia trong lĩnh vực quản lý rủi ro của ngân hàng Bank of
NewYork đã đúc kết lại thành châm ngôn trong kinh doanh ngoại hối nh sau:
More profit, more risks (Lợi nhuận càng nhiều thì rủi ro sẽ càng lớn). Tuy
nhiên, rủi ro có thể đợc giảm thiểu nếu nh việc quản lý rủi ro trong kinh
doanh ngoại hối đợc thực hiện tốt.
Không có việc quản lý rủi ro thì giống nh việc ngời đi trong đêm
không trông thấy đờng, không biết khi nào mình sẽ bị vấp ngã và liệu việc
vấp ngã sẽ ảnh hởng đến sức khoẻ nh thế nào, có bị gãy chân hay chỉ bong
gân mà thôi? Trong lịch sử, sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng Baring chính
là một minh chứng cụ thế cho vai trò to lớn của quản lý rủi ro trong hoạt
việc quản ly rủi ro cũng sẽ đợc tập trung vào một đầu mối, hạn chế, phân tán
rủi ro tại các chi nhánh đợc phép cùng kinh doanh ngoại hối.
3.1.2. Mô hình quản lý rủi ro phân tán
Đây là mô hình quản lý rủi ro đợc thực hiện trên cơ sở hoạt động kinh
doanh ngoại hối tiến hành tại nhiều chi nhánh trong cùng một hệ thống ngân
hàng tại một hay nhiều quốc gia. Khi đó, do có nhiều chi nhánh cùng đợc
phép hoạt động kinh doanh ngoại hối trực tiếp nên hoạt động quản lý rủi ro
sẽ đợc thực hiện trên tại tất cả các chi nhánh này. Hơn nữa, rủi ro trong hoạt
động ngoại hối tại các chi nhánh không đợc tập trung quản lý, không đợc
tách bạch giữa các hoạt động kinh doanh ngoại hối và hoạt động quản lý rủi
ro, không có sự phân chia đầy đủ thành các bộ phận độc lập bao gồm bộ phần
giao dịch trực tiếp, bộ phần thực hiện giao dịch, bộ phận kiểm soát và quản lý
rủi ro.
3.2 Các biện pháp quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối
3.2.1. Quản lý rủi ro tài chính
a. Quản lý rủi ro tỷ giá hối đoái
Giới hạn trạng thái hối đoái
Trạng thái ngoại hối của một ngoại tệ là chênh lệch giữa tổng tài sản
Có và tổng tài sản Nợ của một ngoại tệ. Trạng thái ngoại tệ cuối ngày đợc
tính trên cơ sở trạng thái ngoại tệ ngày hôm trớc và chên lệch giữa doanh số
mua và doanh số bán phát sinh trong ngày của ngoại tệ đó, bao gồm cả giao
dịch Spot và giao dịch Foward.
Nhằm tránh thất thoát quá mức do biến động tỷ giá, từ lâu các ngân
hàng đã áp dụng mức hình thành các trạng thái hối đoái cho các phòng kinh
doanh ngoại hối. Mức độ của các giới hạn này là phụ thuộc vào số hoạt động
của ngân hàng, khả năng chấp nhận rủi ro và lòng tin vào khả năng kinh
là giới hạn tổng trạng thái ngoại hối. Tổng trạng thái ngoại hối của tổ chức
tín dụng là trạng thái ngoại hối (dơng hoặc âm) cao nhất của các tiền tệ. Ví
dụ, một nhà giao dịch có thể có hạn mức cho mỗi đồng tiền tơng đơng 1 triệu
USD cho 10 đồng tiền riêng biệt, cùng với hạn mức tổng hợp là 6 triệu USD
cho tổng các trạng thái của 10 đồng tiền trên. Nếu không có hạn mức tổng
hợp, nhà giao dịch có thể có một trạng thái mở tổng hợp là 10 triệu USD
trong trờng hợp không cho phép nhà giao dịch đạt đến hạn mức trạng thái mở
của cả 10 đồng tiền và hạn chế trạng thái mở tổng cộng của nhà giao dịch ở
mức 6 triệu USD. Điều quan trọng là đặt ra một hạn mức trạng thái mở của
đồng bản tệ và đa nó vào trong hạn mức tổng hợp. Nếu không thì các nhà
giao dịch có thể mua hay bán theo hạn mức tối đa của tất cả các ngoại tệ của
họ bằng đồng bản tệ. Dĩ nhiên, điều này sẽ tạo ra một trạng thái thực d mua
hay d bán rất lớn của đồng bản tệ, mà cũng nh các đồng tiền khác nó có thể
chịu sự phá giá hay tăng giá.
Cân bằng trạng thái ngoại hối
Tại phòng giao dịch ngoại hối, các ngân hàng thờng xuyên xuất hiện
các trạng thái hối đoái do hàng ngày luôn có các luồng luân chuyển vốn. Nh
đã nói ở phần trên để hạn chế bớt rủi ro hối đoái ngời ta đã đa ra các hạn mức
của trạng thái hối đoái, khi vợt qúa hạn mức này thì đòi hỏi cần phải cân
bằng trạng thái hối đoái d thừa hay thiếu hụt này.
Để xem xét vấn đề này chúng ta lấy ví dụ một ngân hàng ở Anh với
giả thiết ban đầu cha có giao dịch nào đợc thực hiện. Giả thiết rằng với thời
điểm ban đầu của một khách hàng, ngân hàng mua SGD bằng GBP kỳ hạn 1
tháng theo tỷ giá 2,3930 GBP/SGD. Giao dịch này thực hiện ở Anh vào cuối
buổi chiều khi thị trờng hối đoái đã ngừng làm việc mà lúc này các thị trờng
Singapore đã đóng cửa. Do đó, ngân hàng đã đa ra tỷ giá thấp hơn 10 điểm
(bps) so với tỷ giá hiện hành trên thị trờng 2,3940 GBP/SGD. Ngân hàng