A- PHẦN MỞ ĐẦU
I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng khi mới thành lập 1930 đã đề ra chính sách
“Đoàn kết dân tộc trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng và tương trợ lẫn nhau để dành
độc lập và hạnh phúc chung cho các dân tộc”. Chính cương lĩnh của Đảng năm
1951 chi rõ: “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đêu được bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ,… Cải thiện đời sống cho các dân tộc ít người, giúp đỡ họ
tiến bộ về mọi mặt, bảo đảm để họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ
trong việc giáo dục ở các địa phương”.
Việt Nam là một quốc gia dân tộc, đa ngôn ngữ, đa văn hóa, tức ngôn ngữ
chính thức, ngôn ngữ giáo dục, văn hóa tất cả các dân tộc, thành phần của quốc
gia. Cho nên, phổ biến rộng rãi tiếng Việt trong các dân tộc Việt Nam là hết sức
cần thiết. Sự gắn kết của cộng đồng được tạo dựng trên cơ sở sự gắn kết về văn
hóa và ngôn ngữ. Khoảng cách về ngôn ngữ và văn hóa là một ào cản lớn cho
khối đại đoàn kết các dân tộc anh em. Vì vậy thông thạo tiếng nói, chữ viết chung
là cơ sở các cá nhân trong cộng đồng gắn bó và đoàn kết chặt chẽ thành một khối
thống nhất. Xuất phát từ bối cảnh đất nước hiện nay, trên cươ sở đường lối, chủ
trương của Đảng và Nhà nước vè vấn đề ngôn ngữ dân tộc, hơn lúc nào hết dạy
tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là vô cùng bức thiết và quan trọng.
“ Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nắm vững các kỹ năng nói,
đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết cần thiết về thiên nhiên, xã hội và con
người; có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính
trọng thầy giáo, cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi; giúp đỡ bạn bè, các em nhỏ;
yêu lao động, có kỷ luật; có nếp sống văn hoá; có thói quen rèn luyện thân thể và
giữ gìn vệ sinh; yêu quê hương đất nước, yêu hoà bình.
Giáo dục tiểu học được thực hiện bằng tiếng Việt.
Các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình
cùng với Tiếng Việt để thực hiện giáo dục Tiểu học”.
( Trích điều 3,4 chương I của Luật phổ cập giáo dục Tiểu học 1991)
Ở Tiểu học, tất cả các môn học đều cần thiết nhưng môn Tiếng Việt là một
môn học rất quan trọng. Môn Tiếng Việt góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu đào
2- Nhiệm vụ của đề tài
Để đề tài: “ Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy
Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số” có hiệu quả khi áp dụng nên nhiệm vụ
của đề tài là:
- Tìm hiểu thực trạng chất lượng học Tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu
số trường tiểu học ..., huyện ....
- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến chất lượng môn Tiếng việt còn thấp ở
trường TH ....
- Từ những kết quả nghiên cứu, phát hiện được những nguyên nhân, những
yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng môn Tiếng Việt của học sinh trường ....
2
- Đề xuất một số biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn kỹ năng
đọc và kỹ năng viết cho học sinh tiểu học ... huyện ....
III- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Là phụ trách chuyên môn của một trường Tiểu học vùng đồng bào dân tộc
thiểu số (dân tộc Ê Đê) nên tôi nghiên cứu: “ Một số biện pháp giúp giáo viên
nâng cao chất lượng giảng dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số” với đối
tượng là tất cả các em học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 và những thầy cô giáo trực tiếp
giảng dạy tại trường Tiểu học ... huyện ....
IV– GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đề tài này tôi nghiên cứu thực trạng chất lượng giảng dạy Tiếng Việt cho
học sinh dân tộc thiểu số. Những nguyên nhân dẫn dến thực trạng này. Những đề
xuất nâng cao hiệu quả chất lượng Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, cụ
thể là đồng bào dân tộc tại chỗ Ê Đê, của Trường Tiểu học ... nơi tôi đang công
tác.
V - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
* Phương pháp điều tra ( phỏng vấn): Dự giờ, phóng vấn giáo viên chủ nhiệm
nhằm tìm hiểu thực trạng dạy và học môn Tiếng Việt.
- Học sinh học bằng tư duy trực tiếp thông qua sự tiếp cận ngôn ngữ tự
nhiên – từ sự sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày một cách tự phát đến việc
nắm ngôn ngữ một cách hệ thống qua các bài học, do đó học sinh có tâm lí tự tin
trong học tập;
- Bằng hiểu biết qua nghe – nói, khi học đọc và viết, học sinh có thể dễ
dàng nhận ra mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết; giữa âm thanh và ngữ nghĩa,
ngữ pháp, do đó các em có thể học đọc, học viết dễ dàng;
- Học sinh nhận được những tác động tích cực từ gia đình, cộng đồng, các
phương tiện truyền thông…
* Ngôn ngữ học tập của học sinh dân tộc thiểu số là ngôn ngữ thứ hai. Học
sinh dân tộc thiểu số đến trường, học tập bằng tiếng Việt – một ngôn ngữ mới và
học bằng tiếng Việt. So với học sinh Kinh, học sinh dân tộc thiểu số sử dụng
tiếng Việt – ngôn ngữ học tập một cách khó khăn, vì:
- Học sinh chưa biết hoặc biết rất ít tiếng Việt qua nghe – nói ở lớp mẫu giáo
và lớp chuẩn bị tiếng Việt;
- Học sinh dân tộc thiểu số học Tiếng Việt nói chung bằng tư duy gián tiếp,
thông qua sự tiếp cận áp đặt – từ việc nắm ngôn ngữ có chủ định (qua bài học)
đến việc vận dụng nó trong sinh hoạt hằng ngày; do đó học sinh thường không
thật tự tin. Điều này có thể khắc phục tốt nếu như học sinh dân tộc thiểu số được
học nghe- nói nhiều hơn trước khi vào lớp 1 và tốt hơn nữa là có một giai đoạn
học song ngữ
- Học sinh dân tộc thiểu số không hình thành ngay được mối liên hệ giữa âm
thanh và chữ viết, giữa âm thanh và ngữ nghĩa – ngữ pháp, do đó nếu không có
thêm thời gian luyện tập hoạt động trải nghiệm và thực hành các hoạt động hỗ
4
trợ, học sinh sẽ không nắm được kiến thức và kĩ năng các bài học, dẫn đến chán
học, bỏ học;
- Học sinh ít nhận được tác động từ môi trường gia đình, cộng đồng; hơn
trò, tận tụy với công việc, luôn gần gũi với học sinh.
- Đa số học sinh đóng trên địa bàn thôn, xã, nên đi học khá thuận lợi.
5
Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi vẫn còn một số khó khăn sau:
- Tổng số học sinh toàn trường là : 256 em, trong đó 100% là học sinh dân
tộc thiểu số.
- Một số ít giáo viên do tuổi cao chưa đạt chuẩn, nên việc tiếp cận cái mới
vào giảng là một quá trình khó khăn.
- Giáo viên quê quán khác nhau, dân tộc khác nhau (Tày, Ê Đê, Kinh ) do
ảnh hưởng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình nên thường có những nhầm lẫn, sai
sót của dân tộc đó. Nhiều giáo viên là người dân tộc tại chỗ nên thường sử dụng
tiếng Ê ê để dạy những phần khó, từ khó dẫn đến các em càng ỉ lại, có gì không
hiểu các em lại hỏi thầy cô bằng tiếng ÊĐê.
2- Thành công– hạn chế
- Ngay từ đầu năm học giáo viên được học tập quy chế về chuyên môn,
thảo luận kỹ về thiết kế bài dạy, chấm điểm, đánh giá xếp loại học sinh theo
thông tư 32.
- Trường Tiểu học ... tổ chức dạy học 8 buổi trên tuần ( tăng buổi) cho học
sinh mà không thu tiền của học sinh để động viên con em đồng bào dân tộc theo
học đầy đủ.
- Được sinh hoạt chuyên đề, sau đó cùng thảo luận rút kinh nghiệm, phát
huy ưu điểm, khắc phục tồn tại. Thông qua việc sinh hoạt động chuyên đề, giáo
viên cùng tháo gỡ được những khó khăn của bản thân về nội dung phương pháp
giảng dạy, đồng thời được học tập đồng nghiệp, vận dụng vào các bài dạy của
mình.
- Giáo viên thường xuyên dự giờ thăm lớp vào các buổi chiều để học hỏi
kinh nghiệm lẫn nhau.
Bên cạnh vẫn còn một số hạn chế sau:
phóng khoáng.
Tuy nhiên vẫn có mặt yếu như đa số học sinh là con gia đình không đủ điều
kiện cho con em học tập, phụ huynh ít quan tâm đến việc học tập của con em
mình nên không có sự chuẩn bị đầy đủ về sách vở, đồ dung học tập cho học sinh
khi đến lớp.
- Nội dung chương trình, sách giáo khoa chưa thật phù với đặc điểm nhận
thức và điều kiện học tập của học sinh dân tộc.
- Đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được mục tiêu nâng cao chất lượng giáo
dục cho học sinh dân tộc.
- Học sinh dân tộc thiểu số có tính tự ái cao vì vậy giáo viên không được
phê bình nặng lời làm tổn thương các em, các em sẽ bỏ học.
4 -Các nguyên nhân các yếu tố tác động
Học sinh dân tộc thiểu số do không giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt nên có
những hạn chế trong việc nắm bắt kiến thức mà giáo viên truyền thụ; việc chuyển
đổi sang môi trường nói Tiếng Việt và đồng thời là học tập bằng tiếng Việt làm
học sinh dân tộc gặp khó khăn trong việc nghe giảng, nhà trường cần nắm bắt kịp
7
thời để có kế hoạch cụ thể để giúp học sinh hiểu bài, hoàn thành chương trình
tiểu học.
Học sinh tiểu học chưa có điều kiện tiếp xúc với môi trường, xã hội rộng, sự
giao lưu ngôn ngữ của các em còn hạn chế bởi phạm vi nhỏ ( ảnh hưởng của gia
đình, hàng xóm). Ở nhà các em chỉ nói bằng tiếng mẹ đê nên khi đến lớp các em
không nghe - hiểu hết các từ giáo viên nói ra, hoặc hiểu sai ý của giáo viên thành
ra hiệu quả tiết dạy không đạt yêu cầu.
Vốn từ của các em còn quá nghèo nàn, vì thế khi giáo viên sa vào nói nhiều
cũng làm học sinh không hiểu được, thành ra các em không chú ý đến bài giảng
của giáo viên. Học sinh chưa cảm thụ được nội dung mình đọc, nội dung mình
viết do không hiểu biết đầy đủ các quy tắc chính tả.
niệm mới/ kiến thức mới bằng tiếng Việt mà các em chưa hiểu.
+ Học sinh học sinh dân tộc thiểu số khi sinh hoạt ở nhà sử dụng ngôn ngữ mẹ
đẻ rất tự nhiên, ngại sử dụng tiếng Việt. Vốn kiến thức tiếng Việt nghèo nàn nên
các em rất ngại phải giao tiếp, không muốn phát biểu xây dựng bài. Học sinh
người Kinh đã có vốn tiếng Việt đủ để tìm hiểu thế giới xung quanh, các em được
học và sử dụng tiếng Việt trong khoảng 5 năm trước khi tới trường. Còn học sinh
dân tộc thiểu số trước khi đi học các em mới chỉ nắm vững tiếng mẹ đẻ, học tiếng
Việt trên cơ sở kinh nghiệm của tiếng mẹ đẻ. Học sinh người Kinh có nhiều cơ
hội giao tiếp với người lớn ở mọi lúc, mọi nơi, trong và ngoài nhà trường, lĩnh
vực được tiếp cận khi đối thoại rất đa dạng và phong phú. học sinh dân tộc thiểu
số chỉ giao tiếp tiếng Việt duy nhất với thầy, cô giáo qua môi trường lớp học, học
sinh trong lớp thì đông mà lại chỉ có một giáo viên nên cơ hội giao tiếp bằng
tiếng Việt giữa học sinh và giáo viên rất hạn chế. Mặt khác trường tôi 100% học
sinh là con em đồng bào dân tộc nên cơ hội giao luuw tiếng Việt với bạn bè gần
như không có.
b, Những khó khăn của giáo viên người kinh khi dạy học sinh dân tộc thiểu
số học tiếng Việt:
+ Giáo viên (là người kinh) không hiểu ngôn ngữ của học sinh, không hiểu
các phong tục tập quán của học sinh. Đa số giáo viên người Kinh đều không biết
ngôn ngữ dân tộc, nên họ không thể so sánh, đối chiếu, liên hệ khi gặp những
tình huống cần thiết trong dạy học tiếng Việt. Giáo viên chưa thật sự hiểu học
sinh và có biện pháp hổ trợ phù hợp, cách dạy môn Tiếng Việt của giáo viên đứng
lớp chưa đáp ứng nhu cầu, sở thích của học sinh, chưa phát huy được điểm mạnh
của các em.
+ Giáo viên chỉ quan tâm rèn cho học sinh đọc và viết chứ chưa cố gắng
dạy đầy đủ mọi yêu cầu của môn tiếng Việt. Giáo viên cũng chưa thật sự quan
tâm yêu cầu về chương trình đề ra cho từng khối lớp. Khá nhiều giáo viên còn
chưa sử dụng đồ dùng dạy học được cấp về để dạy mà chỉ dạy chay. Theo một xu
hướng tự nhiên, những thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ được học sinh dân tộc
thiểu số đưa vào trong quá trình học tiếng Việt. gây khó khăn cho giáo viên khi
Tiếng Việt của chúng ta giàu và đẹp, thể hiện trong lời ăn, tiếng nói hằng
ngày, qua sách vở và qua cả bài viết của các em. Trách nhiệm của giáo viên là
góp phần giữ cho tiếng Việt luôn giữ được vẻ đẹp đó, dẫn dắt học sinh tình yêu,
sự gắn bó tự hào về tiếng Việt, hướng dẫn các em biết sử dụng ngôn ngữ dân tộc
một cách thành thục, chuẩn xác, khéo léo, giữ cho tiếng Việt luôn trong sáng.
Từ thực trạng việc dạy và học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, từ
mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học, tôi đưa ra mục tiêu của các giải
pháp, biện pháp như sau:
10
Các giải pháp, biện pháp phải cụ thể rõ ràng, dễ hiểu, có hệ thống. Đưa ra
những giải pháp phù hợp với giáo viên và học sinh trường ... nói riêng và các
trường Tiểu học nói chung. Tìm được biện pháp tốt trong giảng dạy của giáo viên
và học tập của học sinh để thực hiện các giải pháp nhằm đưa chất lượng môn
Tiếng Việt ở các trường đông học sinh dân tộc thiểu số ngày càng cao. Nâng cao
chất lượng môn Tiếng Việt của học sinh trường tiểu học ... huyện ... tăng dần
theo kịp với các trường khác trong huyện. Đảm bảo thực hiện đúng yêu cầu, mục
tiêu môn học. Đáp ứng được nhu cầu học môn Tiếng Việt của học sinh dân tộc
thiểu số.
2- Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Việc học môn tiêng Việt của mỗi học sinh là rất quan trọng. Thông thường
học sinh rất thích học môn này vì qua môn học các em được hiểu biết then về
cuộc sống xung quanh. Nhưng thực tế trường tiểu học ... là một trường học sinh
dân tộc thiểu số đang theo học, nên các em không hào hứng với môn tiếng Việt
do bất đồng ngôn ngữ. Dân tộc Ê Đê cũng như các dân tộc khác đều có ngôn ngữ
riêng để sử dụng trong giao tiếp. Do đó việc dạy cho học sinh học dân tộc tiếng
Việt là một vấn đề rất khó. Thông qua các tiết học tiếng Việt giúp học sinh có thể
nghe hiểu một số câu, từ ngữ để giao tiếp với giáo viên, bạn bè, học sinh có tâm
thế sẵn sàng đi học, học các môn học và thực hiện các hoạt động giáo dục. Học
những lớp đầu cấp tiểu học.
Tổ chức những trò chơi vận động, khởi động đầu giờ, giữa giờ, trò chơi học
tập .. rèn kĩ năng nghe, hiểu, xử lí thông tin nhanh cho học sinh.
Ví dụ
Học sinh phân biệt các từ có âm vần giống nhau:
Co, cò, có, cọ....
Nghe và nhận diện hai âm, vần gần nhau:
Cái mũ / cái tủ
Nghe và nhận biết các vần có trong tiếng, từ...
lê, xoan, quê, danh, minh
Nghe và ghép đúng các mảnh thẻ từ được cắt rời thành tiếng, từ...
Học sinh chọn thẻ từ đúng ghép thành từ ghép: bình minh
bình minh
ninh
bình
+
min
h
Bềnh
12
mìn
h
?
Nhóm 1: bao tải nhóm 2: mảnh vải
Cứ như thế hai đội phải đối đáp với nhau cho đến khi nào một đội không
tìm ra đươc đáp án (thời gian đếm từ 1 đến 5).
Trò chơi “Vần gì đã biến mất”
Giáo viên chuẩn bị sẵn các thẻ gắn các mẫu vần/ tiếng lên bảng:
HS quan sát trong 5 giây – khoảng 5 vần/tiếng.
Ví dụ:
oang
oat
oăt
anh
oanh
13
Sau đó giáo viên gỡ các thẻ từ này xuống và lại gắn tiếp lên, nhưng xóa đi
một hoặc hai vần. Nhiệm vụ của học sinh là nói tên vần đã biến mất.
Trò chơi: “Ai tinh mắt”
Mục đích: Củng cố biểu tượng các vần đã học. Lưu ý: các vần cần tìm có
hai chữ cái mà sau khi đổi ngược vị trí các con chữ ta lại có được một vần
mới.
Cách chơi: Giáo viên nêu yêu cầu trò chơi: Tìm các cặp vần có sự khác
nhau ở vụ trí các con chữ. Có thể tổ chức cho cả lớp tham gia. Học sinh nào
tìm được một cặp vần đúng với yêu cầu sẽ được thưởng một món quà.
Ví dụ:
ia – ai
ua – au
ui – iu
eo – oe
GV chuẩn bị các thẻ chữ như trên, GV có thể tổ chức chơi theo hai nhóm hoặc
theo từng cặp học sinh. Hai nhóm hoặc hai học sinh lần lượt chơi bằng cách dịch
chuyển các tấm bìa sao cho ghép lại thành tiếng có nghĩa, sau đó đọc to tiếng ấy
rồi viết ra giấy của mình, nhóm kia tiếp tục tìm tiếng khác rồi đọc to và viết ra
giấy của mình tiếng có nghĩa tìm được. Cứ như vậy cho đến khi nhóm nào không
tìm tiếp được thì dừng lại. Nhóm thắng cuộc sẽ là nhóm tìm được đúng và nhiều
nhất các tiếng có nghĩa.
- Với phân môn Tập làm văn
Trong chương trình Tiếng việt ở cấp Tiểu học, Tập làm văn là phân môn
nhằm rèn luyện cho học sinh cả bốn kĩ năng nghe- nói- đọc- viết tiếng Việt.
Khi dạy Tập Làm Văn giáo viên cần hiểu rõ sự kết hợp giữa các phân môn trong
môn Tiếng Việt như: Tập đọc, chính tả, luyện từ và câu, tập viết. Giáo viên tạo
cho học sinh nhiều cơ hội thực hành. Cần hướng cho các em cách chọn lựa, sử
dụng từ ngữ, hình ảnh diễn đạt dễ hiểu, sinh động đảm bảo đạt hiệu quả cao.
+ Tổ chức các hình thức dạy học như: Học sinh thảo luận nhóm, đóng các
hoạt cảnh, vận dụng các trò chơi trong tiết học. Học sinh được“học mà chơi, chơi
mà học” nên dễ dàng lĩnh hội kiến thức, tích cực, tự giác trong học tập. học sinh
mạnh dạn, tự tin khi nói. Các em dần có khả năng diễn đạt, phát biểu ý kiến, đánh
giá trước đông người một cách lưu loát. Dạy tập làm văn đối với học sinh dân tộc
thiểu số là rất khó nhưng dưới sự chỉ đạo kịp thời, đúng dắn của tôi và sự nổ lực
hết mình của giáo viên nên những giờ học Tập làm văn đã có hiệu quả tốt.
Học sinh đang thảo luận nhóm.
Giáo viên hướng dẫn học sinh
- Với phân môn luyện từ và câu
Tôi trăn trở nhiều khi chỉ đạo giáo viên sao cho dạy phân môn luyện từ và
câu cho học sinh dân tộc thiểu số hiểu bài, dạy phương pháp nào để tránh sự
15
16
Đàn cò trắng
kể chuyện cổ tích
Bà em
Giúp dân gặt lúa
Bộ đội
Bay lượn trên cánh
đồng
* Với phân môn Tập đọc
Tôi trực tiếp dự giờ lớp 2A, 2B, 3A, 3B, 4A, 4B, 5A, 5B Nhìn chung tốc độ đọc
của một số học sinh còn yếu . Các em còn phải vừa đánh vần vừa đọc. Tốc độ
đọc chậm, sai và sót chữ rất nhiều. và lỗi sai nhiều nhất là đọc không có dấu. Tôi
đã tiến hành điều tra một số giáo viên giảng dạy các lớp 2A, 2B, 3A, 3B, 4A, 4B,
5A, 5B tất cả giáo viên cho rằng: trình độ đọc của học sinh là chậm, sai nhiều.
Học sinh đọc sót từ hoặc thêm từ, đọc sai dấu hỏi, ngã, đọc sai âm đầu như tr/ch,
vần iêt / iêc, uôn/ uông…Đa số học đọc bỏ dấu. Các em chưa trả lời được đầy đủ
các câu hỏi trong bài đọc, do đó các em không nắm được ý chính của bài nên các
em thường không thích học đọc.
Tôi trực tiếp chỉ đạo giáo viên chú ý kèm cặp từng học sinh, đảm bảo cho tất
cả các em đều đọc lưu loát, đúng tốc độ quy định. Qua dự giờ tôi góp ý cụ thể về
phương pháp và hình thức dạy đọc cho giáo viên. Đảm bảo cho học sinh đọc từ,
đúng lỗi chính tả, tùy theo lỗi sai sót của học sinh trong bài viết giáo viên chọn
bài tập cho học sinh thực hành, bài còn lại cho các em làm ở nhà.
b, Biện pháp
Có các giải pháp để giúp việc dạy và học tốt hơn càng cần có biện pháp để
thực hiện các biện pháp dó. Viết đúng từ: chính tả được hiểu là phép viết đúng:
đúng quy định và truyền thống chữ viết của mỗi dân tộc
Nắm vững cấu tạo từ tiếng Việt: từ đơn, láy, ghép
TỪ
GẦN ÂM
- Chú tâm: tập trung tâm trí vào việc gì
- Chủ tâm: định bùng, cố ý
- Dày dạn: từng trải, quen gian khổ
- Dày dặn: dày, chắc chắn (trái với mỏng)
- Thoi thóp: hơi thỏ rất yếu khi sắp chết
- Thoi thót: lác đác từng con một vút qua như thoi đưa
- Be bét: nát, hư hỏng, sai nhiều
- Bê bết: lấm láp, dính nhiều vết bùn
Giáo cụ nhìn (giáo cụ trực quan). Giáo cụ nghe (audio). Giáo cụ nghe - nhìn
(video). Phối hợp các loại giáo cụ.
18
Ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phần mềm dạy tiếng Việt
Tất cả giáo viên trường đều có thể sử dụng máy vi tính. Mỗi tiết dạy có
sử dụng đèn chiếu đều đem lại hiệu quả cao. Tuy nhiên do trường chưa có máy
chiếu nên mỗi lần giáo viên dạy tôi phải liên hệ mượn trường khác rất khó khăn.
Được sự chỉ đạo kịp thời của Phòng Giáo dục, dựa vào thế mạnh của trường có
Để những giải pháp trên có thể áp dụng được và hiệu quả cao cần có sự
phối hợp hài hòa giữa nhà trường, giáo viên và gia đình :
- Với nhà trường cần tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tiến hành thực
hiện công tác giảng dạy một cách đầy đủ nhất, quan tâm mua sắm các thiệt bị dạy
học đầy đủ để giáo viên có điều kiện giảng dạy đúng mục tiêu giáo dục.
- Với giáo viên cần có lòng nhiệt tìnhvới nghề nghiệp, yêu nghề mến trẻ,
quan tâm và tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý từng em để có những kế hoạch dạy
học phù hợp. Thường xuyên liên lạc với các gia đình cha mẹ học sinh để tìm
hiểu, trao đổi về việc học tập của các em, xây dựng mối quan hệ giữa gia đình,
nhà trường và xã hội.
- Với gia đình học sinh cần quan tâm chăm sóc đến học sinh, tạo điều kiện
cho các em tham gia học tập đều đặn.
5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài “ Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao chất lượng
giảng dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số” giúp giáo viên trường tôi
có phương pháp dạy tốt hơn đưa chất lượng môn Tiếng Việt ngày càng cao. Các
em đọc thông, viết thạo, vốn từ ngày càng nhiều. Các em nói tiếng Việt này càng
lưu loát. Tiếp thu bài cũng nhanh hơn trước và đặc biệt hơn các em thường sử
dụng tiếng Việt thay cho tiếng mẹ đẻ ở nhà. Còn đến lớp các em không dùng
tiếng mẹ đẻ khi chơi với nhau mà chỉ dùng tiếng Việt cả trong và ngoài lớp học.
Trong quá trình điều tra ở các lớp ( từ lớp 1 đến lớp 5) môn Tiếng việt tôi
nhận thấy:
Kết quả môn Tiếng Việt tăng rõ rệt. Học sinh rất thích học giờ Tiếng Việt.
Khi tôi kiểm tra lần lượt ở các lớp này, học sinh các lớp này rất hào hứng. Các em
mạnh dạn nêu ý kiến của mình. Khi chưa hiểu bài các em mạnh dạn hỏi lại thầy
cô giáo. Đề tài: “ Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng
dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số” phù hợp với điều kiện thực hiện
nhiệm vụ của trường. Áp dụng được cho tất cả khối lớp trong toàn trường và có
17
29
Lớp 2
65
Lớp
Lớp 3
48
Lớp 4
38
Lớp 5
27
12
47
6
10
37
1
11
25
2
1
26
9
Lớp
Lớp 3
57
Lớp 4
44
Lớp 5
38
7
37
13
13
28
3
5
33
Sau thời gian áp dụng trên tất cả các khối lớp biện pháp trên tôi thấy Trường
TH ... có tiến bộ đáng kể, cụ thể với sĩ số học sinh cuối học kỳ I năm học 20132014 đạt kết quả như sau:
Tiếng Việt
Tổng số học sinh
- Giỏi
- Khá
- Trung bình
Lớp 4
44
Lớp 5
38
16
26
2
5
33
Theo kết quả thống kê ở trên cho ta thấy việc áp dụng những biện pháp nêu
trên đã cho ta có kết quả rất đáng kích lệ, dù đây chỉ là mới bước đầu khảo
nghiệm (trong học kì I) nhưng cũng đã phần nào chứng minh được tính khả thi
21
của các biện pháp đã áp dụng. Tôi tin chắc rằng học sinh trường tôi ngày càng
tiến bộ nhờ áp dụng đề tài của tôi trong dạy môn Tiếng Việt.
III. PHẦN KẾT LUẬN , KIẾN NGHỊ
1 - KẾT LUẬN
Môn Tiếng Việt môn học chủ lực ở cấp tiểu học, có học tốt môn này mới
mong có thể học tốt các môn học khác. Đồng thời môn Tiếng Việt cũng góp phần
nâng cao khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng. Cách phát hiện và giải quyết
các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây
hứng thú học tập; góp phần hình thành bước đầu phương pháp học tập và làm
số yêu cầu sau:
Sở giáo dục cần có chỉ đạo kịp thời để hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số học
Tiếng Việt tốt hơn. Có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên để giúp giáo viên nâng
cao tay nghề, học sinh thuận lợi hơn trong học tập. Nội dung bồi dưỡng cần tập
trung vào những vấn đề ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học, cộng với
phương pháp giảng dạy từng loại bài cụ thể đem lại hiệu quả thiết thực khi dạy
Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh giúp các em hiểu sâu sắc hơn về
vốn từ ngữ trong Tiếng Việt, từ đó các em nhận biết về thế giới xung quanh để
các em luôn có những cảm xúc, tình cảm chân thật giúp các em hoàn thiện bản
thân hơn.
Thư viên nhà trường cần bổ sung các tư liệu, tài liệu, sách truyện thiếu nhi,
truyện tranh phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy từng bộ môn của giáo viên
và việc đọc của học sinh.
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân mà tôi đã rút ra từ thực tế
quản lí, song không sao tránh được khỏi khiếm khuyết. Rất mong đồng nghiệp bổ
sung góp ý, để đề tài của tôi hoàn thiện hơn.
Tôi xin cảm ơn!
23