So sánh pháp luật về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của liên minh châu âu và việt nam - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
---------

CÙ HỒNG ANH

SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KHOẢN
HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA
LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
---------

CÙ HỒNG ANH

SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KHOẢN
HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA LIÊN MINH
CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


quan

đến

quyền

SHTT

.................................................................................................................. 18
1.2.3 Nội dung cơ bản của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan
đến

quyền

SHTT......................................................................................................................... 20
1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật quốc tế về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp
đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ .........................................................................
24
1.3.1 Quy định, quan điểm của WTO ............................................................................... 24
1.3.2
26

Quan điểm của WIPO ..............................................................................................

1.3.3
28

Quy định, quan điểm của Nhật Bản .........................................................................
1


So sánh các công cụ nhận dạng hành vi hạn chế cạnh tranh .................................... 40

2.3.1 Khái niệm đối thủ cạnh tranh (compettor), Không phải đối thủ cạnh tranh (noncompettor) ...........................................................................................................................
40
2.3.2 Về thị trường liên quan: ..............................................................................................
42
2.3.3 Về thị phần và cách tính thị phần: .............................................................................. 44
2.4

So sánh về một số quy định cụ thể............................................................................ 45

2.4.1 Các trường hợp được miễn trừ....................................................................................
45
2.4.2 Cách tính thời gian miễn trừ theo pháp luật EU và Việt Nam. ................................... 48
2.4.3 Các hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng (“hard-core restricton”) và các loại trừ .........
49

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP
ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐỀN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN
CỨU SO SÁNH
3.1

55

Yêu cầu, định hướng của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các thỏa thuận hạn

chế cạnh tranh có liên quan đến sở hữu trí tuệ.....................................................................
55
3

70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

72

5


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

EU

Liên minh Châu Âu;

HCCT

Hạn chế cạnh tranh;

Hiệp định EC

Hiệp định thành lập Cộng đồng chung châu Âu

Hiệp định TRIPs

Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ;

Luật Cạnh tranh


1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy quá trình đàm phán gia nhập
WTO giai đoạn 2005-2006, một loạt các luật mới liên quan đến kinh doanh,
thương mại đã được ra đời, trong đó có Luật Cạnh tranh. Luật Cạnh
tranh được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ
họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực từ ngày 01
tháng
07 năm 2005 đã có ảnh hưởng nhất định tới môi trường kinh doanh của
nước ta. Đến nay, Luật Cạnh tranh đã đi vào thực tế đời sống được gần 7
năm, đã có 3 vụ việc HCCT và gần 40 vụ cạnh tranh không lành mạnh với hơn
50 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế kinh doanh trên thị trường
Việt Nam được giải quyết và xử lý theo các quy định của Luật này. Sự ra đời
của Luật Cạnh tranh đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo môi trường
kinh doanh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển bình đẳng cho mọi thành
phần kinh tế và bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng.
Cũng ra đời gần với thời gian ra đời của Luật Cạnh tranh, Luật Sở hữu
trí tuệ được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ
họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01
tháng
7 năm 2006, đã được sửa đổi, bổ sung vào ngày 19 tháng 6 năm 2009.
Luật Sở hữu trí tuệ được đánh giá là một công cụ quan trọng để thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay, đồng thời là biện pháp
của Nhà nước để khuyến khích và bảo đảm giá trị của các tài sản trí tuệ.
Mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ thực sự chưa
được đề cập và nghiên cứu nhiều ở Việt Nam nhưng đã được bàn luận sôi
nổi ở nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới. Nhìn từ bên ngoài, mối quan hệ
giữa hai luật này mang tính chất trái ngược, mâu thuẫn nhau. Nếu như Luật
5



cạnh tranh trong chuyển giao công nghệ theo Hiệp định TRIPS và rút ra các
kinh nghiệm áp dụng pháp luật cạnh tranh trong chuyển giao công nghệ cho


các nước đang phát triển”, Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về quyền
sở


hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của
Nguyễn Thị Thu năm 2009, Luận văn Thạc sĩ Luật học “Kiểm soát thoả thuận
hạn chế cạnh tranh - những vấn đề lý luận và thực tễn” năm 2006 của Đồng
Ngọc Dám. Ngoài ra, còn có những bài báo, bài nghiên cứu đăng trên các báo,
tạp chí trong thời gian vừa qua. Các công trình trên là những nguồn tài liệu
tham khảo quý báu đối với luận văn. Trong phạm vi luận văn này, tác giả luận
văn có mong muốn nghiên cứu vấn đề trên theo hướng so sánh luật, một
cách tếp cận khác so với các công trình kể trên. Cụ thể, luận văn sẽ
trình bày những nội dung cơ bản trong việc điều chỉnh của pháp luật EU với
các điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền
SHTT để rút ra kinh nghiệm cho việc xây dựng pháp luật cạnh tranh trong lĩnh
vực SHTT tại Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Dựa trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các công trình
khoa học đã công bố, Luận văn với đề tài “So sánh pháp luật về điều
khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí
tuệ của Liên minh Châu Âu và Việt Nam” có đối tượng và phạm vi nghiên cứu
cụ thể như sau:
(i) Đối tượng nghiên cứu
Nhằm mục đích tập trung nghiên cứu theo hướng gần nhất với thực
tế của pháp luật hiện tại, Luận văn hướng tới đi sâu nghiên cứu các đối
tượng

- Đánh giá so sánh pháp luật về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong
hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của Liên minh Châu Âu và
Việt Nam;


- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật
về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền
SHTT ở Việt Nam hiện nay
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, Luận văn đã
sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm,
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước và Pháp
quyền trong điều kiện kinh tế thị trường;
- Phương pháp bình luận, phương pháp lịch sử… được sử dụng trong
Chương 1 nghiên cứu những vấn đề chung về quyền SHTT, hợp đồng có liên
quan đến quyền SHTT và điều khoản HCCT trong các hợp đồng có liên quan
đến quyền SHTT;
- Phương pháp phân tch, phương pháp so sánh luật học, phương pháp
đánh giá, phương pháp đối chiếu… được sử dụng trong Chương 2
- Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn
giải… được sử dụng trong Chương 3 nghiên cứu xác lập định hướng và đưa
ra những giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật về điều chỉnh các
thỏa thuận HCCT trong các hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT.
6. Đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn được hoàn thành sẽ có những đóng góp về mặt khoa học chủ
yếu sau đây:
- Góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa cạnh
tranh và sở hữu trí tuệ;

được bảo hộ hưởng lợi ích trên công trình của mình hay việc đầu tư vào quá
trình sáng tạo. Các quyền này đã được nêu ra và ghi nhận tại Điều 27 của
Tuyên bố Toàn cầu về Nhân quyền, quy định về quyền hưởng lợi từ việc bảo
hộ các quyền nhân thân và quyền tài sản của các tác giả các tác phẩm
khoa học, văn học hay nghệ thuật. Tầm quan trọng của SHTT cũng như một
số đối tượng của quyền SHTT được ghi nhận lần đầu tiên tại các văn bản
có tnh toàn cầu là Công ước Paris về quyền sở hữu công nghiệp năm 1883
và Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật năm 1886.
Tương tự như vậy, WTO định nghĩa quyền SHTT là các quyền trao cho
cá nhân hay tổ chức đối với kết quả của việc sáng tạo trí óc của họ. Quyền
SHTT cho phép người sáng tạo quyền độc quyền trong việc sử dụng sản phẩm
sáng tạo của mình trong một thời gian nhất định.[26]
Điều 1226, Phần IV, Bộ luật dân sự của Cộng hòa Liên bang Nga lại quy
định:
Quyền SHTT được công nhận trên cơ sở kết quả của hoạt động trí
tuệ và sự cá biệt hóa các kết quả của hoạt động đó, bao gồm quyền độc
quyền tức


là quyền sở hữu; và trong các trường hợp được quy định bởi Bộ luật
này, cũng là các quyền sử dụng cá nhân và các quyền khác (quyền cho tác giả
tác phẩm, quyền tếp cận và các quyền khác)
Pháp luật Việt Nam quy định tại khoản 1, Điều 4 Luật SHTT về Quyền
sở hữu trí tuệ như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá
nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”
Như vậy, mặc dù không hoàn toàn đồng nhất song các quốc gia và các
tổ chức trên thế giới đều có quan niệm chung rằng, quyền SHTT (cũng giống
như các quyền đối với tài sản khác) là các quyền dành cho người (bao gồm cả
tổ chức, cá nhân) đối với các tác phẩm, sự sáng tạo hay sự cá biệt hóa,

thương mại, chỉ dẫn địa lý và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Sau
này, một đối tượng nữa của quyền sở hữu công nghiệp được bổ sung đó là
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được quy định và ghi nhận trong Hiệp
ước Washington năm 1989 về Sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp
Liên quan đến quyền tác giả, năm 1886, Công ước Bern ra đời với mục
đích bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Đây chính là cơ sở
quan trọng để bảo vệ một loại đối tượng quan trọng nữa của quyền SHTT đó
chính là quyền tác giả. Cùng với sự phát triển của xã hội, một loại đối
tượng nữa của quyền SHTT được ghi nhận đó là quyền liên quan đến
quyền tác giả. Công ước Rome năm 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà
xuất bản, ghi âm và tổ chức phát sóng là một cơ sở quan trọng để bảo hộ
quyền liên quan đến quyền tác giả hiện nay. Bên cạnh đó cũng phải kể đến
Công ước Brussel năm


1974 về bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa, sau
này, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và khoa học máy tnh,
quyền


đối với phần mềm máy tnh, chương trình sưu tập dữ liệu cũng được bổ
sung trở thành một đối tượng mới của quyền tác giả;
Quyền đối với giống cây trồng được ghi nhận và quy định trong Công
ước UPOV năm 1961 về bảo hộ giống cây trồng mới.
Trong quá trình hình thành WTO, Hiệp định TRIPs đã ra đời thể hiện
sự phát triển của các đối tượng của quyền SHTT dưới góc độ thương mại hóa
trong nền kinh tế toàn cầu. Theo ghi nhận của Hiệp định TRIPs, quyền SHTT
gồm có: quyền tác giả và quyền liên quan, cũng tại đây, các chương trình máy
tính và sưu tập dự liệu được liệt kê vào danh sách những đối tượng thuộc
quyền tác giả. Nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp,

nghệ của Việt Nam lại quy định về hình thức chuyển giao công nghệ như sau:
Việc chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua các hình
thức sau đây:
1. Hợp đồng chuyển giao công nghệ độc lập;
2. Phần chuyển giao công nghệ trong dự án hoặc hợp đồng sau đây:
a) Dự án đầu tư;
b) Hợp đồng nhượng quyền thương mại;
c) Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp;
d) Hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo chuyển giao công nghệ;
3. Hình thức chuyển giao công nghệ khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Luật thương mại hiện hành của Việt Nam còn quy định về
hợp đồng nhượng quyền thương mại. Theo đó, theo đó bên nhượng quyền
cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tến hành việc mua bán hàng
hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
- Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tến hành theo cách
thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với
nhãn


hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
- Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên
nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.
Nhìn ra thế giới, hiện nay có thể thấy có một số hình thức hợp đồng có
liên quan đến quyền SHTT mà chưa có hoặc ít xuất hiện ở Việt Nam như:
Hợp đồng nhóm về quyền SHTT (cross licensing hay patent pool) theo đó hai
hoặc nhiều bên cùng nhau thỏa thuận sẽ hợp tác với nhau trong việc
phát triển, sử dụng các đối tượng của quyền SHTT do một trong các bên đó
tạo ra. Bên cạnh đó, thực tiễn phong phú trên thế giới còn ghi nhận hợp
đồng nghiên cứu và phát triển (research and development agreement).

bề ngoài, hai ngành luật này có sự mâu thuẫn với nhau. Cụ thể, pháp luật
SHTT và pháp luật cạnh tranh đều cùng hướng đến mục đích là bảo vệ lợi
ích người tiêu dùng, khuyến khích phát triển kinh tế và sáng tạo. Tuy
nhiên, cách tiếp cận của hai luật này lại hoàn toàn khác nhau, thậm chí là trái
ngược.
Do đó, việc áp dụng pháp luật cạnh tranh để điều chỉnh các hợp
đồng có liên quan đến quyền SHTT vừa cần tuân theo những nguyên tắc cơ
bản của luật cạnh tranh, vừa cần có những điều chỉnh, ngoại lệ áp dụng một
cách linh hoạt để cân bằng lợi ích cá nhân của chủ thể quyền SHTT được
pháp luật SHTT trao cho và lợi ích công cộng, lợi ích của người tiêu dùng.
1.2 Bản chất pháp lý của điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có
liên quan đến quyền SHTT
1.2.1 Khái niệm điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên
quan đến quyền SHTT


Trong kinh tế học, hành vi thoả thuận HCCT (Cartel) được nhìn nhận là
sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại
bỏ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status