Pháp luật về quản lý sử dụng vốn của ngân hàng thương mại ở việt nam và thực tiễn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh ba đình - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN NGỌC KIM CƯƠNG

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM CHI NHÁNH BA ĐÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN NGỌC KIM CƯƠNG

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM CHI NHÁNH BA ĐÌNH

Chuyên ngành : Luật Kinh Tế
Mã số

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


trong

ngân

................................................................. 5

hàng

thương

mại

cổ

phần

1.1.1 Bản chất của vốn trong hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ..
5
1.1.2. Các loại vốn trong ngân hàng thương mại cổ phần ................................
6
1.2 Pháp luật về quản lý sử dụng vốn của ngân hàng thương mại cổ
phần.................... 18
1.2.1 Qui định về quản lý vốn chủ sở hữu .....................................................
18
1.2.2. Qui định quản lý vốn vay ...................................................................... 19
1.2.3.Qui định về tổ chức kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ ngân hàng thương
mại cổ phần .....................................................................................................
29
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN TẠI

2.4.3. Bất cập liên quan đến hoạt động cho vay ............................................................
58

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN


SỬ

DỤNG

VỐN

TẠI

NGÂN

HÀNG

THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN

.............................................................................................................. 69
3.1.Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý sử dụng vốn tại NHTM Cổ
phần

..........................................................................................................................................

69


3

FTP

Cơ chế quản lý vốn tập trung

4

KSNB

Kiểm soát nội bộ

5

NHTM CP

Ngân hàng thương mại cổ phần

6

NHNN

Ngân hàng nhà nước

7

NHCT VN

8



Trang
36

So sánh vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu của các
2.

Bảng 2.2

ngân hàng lớn nhất tại Việt Nam (tại thời điểm

37

tháng 5/2013)
3.

Bảng 2.3

Cơ chế quản lý vốn tập trung FTP.

44


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tình cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm
nay gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của hệ thống
ngân hàng có tác động rất lớn tới sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược
lại nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế
thị trường thì ngân hàng lại ngày càng hoàn thiện và trở thành những định chế tài

Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam chi nhánh Ba Đình”
làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tính đến thời điểm hiện nay đã có khá nhiều các bài viết hay các công trình
nghiên cứu liên quan đến pháp luật quản lý sử dụng vốn tại ngân hàng thương
mại tại Việt Nam.
- Bài viết “Vốn chủ sở hữu trong các ngân hàng tại Việt Nam, các vấn đề về
quản trị vốn” của Th.s Lê Thị Lợi, bài đăng trên Tạp chí ngân hàng số 2/2013. Bài
viết đi từ các vấn đề phát sinh trong quản lý vốn chủ sở hữu tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam và thực tễn những quy định pháp luật về vấn đề quản lý vốn
chủ sở hữu. Bài viết đề cập đến các nội dung dưới cái nhìn tổng thể, không đi sâu
phân tích thực tế tại một ngân hàng thương mại cụ thể nào.
- Bài viết “Những tín hiệu tích cực từ quy định mới về các tỷ lệ đảm bảo an toàn
trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam”tác giả Đoàn Thái Sơn, đăng trên trang
Web Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Bài viết phân tích những tín hiệu tích cực từ
Thông tư 13/2010/TT-NHNN Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt
động của các tổ chức tín dụng, thông qua việc tìm hiểu những sai lầm của nước Mỹ,
sự hình thành các chuẩn mực quốc tế về đảm bảo an toàn trong hoạt động
ngân hàng và những quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân
hàng ở Việt Nam.
- Luận văn thạc sĩ “Tìm hiểu pháp luật về hoạt động cho vay của các tổ chức
tín dụng và các biện pháp bảo đảm an toàn” của Lê Mai Phương, Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2011. Đề tài đã làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản
liên quan trực tếp đến hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng về pháp luật
điều chỉnh hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng. Căn cứ vào quy định của pháp
luật hiện hành và thực tễn áp dụng để phát hiện những bất cập trong hoạt động
cho vay của các tổ chức tín dụng. Đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện
pháp luật về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng và các biện pháp bảo đảm
an toàn.
3

đó, thông qua phương pháp điều tra để nghiên cứu thực trạng quản lý và sử
4


dụng vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần. Trên cơ sở đó, đưa ra những
phân tích,

5


nhận xét, đánh giá việc thực hiện các quy định này trong thực tế để làm rõ
những bất cập của pháp luật trong quản lý và sử dụng vốn của các ngân hàng
thương mại
cổ phần.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài được chia thành ba chương.
- Chương 1: Tổng quan pháp luật về quản lý sử dụng vốn tại ngân hàng
thương mại cổ phần
- Chương 2: Thực tễn áp dụng pháp luật về quản lý sử dụng vốn tại NHCT
VN – CN Ba Đình
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý sử dụng
vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần.

6


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1 Vốn trong ngân hàng thương mại cổ phần
1.1.1 Bản chất của vốn trong hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần

8


chính chủ yếu cho các hoạt động của ngân hàng. Trong giai đoạn đầu của hoạt
động ngân hàng, các ngân hàng thường không chủ động trong việc tìm kiếm các
nguồn vốn mà thường phụ thuộc vào người gửi tiền. Nhưng kinh tế càng phát
triển, các ngân hàng phát hiện ra rằng, nguồn vốn truyền thống theo định hướng
tiền gửi không đủ đáp ứng mức cầu tín dụng đang gia tăng của các khách hàng
doanh nghiệp và gia đình. Để thỏa mãn nhu cầu tín dụng gia tăng của giới doanh
nghiệp và cá nhân cần phải có những nguồn vốn mới: vay trên thị trường tiền tệ.
Tóm lại, vốn ngân hàng có thể được hiểu là những giá trị tiền tệ ngân hàng
tự có, huy động và tạo lập được để thực hiện cho vay, đầu tư và thực hiện các dich
vụ ngân hàng. Việc tạo lập và huy động vốn hình thành nên các khoản mục bên tài
sản nợ của bảng cân đối tài sản của ngân hàng thương mại cổ phần.
1.1.2. Các loại vốn trong ngân hàng thương mại cổ phần
Theo Luật Doanh nghiệp hiện hành, để bắt đầu hoạt động kinh doanh của
mình, doanh nghiệp phải thực hiện đăng ký kinh doanh, trong đó có đăng ký về vốn
điều lệ. Vốn điều lệ do các sáng lập viên góp hoặc cam kết góp khi thành lập doanh
nghiệp. Vốn điều lệ là tổng giá trị bằng tiền của tổng tài sản ban đầu góp vào doanh
nghiệp, vốn này có thể tồn tại dưới dạng tài sản cố định hữu hình, tài sản vô hình
và tiền mặt… được sử dụng để sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ. Trong
quá trình kinh doanh, khoản lợi nhuận phát sinh bằng chênh lệch giữa tổng doanh
thu và tổng chi phí sẽ làm tăng thêm vốn của chủ sở hữu và được sử dụng để trích
lập một số quỹ từ lợi nhuận sau thuế ngoài vốn điều lệ ban đầu.
Trong quá trình hoạt động, ngoài sử dụng vốn của chủ sở hữu, doanh nghiệp
phải tạo lập các nguồn vốn khác từ phát hành trái phiếu vay ngân hàng hoặc các tổ
chức, cá nhân khác để mở rộng đầu tư hoặc bổ sung vốn lưu động. Đây gọi là vốn
nợ. Cả vốn của chủ sở hữu và vốn nợ đều tạo nên tài sản của doanh nghiệp. Trong
bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, vốn là thể hiện bằng tiền toàn bộ giá trị tài
sản.

của Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 về ban hành danh mục mức
vốn pháp định của các TCTD, mức vốn pháp định của NHTM CP là 3.000 tỷ đồng.
Như vậy, số vốn điều lệ của NHTM CP tối thiểu phải bằng vốn pháp định do chính
phủ quy định.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, vốn điều lệ được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần. Tại thời điểm thành lập, các cổ đông sáng lập thỏa
thuận trong hợp đồng góp vốn thành lập công ty về số cổ phần sự định phát hành,
số cổ phần nắm giữ của các cổ đông sáng lập. Về bản chất, phát hành cổ phần là
hành vi pháp lý nhằm tạo lập vốn điều lệ.
- Quan hệ cổ phần và vốn điều lệ:
Luật TCTD 2010 cũng đã quy định, NHTM CP có cổ phần phổ thông, và có
thể có cổ phần ưu đãi (Cổ phần ưu đãi gồm hai loại là ưu đãi cổ tức và ưu đãi biểu
quyết).

11


Đối với cổ phần phổ thông, mỗi cổ phần có một quyền biểu quyết và cổ
đông có quyền hưởng cổ tức không có sự khác biệt về lợi ích giữa các cổ đông phổ
thông. Cổ phần ưu đãi trao quyền ưu đãi biểu quyết hoặc ưu đãi cổ tức cho cổ đông.

12


Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được ưu tên chi trả cổ tức với mức cao hơn
mức cổ tức trả cho cổ phần phổ thông hoặc được quy định mức ổn định hàng
năm. Cổ tức được chi trả hàng năm gốm cổ tức cố định và cổ tức thưởng. Tại
Khoản 4,
Điều 30, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 của Chính phủ về tổ chức
và hoạt động của Ngân hàng thương mại đã quy định cụ thể hơn đối với vấn đề



quyền ưu tên hơn trong phân phối lợi nhuận từ công ty hoặc được hoàn trả lại vốn
góp mà không bị bất cứ ràng buộc nào khi thực hiện quyền yêu cầu hoàn lại vốn cổ
phần đã góp.
(ii)

Thặng dư vốn: Trong quá trình hoạt động, vốn của chủ sở hữu có thể tăng lên

từ khoản thặng dư vốn phát sinh. Khi ngân hàng phát hành cổ phiếu mới, ngân
hàng sẽ thu được một phần chênh lệch giữa thị giá và mệnh giá. Theo hướng dẫn
của Bộ tài chính thì khoản chênh lệch này được gọi là thặng dư vốn. Mặc dù
khoản thặng dư này không được tính trong vốn điều lệ tại thời điểm thu tiền bán
cổ phần nhưng là một bộ phận cấu thành vốn của chủ sở hữu. Các cổ đông tuy là
đồng sở hữu đối với toàn bộ vốn và tài sản của ngân hàng nhưng cổ tức của họ
chỉ được xác định dựa trên mệnh giá cổ phần. Sau khi nhận tền cổ phần, thặng
dư vốn tồn tại riêng biệt với vốn điều lệ trong cơ cấu vốn của chủ sở hữu, nó chỉ
trở thành vốn điều lệ bằng hành vi ngân hàng phát hành cổ phiếu thưởng bằng
thặng dư cổ phần để chia cho cổ đông và người lao động.
(iii)
-

Quỹ:
Các quỹ dự trữ: Ngoài vốn điều lệ, nguồn vốn NHTM CP còn có các quỹ dự

trữ ngân hàng (đây là quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và
hoạt động của ngân hàng). Các quỹ dự trữ của ngân hàng còn được coi là nguồn tự
có và được bổ sung hàng năm từ lợi nhuận ròng của ngân hàng. Bao gồm các quỹ
sau:
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm của

Các khoản chênh lệch do định giá lại, bao gồm
-

Giá trị tăng thêm của tài sản cố định và giá trị tăng thêm của các loại chứng

khoán đầu tư (kể cả cổ phiếu đầu tư, vốn góp) được định giá lại theo quy định của
Pháp luật. Do giá trị thị trường của Tài sản có thể thay đổi theo thời gian nên vốn do
đánh giá lại tài sản thường không ổn định, vì vậy các ngân hàng chỉ được tính vào
vốn cấp 2 một phần giá trị tăng thêm của tài sản. Cụ thể là chỉ lấy 50% phần giá trị
tăng thêm của TSCĐ và 40% phần giá trị tăng thêm của các loại chứng khoán đầu
tư được định giá lại theo quy định của pháp luật.
-

Dự phòng chung: Kinh doanh của NH luôn gắn liền với rủi ro. Do vậy, các

ngân hàng đều trích lập các khoản dự trữ nhằm bù đắp tổn thất. Dự phòng chung
là khoản tền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được
trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường
hợp khó khăn về tài chính của NH khi chất lượng các khoản nợ suy giảm. Việc trích
lập và sử dụng dự phòng chung được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Thông tư số
39/2013/TT-NHNN ngày 31/12/2013 Quy định về xác định, trích lập, quản lý và sử
dụng khoản dự phòng rủi ro của Ngân hàng nhà nước VN thì, khoản dự phòng
chung được tính bằng 0,75% tổng tài sản có của NHNN. Số liệu về tổng tài sản có
của Ngân hàng nhà nước được lấy trên Bảng cân đối kế toán Quý 3 của năm xác
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status