ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
MAI THỊ THANH TUYỀN
KHẢO SÁT TIỂU TỪ TÌNH THÁI TRONG GIÁO TRÌNH
DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS – TS NGUYỄN VĂN CHÍNH
Hà Nội – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công
bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Mai Thị Thanh Tuyền
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS – TS Nguyễn Văn Chính,
ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn em một cách tận tình và tạo những điều kiện
tốt nhất có thể để em có cơ hội thực hiện và hoàn thành luận văn của mình.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Ngôn ngữ
5. KHXH&NV
: Khoa học xã hội và nhân văn
6. GTDTVCNNN
: Giáo trình dạy tiếngViệt cho người nước ngoài
7. KHXH
: Khoa học Xã hội
8. Khoa VNH&TV
: KVNH&TV
9. VVNH&KHPT
: Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
10. TVNC
: Tiếng Việt nâng cao
11. NXB
: Nhà xuất bản
12.TG
TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI. .............................................. 34
2.1. Các TTTT đƣợc phân loại theo tiêu chí cấu tạo từ. ............................ 34
2.1.1. Tiểu từ tình thái trong GTDTVCNNN có cấu tạo là từ đơn. ................ 34
2.1.2. Tổ hợp tình thái trong GTDTVCNNN ................................................. 39
2.2. TTTT và tổ hợp TT trong GTDTVCNNN phân theo vị trí. .............. 45
2.2.1. Nhóm các TTTT và tổ hợp TT đứng đầu phát ngôn. ............................ 45
2.2.2. Nhóm các TTTT và tổ hợp tình thái đứng cuối phát ngôn. .................. 48
2.3. Khả năng kết hợp của các TTTT trong GTDTVCNNN. ................... 50
2.3.1. Khả năng kết hợp của các TTTT với các yếu tố tạo câu (phát ngôn). .. 50
2.3.2. Khả năng kết hợp trong nội bộ nhóm TTTT. ........................................ 53
2.4. Tiểu từ tình thái trong GTDTVCNNN với việc đánh dấu các hành vi
ngôn ngữ. ........................................................................................................ 56
2.4.1. Tiểu từ tình thái đánh dấu hành vi hỏi. ................................................. 56
2.4.2. Tiểu từ tình thái đánh dấu hành vi cầu khiến. ....................................... 60
2.4.3. Tiểu từ tình thái đánh dấu hành vi khẳng định. .................................... 63
2.4.4. Tiểu từ tình thái đánh dấu hành vi phủ định. ........................................ 63
2.5. TTTT biểu thị thái độ, tình cảm của ngƣời nói đối với sự việc trong
phát ngôn........................................................................................................ 64
2.6. TTTT thể hiện phép lịch sự. .................................................................. 65
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2................................................................................... 73
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GỢI Ý KHI GIẢNG DẠY TTTT TRONG GIÁO
TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI......................... 74
3.1. Sử dụng TTTT trong văn hóa giao tiếp. .............................................. 74
3.2. TTTT trong các cấp độ giảng dạy cho ngƣời nƣớc ngoài. ................. 78
3.3. Một số kiến nghị trong việc giảng dạy TTTTCNNN .......................... 83
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3................................................................................... 86
PHẦN KẾT LUẬN ......................................................................................... 87
TƢ LIỆU NGHIÊN CỨU
Bảng tổng hợp phân loại TTTT và Tổ hợp
TT được sử dụng trong GTDTVCNNN
50
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Việc nghiên cứu, giảng dạy ngoại ngữ (ngôn ngữ thư hai) trên thế giới
được bắt đầu vào thế kỷ XVI, tiếp tục phát triển trong các thế kỷ tiếp theo và
trở thành một ngành khoa học ứng dụng có vị trí vững chắc và có tầm ảnh
hưởng khá lớn trong thế kỷ XX. Chính nhu cầu học và dạy ngoại ngữ cũng là
một động lực thúc đẩy khoa học ngôn ngữ trong việc tìm hiểu, xem xét cấu
trúc, chức năng một ngôn ngữ cụ thể. Đồng thời với các nghiên cứu ngôn ngữ
học, việc đề xuất các phương pháp dạy và học ngôn ngữ cũng được chú ý từ
rất sớm.
Với tư cách là một ngoại ngữ, tiếng Việt đã dần trở thành một đối tượng
được nhiều người ở nhiểu quốc gia khác nhau trên thế giới học tập. Từ những
năm 60 của thế kỉ trước, đã có một số sinh viên từ các quốc gia đến Việt Nam
học tiếng lịch sử văn hóa Việt Nam như: Cuba, Nga, Lào, Trung Quốc, Triều
Tiên, Ba Lan…Những năm gần đây, do mối quan hệ của Việt Nam ngày càng
được mở rộng nên số lượng học viên người nước ngoài khắp nơi trên thế giới
đến Việt Nam học tiếng Việt không ngừng tăng. Đồng thời những cơ sở đào
tạo tiếng Việt cho người nước ngoài cũng xuất hiện nhiều hơn ở Hà Nội,
Tp.Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng…
Đáp ứng nhu cầu học tập tiếng Việt ngày càng đông của người nước
ngoài và phục vụ cho việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ được hiệu
quả, chúng ta đã xây dựng được hệ thống các giáo trình ở tất cả các trình độ
và đang dần hoàn thiện các bộ giáo trình tiếng Việt chuyên ngành. Những bộ
giáo trình này là cơ sở giúp người nước ngoài tiếp cận với tiếng Việt một cách
các bài học khi xây dựng giáo trình. Tự hạn định đối tượng khảo sát là các
TTTT tiếng Việt, ngoài việc muốn tìm hiểu sự thể hiện loại từ này trong các
sách dạy tiếng Việt ra sao, chúng tôi cũng muốn làm một việc có ý nghĩa thực
tiễn, giúp ích cho công việc mà chúng tôi đảm nhiệm là dạy tiếng Việt cho
người nước ngoài.
2
Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi lựa chọn tìm hiểu nhóm TTTT trong
một số giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đã được biên soạn và
xuất bản ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỉ XX cho đến gần đây (năm
2013) làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu.
Bên cạnh đó trong quá trình khảo sát, chúng tôi cũng quan tâm đến một
số tập bài giảng, giáo trình được sử dụng ở các cơ sở đào tạo nước ngoài khi
cần để kiểm chứng…
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu: Với đề tài nghiên cứu “Khảo sát tiểu từ tình thái
trong giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài”, chúng tối muốn thực
hiện các mục đích sau:
Tìm hiểu, khảo sát và phân tích vai trò và tác dụng của các TTTT trong
giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Trên cơ sở đó đưa ra các đánh
giá, nhận xét về việc dùng các TTTT tiếng Việt trong các giáo trình này.
Bước đầu đề xuất một vài kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
nhóm TTTT cho học viên người nước ngoài.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tóm tắt những nét cơ bản nhất về lý thuyết tình thái và một số khái niệm
có liên quan.
Khảo sát, tìm hiểu các TTTT TV trong một số giáo trình dạy tiếng Việt
cho người nước ngoài. Do hạn chế về mặt thời gian nên chúng tôi chỉ lựa
cứu khoa học và giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Đồng thời,
những kết luận, nhận xét của luận văn cũng góp một tiếng nói xây dựng cho
các tác giả trong công tác chỉnh lý, biên soạn các giáo trình dạy tiếng Việt cho
người nước ngoài.
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm ba chương:
Mở Đầu:
1. Lý do chọn đề tài.
4
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
5. Ý nghĩa luận văn
6. Bố cục luận văn.
Nội Dung:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết.
Chương 2: TTTT trong GTDTVCNNN.
Chương 3: Một số gợi ý khi giảng dạy TTTT trong giáo trình dạy tiếng
Việt cho người nước ngoài.
Kết Luận.
5
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
nào…Ch.Bally cho rằng chính những yếu tố ấy là “linh hồn của câu”. Cuối
cùng Ch.Bally đã định nghĩa:"Tình thái là thái độ của ngƣời nói đƣợc biểu thị
đối với sự việc hay trạng thái đƣợc diễn đạt trong câu". (dẫn theo [16,10]).
Quan điểm này của Ch.Bally đã được Fillmore phát triển khi ông nghiên cứu
cấu trúc của câu, ông đã chia cấu trúc nghĩa của câu thành hai phần chính là
mệnh đề và tình thái, được triển khai theo công thức: S = M + P (S-Modus, PProposion).
Noam Chomsky, người mở đường cho ngữ pháp cải biến tạo sinh, có
một cách nhìn khác về tình thái khi cho rằng: Câu bao giờ cũng phải là câu
khẳng định, câu nghi vấn hay là câu mệnh lệnh. Tính chất khác nhau của
những câu đó là “tình thái”. Như vậy, tình thái là yếu tố buộc phải có, để cùng
với “hạt nhân” tạo ra câu cơ sở. Và không thể nào có một câu mà không có
tình thái, tức không thuộc một trong các kiểu câu nói trên. Cũng không thể
nào một câu có hai, ba tình thái, tức là cùng một lúc thuộc hai, ba kiểu câu.
(dẫn theo [22, 743-744]). Như vậy, so với quan điểm của Ch. Bally thì ông
không xét riêng đến thái độ tình cảm của người nói mà chỉ xét đến các yếu tố
phân biệt kiểu câu. Nhưng có thể nhìn nhận rằng: Thái độ tình cảm đã được
bao trùm ở trong tình thái – yếu tố xác định kiểu câu, vì kiểu câu là sự biểu thị
hai quan hệ gắn bó với nhau (quan hệ giữa người nói với thế giới và quan hệ
giữa người nói với người nghe). Vì vậy, tình thái trong cách nhìn của
N.Chomsky và tình thái trong cách nhìn của Ch. Bally tuy có khác nhau nhưng
về cơ bản không đối lập, mâu thuẫn với nhau.
J. Lyons: (1980) [26] một câu thường tồn tại 3 kiểu nghĩa tình thái cơ
bản là:
Tình thái tất yếu và khả năng: Loại tình thái này bắt nguồn từ sự phân
chia của các nhà logic.
Tình thái nhận thức: Là kiểu tình thái liên quan đến tính thực tế, tính
hiện thực
7
Theo tác giả, cấu trúc câu với tư cách lời trao đổi gồm phần thức và
phần dƣ. Phần thức diễn đạt quan hệ liên nhân, phần dƣ diễn đạt sự việc hữu
quan. Phần thức gồm biểu thức thức (chỉ thái độ của người nói với người
nghe) và các yếu tố tình thái khác (tình thái tố) (chỉ cách nhìn của người nói
đối với sự việc được nói đến) (dẫn theo [2, 29]). Như vậy, phần thức tương
đương với modus, phần dƣ tương đương với dictum của Ch. Bally.
Cao Xuân Hạo trong cuốn “Tiếng Việt - sơ thảo ngữ pháp chức năng”
đã đưa ra quan niệm của mình như sau: Trong lôgic học, nội dung của một
mệnh đề được chia làm hai phần là: ngôn liệu và tình thái với cách hiểu như
sau:
Ngôn liệu: “ tức là cái tập hợp gồm sở thuyết (vị ngữ lôgic) và các tham
tố của nó đƣợc xét nhƣ một mối liên hệ tiềm năng”. (dẫn theo [9,50]).
Tình thái là: “Cách thực hiện mối liên hệ ấy, cho biết mối quan hệ ấy là
có thật (hiện thực) hay là không có (phủ định nó, coi nó là phi hiện thực), là
tất yếu hay phi tất yếu, là có thể có đƣợc hay không thể có đƣợc”. (dẫn theo
[9,50]).
Hoàng Trọng Phiến: có bàn đến tính tình thái như một điều kiện để tạo
câu khi xác định các điều kiện để tạo câu (cùng với tính vị ngữ). Ông quan
niệm: “câu bao giờ cũng mang tính tình thái nhất định. Tính tình thái là phạm
trù ngữ pháp của câu”, “nó có tác dụng thông báo một điều gì mới mẻ. Qua
câu, người nhận hiểu rõ người nói có thái độ như thế nào đối với hiện thực,
người nói trình bày hiện thực với sự đánh giá của mình” (đánh giá đúng hay
sai, tin hay ngờ, ước đoán hay đã tồn tại thực, khuyên bảo hay ra lệnh…),
(dẫn theo [17,30]).
Nguyễn Văn Hiệp:
Cũng giống nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ khác, trong cuốn “Cơ sở
ngữ nghĩa phân tích cú pháp”, Nguyễn Văn Hiệp đồng ý với quan điểm của
người nói không đảm bảo hoàn toàn tính chân thực của nó.
10
Ở tình thái đạo nghĩa, tính không thực hữu thể hiện ở hành động tương
lai mà người nói muốn người nghe thực hiện hay tự mình thực hiện. Những
phát ngôn thuộc nhóm điều khiển đều có thể phân tích như là những phát
ngôn áp đặt ai đó nghĩa vụ phải làm cho mệnh đề được nêu trong phát ngôn
trở thành hiện thực trong một tương lai nào đó. (dẫn theo [12, 103-111]).
1.1.2. Các phƣơng tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái.
Cùng với sự phong phú của các ý nghĩa tình thái, các phương tiện dùng
để biểu thị ý nghĩa tình thái cũng rất đa dạng. Có một số công trình đã đề cập
đến các phương tiện biểu thị tình thái trong ngôn ngữ nói chung và trong
tiếng Việt nói riêng như: Nguyễn Thị Lương (1996) [16], Phạm Hùng Việt
(2003) [24], Nguyễn Văn Hiệp (2008) [12]…Tuy nhiên, có thể tổng hợp một
số phương tiện chính biểu thị ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt như sau:
Phƣơng tiện ngữ âm:
Trong những câu vắng mặt các phương tiện từ ngữ tình thái thì ngữ điệu
là một trong những phương tiện thể hiện thể hiện ý nghĩa tình thái trong phát
ngôn. Một phát ngôn có hình thức tường thuật nhưng được phát âm với những
ngữ điệu khác nhau cũng cho ta các kiểu câu khác nhau và những ý nghĩa tình
thái khác nhau. Ta hãy xét các ví dụ sau.
Ví dụ:
(1) Anh cũng chỉ đọc trong sách thôi mà.
(VI, 192)
- Anh cũng chỉ đọc trong sách thôi mà. Phát ngôn với ngữ điệu đi lên
cho ta phát ngôn có đích ở lời là hỏi (chất vấn).
- Anh cũng chỉ đọc trong sách thôi mà. Phát ngôn hạ giọng ở hai âm tiết
cuối “thôi mà” ta sẽ có một phát ngôn có đích là hành động phân trần, giải
Động từ + cả + danh từ: điên cả tiết, bực cả mình…
Các kiểu câu điều kiện, giả định: nếu…thì…; giá…thì…
1.1.3. Sự phân loại các kiểu tình thái.
Tình thái trước hết được đa số các nhà nghiên cứu phân thành hai loại
chính: Tình thái khách quan và tình thái chủ quan.
12
- Tình thái khách quan (TTKQ: thuộc phạm vi nghiên cứu của logic học,
nó liên quan tới hiện thực, là một phần của việc miêu tả thế giới. Theo
J.Liapon, nó là dấu hiệu tất yếu của một phát ngôn bất kì, thể hiện mối quan
hệ giữa cái được thông báo với thực tế ở bình diện hiện thực tính. TTKQ
trong logic học không tính đến vai trò của chủ thể phát ngôn. Những câu sau
đây, theo logic học, là đồng nhất về tình thái:
- Có lẽ Mary đã đến trƣờng.
- Nghe đâu Mary đã đến trƣờng.
- May ra Mary đã đến trƣờng.
- Nhỡ ra Mary đã đến trƣờng.
- Tôi nghĩ Mary đã đến trƣờng.
Chúng đều được xếp vào loại phán đoán CÓ THỂ, và đều được biểu diễn
như nhau trong logic hình thức là: “có thể Mary đến trường”
- Tình thái chủ quan (TTCQ): thuộc phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ
học, nó diễn đạt thái độ của người nói cũng theo tác giả J.Liapon, nó là dấu
hiệu không bắt buộc của một phát ngôn, thể hiện mối quan hệ của người nói
với điều được nói ra. Dung lượng ngữ nghĩa của TTCQ rộng hơn dung lượng
ngữ nghĩa của TTKQ và không đồng loại.
TTCQ được các nhà nghiên cứu phân biệt thành hai phạm trù chính là:
tình thái nhận thức (Epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa (Deontic
modality). Tình thái nhận thức, theo F.R.Palmer không chỉ liên quan đến tình
số phương tiện tình thái nói riêng, chủ yếu gắn với cấu trúc Đề - Thuyết. Ông
phân biệt hai loại tình thái:
- Tình thái của hành động phát ngôn (Modalité d’esnonciation) phân biệt
các lời nói về phương diện mục tiêu và tác động trong giao tiếp. Đó chính là
sự phân biệt giữa các loại câu: trần thuật, hỏi, cầu khiến mà ngữ pháp truyền
thống đã miêu tả. Tình thái của hành động phát ngôn thuộc về lĩnh vực dụng
pháp.
14
- Tình thái của lời phát ngôn (Modalité d’ énoncé) liên quan đến thái độ
của người nói đối với điều mình nói ra hoặc đến quan hệ giữa sở đề và sở
thuyết của mệnh đề. Tình thái của lời phát ngôn thuộc về lĩnh vực nghĩa học.
Trong những năm gần đây, nhằm bao quát hơn bức tranh về tình thái,
nhiều nhà nghiên cứu đã nêu ra một sự phân biệt mới, đó là sự phân biệt tình
thái căn bản (Root Modality) với tình thái nhận thức (Epistemic Modality).
Chúng tôi xin trình bày một cách vắn tắt sự phân biệt này như sau:
Tình thái căn bản (Root Modality) có thể được định nghĩa như là tình
thái của hành động (modality of action). Tình thái căn bản được chia ra thành
hai loại: một loại là tình thái đạo nghĩa và loại kia, theo cách gọi của Palmer
(1986) là tình thái trạng huống (deontic modality).
Đối lập với tình thái căn bản là tình thái nhận thức (Epistemic Modality),
viết tắt là TTNT. Tình thái nhận thức là tình thái của sự hiểu biết, thể hiện
tình trạng (status) hiểu biết của người nói, đó là sự xác nhận, cũng như những
đảm bảo, cam kết cá nhân của người nói đối với điều anh ta nói ra. Lyons
(1980) [26] cho rằng TTNT là cách trình bày thế giới quan điểm của người
nói, tức tình thái này liên quan đến hiện thực, nhưng là hiện thực thông qua
lăng kính chủ quan của người nói. Như đã trình bày ở trên, người ta chia tình
thái nhận thức thành ba loại: tình thái thực hữu (factual), tình thái không thực
trong mối quan hệ với từ, tổ hợp từ mà chúng đi kèm” (dẫn theo [2,553])
Nguyễn Tài Cẩn [4] quan niệm: “tiểu từ tình thái (còn đƣợc gọi là trợ
từ) là những từ không giải thích đƣợc về mặt nghĩa nhƣng nó có vai trò quan
trọng trong việc tạo lập, phân loại câu”.
Đinh Văn Đức [8] đã định nghĩa như sau: “tiểu từ tình thái là những từ
biểu đạt ý nghĩa tình thái trong mối quan hệ với mục đích phát ngôn biểu thị
cảm xúc ngƣời nói”
Phan Mạnh Hùng cho rằng “tiểu từ tình thái” là hƣ từ biểu thị thái độ
của ngƣời nói với thực tại hoặc với đối tƣợng phát ngôn” [13]. Lớp từ này có
vai trò, vị trí quan trọng trong giao tiếp.Việc xác định và phân loại TTTT là
16
một việc rất khó khăn, bởi lẽ các TTTT tiếng Việt có khả năng diễn đạt nghĩa
rất tinh tế, biểu đạt đa dạng và phong phú các sắc thái biểu cảm.
Trong luận án của mình, Nguyễn thị Lương cũng dẫn ra khái niệm về
TTTT của F.Keifer làm căn cứ cho luận án như sau:
“tiểu từ tình thái là những tiểu từ có hiệu lực tạo tính tình thái” (dẫn theo
[16,5])
Tác giả cũng đã tổng hợp và chia thành ba nhóm chính:
+ Các tiểu từ như: à, ƣ, nhỉ...thường có hiệu lực tạo tình thái nghi vấn,
tạo câu hỏi cần có sự giải đáp.
+ Các tiểu từ như: đi, nào, thôi...thường có hiệu lực tạo tính tình thái cầu
khiến, bày tỏ mong muốn của người phát ngôn với người nghe.
+ Các tiểu từ như: thay, thế, sao...thường có hiệu lực bộc lộ trạng thái,
cảm xúc của người phát ngôn.
Những nghiên cứu và cách định nghĩa trên đây của các tác giả cho thấy,
vấn đề định nghĩa của tiểu từ tình thái vẫn còn chưa thống nhất. Thật khó để
đưa ra một định nghĩa chính xác cho các tiểu từ tình thái câu tiếng Việt. Song
thức vừa có chức năng diễn đạt thái độ của người nói đối với người nghe
(kính trọng hay thân hữu).
Ví dụ (2):
Marry: Xin lỗi. Anh làm ơn xem giúp mấy giờ rồi ạ?
(V, 197)
Tiểu từ “ạ” của Marry trong phát ngôn góp phần thể hiện sắc thái tình
cảm lịch sự và trang trọng. Tuy không biết người đi đường này là người có vị
thế như thế nào, ở độ tuổi bao nhiêu, nhưng cô ấy đang làm phiền tới người
này (đó là hành động hỏi giờ) nên cô ấy sử dụng TTTT “ạ” là có ý tôn trọng,
lịch sự tới người mà cô ấy đang làm phiền.
+ Ngữ thái từ làm phức của thức cầu khiến.
Những ngữ thái từ chuyên dụng là: đi, thôi, nào, nhé, đã, với…(với sắc
thái dịu nhẹ), đứng ở cuối câu với sắc thái thân hữu, hai từ nào, thôi thường
dùng với ngôi thứ nhất bao gồm có thể dùng kết hợp với từ đi.
18