BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN TUẤN TÚ
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT
THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN TUẤN TÚ
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT
THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận nhà nước và pháp luật
Mã số: 60380101
Bộ luật tố tụng hình sự
Hội đồng nhân nhân
Ủy ban nhân dân
Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân tối cao
Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1
7
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
7
1.1 Thi hành án hình sự và kiểm sát thi hành án hình sự
7
1.1.1 Thi hành án hình sự
7
1.1.2. Khái quát về kiểm sát thi hành án hình sự
9
1.2. Nội dung pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự
22
1.2.1. Kiểm sát thi hành án tử hình
22
1.2.2. Kiểm sát việc thi hành hình phạt tù
23
52
KẾT LUẬN CỦA CHƯƠNG 1
56
CHƯƠNG 2
57
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THỜI GIAN TỚI
57
2.1. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự
của Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian qua
57
2.1.1. Những thành tựu trong tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát thi
hành án hình sự
57
2.1.2. Những hạn chế trong tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát thi
hành án hình sự
72
2.1.3. Nguyên nhân……………………………………………………………75
2.2. Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự trong thời
gian tới
78
2.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự
78
2.2.2. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ của cán bộ trong ngành
Kiểm sát nhân dân thực hiện hoạt động kiểm sát thi hành án hình sự 79
2.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức,
cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” [21].
Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thi hành án hình sự như vậy cho nên
Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm và Nhà nước đã ban hành nhiều văn
bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho hoạt động này. Tuy nhiên để bảo đảm cho
việc thi hành án hình sự đạt được hiệu quả cao thì một trong những biện pháp quan
trọng là phải tăng cường công tác kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND).
Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Nhà nước đã ban hành Luật tổ chức VKSND năm
2014 và các văn bản có liên quan, tạo cơ sở pháp lý để VKSND tiến hành kiểm sát
hoạt động tư pháp nói chung, kiểm sát hoạt động thi hành án hình sự nói riêng. Vì
vậy, việc tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung, kiểm
sát việc thi hành án hình sự nói riêng đang trở nên vô cùng cấp thiết.
Trong những năm qua, công tác kiểm sát thi hành án hình sự đã góp phần
quan trọng vào việc giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội. Bên cạnh những đóng góp tích
cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, thực tiễn tổ chức thực hiện pháp
luật về kiểm sát việc thi hành án hình sự cũng đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi khoa học
8
pháp lý phải nghiên cứu, giải quyết để làm sáng tỏ về mặt lý luận như cũng như
thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm sát việc thi hành án hình sự ở nước ta
trong bối cảnh hiện nay.
Trước tình hình trên, chúng tôi chọn chủ đề "Tổ chức thực hiện pháp luật về
kiểm sát thi hành án hình sự ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài luận văn thạc sỹ luật
học nhằm giải quyết các vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong công
tác tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự, góp phần hoàn thiện
các quy định của pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự, hướng dẫn thống nhất
áp dụng các quy định pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự và nâng cao hiệu
quả kiểm sát việc thi hành án hình sự.
luật học, 2000; “Kết quả và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm
sát thi hành án hình sự”, Huy Vũ, Tạp chí kiểm sát số 18/2014; “Kỹ năng hoạt
động kiểm sát thi hành án hình sự”, Đào Hợi, Tạp chí kiểm sát số 10/2005.
Các công trình nghiên cứu hoặc các bài viết trên chủ yếu phân tích và bình
luận về công tác tổ chức thực hiện pháp luật nói chung, hoặc chỉ nghiên cứu hoạt
động kiểm sát thi hành án hình sự dưới một số góc độ nhất định như về kỹ năng, về
kết quả, hiệu quả công tác hoặc việc tuân theo pháp luật,... mà chưa nghiên cứu cụ
thể và đầy đủ, toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn của hoạt động tổ chức thực
hiện pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự, lý giải các yếu tố ảnh hưởng đến chất
lượng thực hiện pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự, các biện pháp, giải pháp
đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự.
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu, các bài
viết, đồng thời bằng kinh nghiệm thực tiễn và vốn hiểu biết của mình, học viên trình
bày trong luận văn cơ sở lý luận, thực trạng việc tổ chức thực hiện pháp luật về
kiểm sát thi hành án hình sự của VKSND ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đưa
ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật kiểm sát thi hành
án hình sự trong thời gian tới.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của Luận văn
Mục tiêu của luận văn là: Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích làm rõ những
vấn đề lý luận chung về công tác tổ chức thực hiện pháp luật của VKSND trong
10
kiểm sát việc thi hành án hình sự, đánh giá thực trạng của công tác này, tác giả luận
văn đề xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp
luật về kiểm sát thi hành án hình sự ở Việt Nam trong thời gian tới.
Để đạt được mục tiêu đó, Luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
a. Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về tổ chức thực hiện
pháp luật và kiểm sát việc thi hành án hình sự, như khái niệm, đặc điểm của kiểm
niệm như thi hành án hình sự, kiểm sát việc thi hành án hình sự, pháp luật về kiểm
sát việc thi hành án hình sự, thực hiện pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự và
tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự. Các kết quả trên đã góp
phần làm phong phú thêm hệ thống tri thức khoa học về tổ chức thực hiện pháp luật
về kiểm sát thi hành án hình sự. Về mặt thực tiễn, tác giả luận văn đã đánh giả thực
trạng tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự và để xuất các giải
pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả về tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát thi
hành án hình sự trong thời gian tới. Các kết quả này có giá trị tham khảo đối với các
cơ quan thực tiễn trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát thi hành án
hình sự ở Việt Nam hiện nay.
7. Các câu hỏi nghiên cứu của Luận văn
Luận văn được xây dựng để trả lời cho ba câu hỏi chính:
Thứ nhất, pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về tổ chức thực hiện
pháp luật kiểm sát thi hành án hình sự?
Thứ hai, thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát thi hành án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam ?
Thứ ba, giải pháp nào có thể đưa ra để nâng cao việc tổ chức thực hiện pháp
luật về kiểm sát thi hành án hình sự trong thời gian tới?
8. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận chung và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận
văn được kết cấu thành 2 chương:
12
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm sát thi
hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp
luật về kiểm sát thi hành án hình sự ở nước ta trong thời gian tới.
hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 255 BLTTHS năm 2003, Điều 2 Luật thi
hành án hình sự năm 2010 nhưng chưa quá thời hiệu thi hành bản án theo quy định
tại Điều 55 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2009, bao gồm: những bản án và quyết
định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc
thẩm; những bản án và quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; những quyết định của
Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Thi hành án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự và có thể coi đó là
giai đoạn cuối cùng của một vụ án hình sự. Công tác điều tra, truy tố và xét xử là rất
quan trọng và quyết định hình phạt của Toà án chính là sự đánh giá, sự lên án của
Nhà nước đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Nếu chỉ dừng ở mức
đánh giá, lên án mà không thực hiện bằng các biện pháp mang tính cưỡng chế đặc
trưng của quyền lực nhà nước thì tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa và tính chịu
hình phạt hạn chế, thậm chí là không có tác dụng. Chính vì vậy, pháp luật hình sự
đã có những quy định cụ thể về thi hành án hình sự; các ngành tư pháp trung ương
nói chung và Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) nói riêng cũng đã ban hành một
14
số thông tư liên tịch, nghị quyết để hướng dẫn một số quy định của BLHS năm
2009, BLTTHS năm 2003 về thi hành án hình sự nhằm đảm bảo việc thi hành
nghiêm túc các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có
hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay.
Nội dung thi hành án hình sự rất rộng, bao gồm: thủ tục, chế độ, tổ chức thi
hành án, áp dụng các biện pháp hành chính, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội và thực
hiện chế độ, chính sách đối với người bị kết án. Các quan hệ xã hội cụ thể phát sinh
trong quá trình thi hành và chấp hành hình phạt như: việc đưa bản án ra thi hành,
chỉ định cơ quan tổ chức thi hành án, tổ chức lực lượng, cơ sở vật chất đảm bảo cho
thi hành án; quản lý nhà nước về công tác thi hành án; quy định về quyền và nghĩa
vụ của người chấp hành án; nghĩa vụ của cơ quan nhà nước hữu quan... do pháp luật
15
có tác dụng thúc đẩy công tác thi hành án, hạn chế những vi phạm và góp phần bảo
đảm hiệu quả, hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án. Việc hiểu, nhận thức
đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về công tác thi hành án và công tác kiểm
sát thi hành án là yêu cầu bắt buộc đối với cán bộ kiểm sát làm công tác kiểm sát thi
hành án.
Hiện nay, đang có những quan điểm cho rằng bản chất của hoạt động thi
hành án nói chung và thi hành án hình sự nói riêng không phải là hoạt động tư pháp
mà chỉ là hoạt động hành chính- tư pháp, điều này có nghĩa là hoạt động thi hành án
không phải là đối tượng kiểm sát của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của
Viện kiểm sát. Chúng tôi cho rằng vấn đề xác định về phương diện lý luận của khái
niệm như thế nào là hoạt động tư pháp là một vấn đề phức tạp, cần được xem xét
không chỉ trên phương diện lý luận đơn thuần mà cả trên phương diện lịch sử.
Khoản 1 Điều 25 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã quy định rõ: “Viện kiểm sát
nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án,cơ quan thi hành án hình sự,
cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, người có thẩm
quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi hành án hình sự”.
Theo quy định này, khi thực hiện công tác kiểm sát thi hành án hình sự, VKSND
kiểm sát việc tuân theo pháp luật không chỉ đối với hoạt động của các cơ quan nhà
nước, tổ chức mà cả đối với cá nhân, bao gồm những người phải thi hành bản án và
quyết định của Tòa án cũng như người được thi hành bản án và quyết định đó.
Trong số các chủ thể là đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát khi thực hiện công tác
kiểm sát thi hành án thì cơ bản và trọng tâm là hoạt động tuân theo pháp luật của
các cơ quan nhà nước, tổ chức và đơn vị trong hoạt động thi hành án bởi lẽ nếu xảy
ra vi phạm pháp luật trong cơ quan nhà nước thì hậu quả của nó lớn hơn gấp nhiều
lần so với một vi phạm của công dân.
Tóm lại, kiểm sát thi hành án hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát kiểm
sát việc tuân theo pháp luật của TAND, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ
quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án
của Tòa án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ
quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự và người có trách
nhiệm trong việc thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 10 Luật thi hành án hình sự năm 2010, hệ thống tổ
chức thi hành án hình sự bao gồm: cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi
hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự. Cơ quan
quản lý thi hành án hình sự được tổ chức ở Bộ công an và Bộ quốc phòng, trại giam
thuộc quân khu (gọi là trại giam); cơ quan thi hành án hình sự công an tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương (gọi là cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh); cơ
quan thi hành án hình sự công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi là
cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện); cơ quan thi hành án hình sự quân
khu và tương đương (gọi là cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu). Cơ quan
được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự bao gồm: Trại giam thuộc Bộ công
an, trại tạm giam thuộc Bộ quốc phòng, trại giam thuộc công an cấp tỉnh, trại tạm
giam cấp quân khu (gọi là trại giạm giam); UBND cấp xã, phường, thị trấn (gọi là
UBND cấp xã); Đơn vị quân đội cấp trung đoàn và tương đương (gọi là đơn vị quân
đội).
1.1.2.4. Nguyên tắc kiểm sát thi hành án hình sự
Theo Điều 4 Quy chế tổ chức và hoạt động của vụ kiểm sát việc tạm giữ, tạm
giam và thi hành án hình sự (Vụ 8) của VKSNDTC ban hành ngày 29/01/2013 về
các nguyên tắc trong hoạt động kiểm sát thi hành án hình sự của Vụ 8. Theo đó: a)
Vụ 8 làm việc theo chế độ Thủ trưởng; mọi hoạt động của Vụ 8 phải tuân thủ quy
định của pháp luật, quy chế tổ chức, hoạt động của Vụ 8; công chức thuộc
Vụ 8 phải thực hiện đúng phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn; b) Đảm bảo tuân thủ trình
tự, thủ tục và thời hạn giải quyết công việc theo đúng quy định của pháp luật,
chương trình, kế hoạch, lịch làm việc và quy chế làm việc, trừ trường hợp đột xuất
hoặc có yêu cầu khác của lãnh đạo Viện; c) Bảo đảm phát huy năng lực và sở
17
trọng như phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác, dự án luật, dự án pháp lệnh,
v.v… (các Điều 43, 45, 47, 53 và 55 Luật tổ chức VKSND năm 2014). Khi Viện
trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì vẫn thực
hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo lên cấp trên (lên Ủy ban
Thường vụ Quốc hội nếu là Viện trưởng VKSNDTC; lên Viện trưởng VKSNDTC
nếu là Viện trưởng VKSND cấp tỉnh). Như vậy, quy định này vừa bảo đảm mở rộng
dân chủ, phát huy trí tuệ của tập thể, vừa đề cao trách nhiệm của Viện trưởng.
Trong tổ chức và hoạt động của mình, VKSND không lệ thuộc vào bất cứ
một cơ quan nhà nước nào ở địa phương. Các VKSND thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của mình một cách độc lập, không chịu sự chi phối bởi các cơ quan nhà nước ở
địa phương, mà chỉ chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSNDTC. Đối với hoạt
động kiểm sát việc tuân theo pháp luật nói chung và kiểm sát thi hành án hình sự
18
nói riêng, các VKSND chỉ phụ thuộc vào Hiến pháp, các đạo luật, pháp lệnh và các
văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động kiểm sát thi hành án hình sự của Quốc
hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị của
Viện trưởng VKSNDTC. Điều đó cũng có nghĩa là các cơ quan nhà nước ở địa
phương không có quyền can thiệp vào hoạt động của VKSND, đem lại hiệu quả cao
trong hoạt động chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp.
- Nguyên tắc đảm bảo tuân thủ trình tự, thủ tục và thời gian giải quyết công việc
Nguyên tắc đảm bảo tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và thời gian giải quyết
được hiện thức hóa bằng pháp luật thông qua các quy định tại BLTTHS năm 2003
và Luật thi hành án hình sự năm 2010. Cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát
thi hành án hình sự phải đảm bảo việc thực hiện pháp luật của các cơ quan được
giao nhiệm vụ thi hành án hình sự tuân theo trình tự, thủ tục và thời gian đúng theo
quy định của pháp luật.
- Nguyên tắc phát huy năng lực và sở trường của cán bộ, kiểm sát viên, trao
thực hiện pháp luật về thi hành án hình sự, địa điểm, thời gian tổ chức công việc
cũng đã là những thông tin hữu ích giúp cho việc tổ chức thực hiện pháp luật về
kiểm sát thi hành án hình sự trở nên dễ dàng hơn. Không phải vô cớ mà yêu cầu
thiết lập các đầu mối thông tin được lặp đi lặp lại nhiều lần trong các nguyên tắc
của Tổ chức Thương mại thế giới cũng như các cam kết gia nhập tổ chức này của
nước ta.
1.1.2.5. Phương thức kiểm sát thi hành án hình sự
Căn cứ Điều 25, 26 Luật tổ chức VKSND năm 2014; Điều 141, 142 Luật thi
hành án hình sự năm 2010 và Chương IV Quy chế kiếm sát việc tạm giữ, tạm giam
và thi hành án hình sự thì phương thức thực hiện hoạt động kiểm sát thi hành án
hình sự được thông qua 02 phương thức sau:
- Kiểm sát trực tiếp: bao gồm định kỳ kiểm sát và đột xuất kiểm sát.
Định kỳ kiểm sát được quy định như sau:
+ Đối với trại tạm giam thuộc công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu:
Hàng tuần kiểm sát về thủ tục trong việc tạm giữ, tạm giam theo quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự, ba tháng một lần trực tiếp kiểm sát theo từng nội dung, sáu
tháng một lần kiểm sát toàn diện về tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người
chấp hành án phạt tù.
Đối với trại tạm giam thuộc Bộ công an, trại tạm giam thuộc Bộ quốc
phòng: Hàng tháng kiểm sát về thủ tục trong việc tạm giữ, tạm giam theo quy định
của BLTTHS một năm trực tiếp kiểm sát toàn diện hai lần về việc tạm giữ, tạm
giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.
+ Đối với trại giam thuộc Bộ công an, trại giam thuộc Bộ quốc phòng một
năm hai lần trực tiếp kiểm sát toàn diện việc tuân theo pháp luật trong quản lý và
giáo dục người chấp hành án phạt tù.
+ Đối với cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cấp huyện, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu và UBND cấp xã một năm trực tiếp kiểm sát một
lần.
+ Đối với cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự (UBND;
đơn vị quân đội), cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành biện pháp tư pháp
Trực tiếp kiểm sát định kỳ và đột xuất do Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc
Kiểm sát viên được uỷ quyền tiến hành.
- Kiểm sát gián tiếp
Đây là phương thức được áp dựng theo quy định tại khoản 2 Điều 25, khoản
2 Điều 26 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 26 Quy chế kiểm sát việc tạm
giữ, tạm giam và thi hành án hình sự năm 2013.
Tuỳ theo tình hình, căn cứ vào tính chất, mức độ của vi phạm của Tòa án, cơ
quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ trong thi hành án hình
sự hoặc do yêu cầu thông tin mà có thể yêu cầu Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự,
cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự kiểm tra những nơi đó và
thông báo kết quả theo quy định.
Yêu cầu tự kiểm tra thường được áp dụng khi phát hiện có dấu hiện vi phạm
pháp luật hoặc đã có vi phạm xảy ra ở nơi giam giữ nhưng chưa có điều kiện để
kiểm sát. Mặt khác Kiểm sát viên cũng phải có cơ sở để khẳng định việc tự kiểm tra
của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự; cơ quan được giao một số nhiệm vụ trong
thi hành án hình sự là khách quan và đạt hiệu quả thì áp dụng thẩm quyền này.
Khi yêu cầu tự kiểm tra, Viện kiểm sát phải yêu cầu kiểm tra những vấn đề
gì và cũng chỉ nên tập trung vào một số việc chính, không nên yêu cầu quá nhiều
việc, không yêu cầu một cách tràn lan, không cần thiết. . .
Yêu cầu tự kiểm tra việc thi hành án hình sự và thông báo kết quả cho
VKSND thì Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số
21
nhiệm vụ thi hành án hình sự phải thực hiện trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày
nhận được yêu cầu.
1.1.2.6. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong kiểm sát thi hành án hình sự
Theo quy định tại điều 141 Luật thi hành án hình sự năm 2010, khi thực hiện
kiểm sát thi hành án hình sự, Viện kiểm sát có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:
định giảm hết thời hạn chấp hành hình phạt tù; người đã có quyết định đặc xã của
Chủ tịch nước; người đã có quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người
đã có quyết định tạm đình chỉ thi hành án, người bị bắt thi hành án đã được Tòa án
có thẩm quyền thông báo hết thời hiệu theo Điều 55 BLHS năm 2009. Đối với
quyết định trả tự do này, cơ quan thi hành án hình sự phải thi hành ngay; nếu không
nhất trí với quyết định đó thì vẫn phải thi hành nhưng có quyền khiếu nại lên Viện
22
kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại,
Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét giải quyết.
- Phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật trong thi hành
án hình sự theo thẩm quyền là nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, được thực
hiện không chỉ khi phát hiện thấy có các trường hợp oan sai trong quản lý và giáo
dục người chấp hành án phạt tù mà còn đối với những vi phạm khác trong thi hành
án hình sự nói chung.
- Kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu đối với Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự
cùng cấp, cấp dưới, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự
và cá nhân có liên quan khi có các biểu hiện vi phạm pháp luật trong việc thi hành
án hình sự; yêu cầu đình chỉ việc thi hành án, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi
phạm pháp luật trong việc thi hành án hình sự; chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến thi hành án hình sự trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị,
kháng nghị, yêu cầu, thi hành quyết định của Viện kiểm sát về thi hành án hình sự
theo quy định của pháp luật. Tòa án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan
thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự có
trách nhiệm trả lời trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị. Nếu
không nhất trí với kháng nghị đó thì các cơ quan này có quyền khiếu nại lên Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải giải quyết trong
- Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý, giáo dục người
chấp hành án phạt tù; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố
cáo đối với việc thi hành án hình sự. Đối với các khiếu nại, tố cáo về thi hành án
hình sự, Viện kiểm sát có quyền trực tiếp giải quyết nếu đó là khiếu nại, tố cáo liên
quan đến việc quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù; khiếu nại, tố cáo về các
vấn đề còn lại liên quan đến thi hành án hình sự, Viện kiểm sát không giải quyết mà
có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết của các cơ
quan và người có thẩm quyền. Theo quy định tại Điều 142 Luật thi hành án hình sự
năm 2010, khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự,
Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, Cơ
quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án
hình sự cùng cấp và cấp dưới ra văn bản giải quyết khiếu nại tố cáo; kiểm tra việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và của cấp dưới; thông báo kết quả
giải quyết và cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại tố cáo
cho Viện kiểm sát. Viện kiểm sát trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
về thi hành án hình sự của Tòa án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi
hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự.
- Đề nghị khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố về hình sự khi phát
hiện có dấu hiệu tội phạm trong thi hành án hình sự
Tóm lại, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc thi hành
án hình sự là hoạt động nhằm đảm bảo cho việc thi hành án của nhà tạm giữ, trại
tạm giam, Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan, tổ chức được giao một số
nhiệm vụ thi hành án hình sự và những người có trách nhiệm được thực hiện theo
đúng quy định của pháp luật. Những nhiệm vụ, quyền hạn đó đồng thời cũng chính
là những phương thức hoạt động để Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát tuân theo
pháp luật trong việc thi hành án hình sự. Các phương thức kiểm sát này thường
được Viện kiểm sát sử dụng một cách linh hoạt, có sự phối kết hợp lẫn nhau nhằm
đạt tới hiệu quả cao nhất trong thực tiễn.
1.2. Nội dung pháp luật về kiểm sát thi hành án hình sự
1.2.1. Kiểm sát thi hành án tử hình
141 Luật thi hành án hình sự năm 2010 thì nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát
trong việc thi hành án phạt tù bao gồm:
+ Yêu cầu Tòa án cùng cấp và cấp dưới ra quyết định thi hành án phạt tù và
thi hành quyết định thi hành án phạt tù đúng quy định pháp luật;
+ Định kỳ và đột xuất kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành
án phạt tù của cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới, VKSND cấp tỉnh
25
trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu đối với
Trại giam đóng tại địa phương đó trong việc thi hành án phạt tù (nhiệm vụ này
trong Quy chế kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý giáo dục người chấp hành
án phạt tù gọi là thường kỳ và bất thường);
+ Yêu cầu cơ quan cùng cấp, cấp dưới và người có trách nhiệm thông báo
tỉnh hình quản lý và giáo dục phạm nhân; trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc
làm vi phạm pháp luật trong việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù;
+ Kháng nghị với cơ quan cùng cấp và cấp dưới, yêu cầu đình chỉ việc thi
hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc quản lý và
giáo dục người chấp hành án phạt tù, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và yêu
cầu xử lý người vi phạm pháp luật.
+ Đề nghị miễn, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ chấp hành án; kiểm sát việc xét
giảm, miễn thời hạn chấp hành án, hoãn, tạm đình chỉ;
+ Khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố về hình sự khi phát hiện dấu
hiệu tội phạm trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật;
+ Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và giáo dục người
chấp hành án phạt tù;
+ Viện kiểm sát có trách nhiệm phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan
sai trong việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, trả tự do theo khoản 2
Điều 25 Luật tổ chức VKSND năm 2014 cho người bị giam giữ không có căn cứ và