MỤC LỤC
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Nội dung
Danh mục chữ cái viết tắt
Phần I: Đặt vấn đề
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Giả thuyết nghiên cứu
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
3
3
4
4
4
4
5
5
5
5
7
16
16
16
17
17
17
19
THCS
SGK
BGH
Trung học cơ sở
Sách giáo khoa
Ban giám hiệu
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
yếu ở lớp 8 và mở rộng hơn ở lớp 9. Với một hệ thống kiến thức nối tiếp như
vây, việc rèn luyện kĩ năng làm văn nói chung và làm văn thuyết minh phải được
thực hiện một cách căn bản, có hệ thống, có sự đầu tư của người dạy và có tính
tích cực, chủ động của người học.
Mặc dù kiến thức để làm một bài văn thuyết minh không khó vì nó rất thực
tế, gắn liền với các sự vật, sự việc và nó hiện hữu ngay trong môi trường xung
quanh chúng ta, nhưng do khả năng và phương pháp nắm bắt, tích lũy nguồn tri
thức cũng như việc trau dồi vốn từ để trình bày tái hiện đối tượng cần thuyết
minh còn nhiều hạn chế nên kết quả các bài làm văn thuyết minh của HS chưa
cao. Vì vậy cần phải có những hình thức phù hợp để nâng cao chất lượng dạy và
học văn thuyết minh cho HS THCS, đó là vấn đề khiến tôi trăn trở, day dứt
muốn được chia sẻ với các đồng nghiệp trong sáng kiến kinh nghiệm này.
2. Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ mục tiêu và thực tiễn trên, tôi đưa ra phương pháp làm thế nào
để rèn luyện kĩ năng làm bài văn thuyết minh đạt hiệu quả tốt nhất. Hình thành
cho các em những kĩ năng cơ bản, hệ thống và dễ dàng hơn khi tiếp cận làm văn
thuyết minh với những mục đích quan trọng sau:
- Nghiên cứu lựa chọn ra một phương pháp giảng dạy khoa học, có hiệu quả
nhất, phát huy được tính chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh, đảm bảo
học sinh làm trung tâm trong tất cả các giờ học.
- Góp phần phát triển năng lực văn học của học sinh, qua đó giúp các em có
tâm hồn cảm thụ thế giới quan, hình thành và phát triển nhân cách.
- Làm rõ nội dung quan điểm: Rèn luyện kĩ năng dạy - học văn thuyết minh
trong chương trình Ngữ văn THCS với yêu cầu phát triển về kiến thức từ lớp 8
lên lớp 9.
- Đưa ra những định hướng cụ thể cho việc xây dựng bài giảng phục vụ cho
việc rèn luyện kĩ năng làm văn thuyết minh nói chung và việc dạy học môn Ngữ
văn nói chung ở trường THCS hiện nay.
3
- Do điều kiện tôi mới luân chuyển công tác về trường PTDTBT THCS
Bát Đại Sơn từ đầu năm học 2016 - 2017, cũng như thời lượng của nội dung đề
tài nên tôi đã nghiên cứu, áp dụng sáng kiến trên đối tượng HS lớp 8 của hai
trường: THCS Tụ Nhân, Hoàng Su Phì, Hà Giang và PTDTBT THCS Bát Đại
Sơn, Quản Bạ, Hà Giang.
- Đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã thực hiện từ năm học 2014 2015, trong quá trình áp dụng đã chỉnh sửa, bổ sung và đang tiếp tục thực hiện.
Phần 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
1. Cơ sở lí luận:
Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời
sống nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân... của sự vật,
4
hiện tượng trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu giải
thích. Do điều kiến thức trong văn thuyết minh đòi hỏi tính khách quan, xác
thực, hữu ích cho con người và phải được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ
và hấp dẫn.
Văn bản thuyết minh gắn liền với tư duy khoa học, đòi hỏi chính xác, rạch
ròi. Muốn làm được bài thuyết minh, phải tiến hành đìều tra, nghiên cứu, học
hỏi, tích lũy tri thức.
Văn bản thuyết minh không xa lạ đối với học sinh, bởi bài giảng của các
thầy cô trong tất cả các môn học chính là bài thị phạm tốt cho văn bản thuyết
minh. Chỉ cần GV có phương pháp phù hợp để hướng dẫn là HS có thể làm
được bài thuyết minh. Hơn nữa trong phân môn Văn học cũng có những văn bản
thuyết minh rất hay như: Thông tin về ngày trái đất năm 2000, Ôn dịch thuốc lá,
.. là nguồn tư liệu cho việc cảm thụ và học tập cách viết bài văn thuyết minh
hiệu quả hơn.
Để dạy và học tốt văn thuyết minh ở bậc THCS, người dạy và người học
trước tiên cần nắm vững hệ thống 9 bài học và luyện tập về văn thuyết minh ở
lớp 8 gồm:
hờ hững, xem nhẹ loại văn bản này hoặc học qua loa, trình bày vấn đề sơ sài.
Học sinh chưa có thói quen quan sát tìm hiểu sự vật chung quanh (dù gần
gũi nhất), còn mải chơi, chưa chú trọng vấn đề học tập, thiếu kiến thức thực tế.
Những nhược điểm trên dần trở thành thói quen thụ động, đối phó, “xa lạ”
với những gì diễn ra xung quanh, trong đời sống hằng ngày mặc dù nó rất gần
gũi, quen thuộc.
Về phía giáo viên việc định hướng các hoạt động dạy học chưa đạt hiệu
quả như mong muốn, xem nhẹ vai trò của văn bản thuyết minh so với các kiểu
văn bản khác. Vì thế chưa thật sự chú ý tìm ra các biện pháp dạy học tốt nhất,
còn thiếu cụ thể, chủ yếu theo SGK và hướng dẫn trong sách giáo viên. Nên kết
quả viết bài văn thuyết minh của HS còn thấp, đôi khi lạc đề, xa đề, thiếu thuyết
phục…
b. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
Qua khảo sát, thống kê, phân tích kết quả việc học và viết bài về văn
thuyết minh trước khi tôi áp dụng đề tài cho thấy, điểm trung bình và điểm yếu
còn nhiều, tỉ lệ các em nắm vững kiến thức, đạt điểm khá, giỏi về kiểu văn bản
này rất thấp:
Năm học
2013 - 2014
2014 - 2015
2015 - 2016
Giữa kì I
2016 - 2017
Trường
THCS Tụ Nhân,
Hoàng Su Phì,
Hà Giang
THCS Tụ Nhân,
Hoàng Su Phì,
thuyết minh còn lộn xộn chưa đảm bảo tính khách quan, chân thực… đòi hỏi
người dạy phải suy nghĩ, tìm cách cải tiến phương pháp hơn nữa. Giúp các em
có thêm kiến thức thực tế từ nhiều đối tượng khác nhau để bài học được nhẹ
nhàng, linh hoạt hơn.
3. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
a. Chuẩn bị của giáo viên:
Để chuẩn bị cho việc thực hiện đề tài, tôi đã đầu tư từ những năm học
trước và lần lược tiến hành các bước sau:
6
- Nghiên cứu, nắm đặc trưng kiểu văn bản thuyết minh, tìm hiểu nội dung
chương trình giảng dạy và sách giáo khoa, sách tham khảo lớp 8, tùy thời lượng
được phân bố và nội dung kiến thức bài dạy, phát huy thế mạnh của các phương
pháp được áp dụng.
- Tìm hiểu, nắm kĩ lại các phương pháp để tìm cách kết hợp vận dụng
theo từng bài, từng lớp khác nhau. Đặc biệt nhấn mạnh ở các phương pháp thông
dụng nhất như: nêu định nghĩa, nêu ví dụ, số liệu, so sánh….
- Ghi chép, lựa chọn nhiều cách làm, so sánh đối chiếu các kết quả thu
được, sau đó kịp thời khắc phục và bổ sung.
- Chọn lọc các đối tượng cần thể nghiệm, đối chứng.
b. Các giải pháp tổ chức dạy học trên lớp:
Trên cơ sở xây dựng và nắm vững lý thuyết sau đó mới thực hành
phương pháp mới nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu bài học, bước đầu HS phải tìm
hiểu đặc trưng của kiểu văn bản thuyết minh so với các loại văn bản khác, nhận
diện văn bản thuyết minh, tích luỹ tri thức khách quan, nắm vững các phương
pháp thuyết minh, cách viết “văn” trong văn bản thuyết minh.
* Một số giải pháp đã thực hiện:
- Giải pháp giúp HS hiểu rõ đặc điểm của văn bản thuyết minh so với
loại văn bản khác:
bằng những câu hỏi đơn giản nhưng cực kì hiệu quả để HS nắm bắt các đặc
điểm của của văn thuyết minh một cách đễ dàng như: Văn bản trên đã cung cấp
cho em những tri thức về đối tượng nào? Muốn có những tri thức đó, em phải
làm gì? Theo em, tác dụng của văn bản thuyết minh đối với đời sống hằng ngày
như thế nào? Em hãy tìm thêm những đề tài, đối tượng thuyết minh khác trong
đời sống?
- Giải pháp giúp HS tích luỹ tri thức khách quan:
Mọi đối tượng cụ thể trong cuộc sống đều có thể được quan sát, tái hiện,
thuyết minh nhưng phải có “tri thức” về đối tượng. Tức là:
Đầu tiên GV cần phải giúp học sinh nắm rõ các đặc điểm, nội dung của các văn
bản thuyết minh đã học, bước đầu hình thành kiến thức về kiểu bài thuyết minh.
Sau đó mới tổ chức, gợi ý cho HS quan sát, nhận xét về các sự vật, hiện tượng
phổ biến xung quanh đời sống, từ những sự vật, đồ vật đơn giản, quen thuộc:
cây cối, hoa lá, phích nước, bút bi, nồi cơm… đến các đối tượng khó hơn: di
tích, thắng cảnh, nét sinh hoạt văn hoá, lễ hội…. Sau đó ghi chép những đặc
điểm cơ bản rồi tập trình bày. Hoặc quan sát và ghi chép từ những đối tượng từ
gần đến xa, từ thân thuộc đến bắt đầu làm quen, tìm hiểu. Từ đó làm tăng tính
thực hành một cách sinh động và phong phú hơn, tránh áp đặt nặng nề trong khi
học văn thuyết minh, hướng đến tư duy tích cực nhạy bén hơn ở HS.
- Giải pháp viết văn bản thuyết minh:
Học sinh cần nắm chắc và phân biệt được cách viết bài văn thuyết minh
so với các kiểu bài miêu tả, tự sự, nghị luận đã học ở các lớp dưới, cụ thể:
Biết dùng những từ ngữ thuộc kiểu bài và đối tượng thuyết minh như: cấu
tạo, nguyên tắc hoạt động, cách sử dụng, bảo quản đối với thuyết minh một thứ
đồ dùng, nguyên liệu, cách làm, yêu cầu thành phẩm với bài thuyết minh về một
món ăn, đặc sản… Cách hiểu của văn thuyết minh phải xuất phát từ tri thức về
sự vật, hiện tượng được thuyết minh, cách diễn đạt và từ ngữ của văn thuyết
minh cần chính xác, ngắn gọn, súc tích, không bịa đặt, tưởng tượng. Thậm chí
những đối tượng có tính khoa học thì khó tránh được sự khô khan. Song tri thức
nó cung cấp nếu gọn gàng, dễ hiểu, trong sáng và khách quan thì vẫn có sức hấp
nghệ thuật mà phải phản sử dụng chủ yếu ngôn ngữ khoa học phản ánh đúng
bản chất và quy luật của sự vật một cách chân thực vốn có.
Ví dụ mục b, SGK Ngữ văn lớp 8 tập 1, trang 115 có văn bản thuyết minh:
“Tại sao lá cây có màu xanh lục?” tác giả sử dụng ngôn ngữ khoa học để giải
thích, cung cấp ngắn gọn chân thực cho người đọc tri thức khoa học về màu sắc
xanh của lá cây. Nhưng cũng viết về chiếc lá nhà văn Khái Hưng lại diễn đạt
bằng một kiểu bài biểu cảm có sử dụng phong phú các biện pháp tu từ nhân hóa,
ẩn dụ: “Mỗi chiếc lá rụng có một linh hồn riêng, một tâm tình riêng, một cảm
giác riêng. Có chiếc tựa mũi tên nhọn, tự cành cây rơi cắm phập xuống đất như
cho xong chuyện, cho xong một đời lạnh lùng, thản nhiên, không thương tiếc,
không do dự vẩn vơ....Có chiếc lá nhẹ nhàng, khoan khoái đùa bỡn, múa may
với làn gió thoảng....”
Tính khách quan: Đó chính là tính khách quan trong thái độ của người
viết, cần trung thực không bị chi phối bởi tình cảm riêng tư. Đồng thời tri thức
bài văn thuyết minh phải phù hợp với thực tế khách quan.
Chính vì bảo đảm tính khách quan mà Hoàng Văn Huyền trong bài thuyết
minh về cây dừa Bình Định (trang 114, SGK ngữ văn 8 tâp 1) đã rất trung thực
trong việc giới thiệu những đặc điểm và công dụng của cây dừa. Ngay cả khi
dẫn câu ca dao thì vẫn không hề bị chi phối bởi khả năng lay động tình cảm
trong câu ca đó.
Tính thực dụng: Văn thuyết minh có tính thực dụng cao nhất vì nó trực
tiếp giới thiệu, cung cấp tri thức tiễn, gần gũi có tính ứng dụng cao trong mọi
lĩnh vực của đời sống. Ví dụ sau khi đọc bài thuyết minh một món ăn thì một
người dù chưa biết về món ăn đó cũng có thể đễ dàng thực hành chế biến món
ăn đó. Hoặc sau khi đọc bài thuyết minh về một thứ đồ dùng, người ta có thể
9
dựa vào bản để hiểu được cấu tạo, nguyên tắc hoạt động để tháo lắp, sửa chữa,
sử dụng đồ dùng đó...
dụ: Trong văn bản Ôn dịch thuốc lá (SGK văn 8 tập 1) tác giả nêu: “Người ta
cấm hút thuốc ở những nơi công cộng, phạt nặng những người vi phạm (ở Bỉ, từ
năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạm phạt 500 đô la...”
Phương pháp so sánh: Là cách đối chiếu hai hoặc hơn hai đối tượng cùng
loại để làm nổi bật bản chất của đối tượng cần được thuyết minh, ví dụ: “Tỉ lệ
thanh thiếu niên hút thuốc ở các thành phố lớn nước ta ngang với tỉ lệ các thành
phố ở Âu - Mĩ ” (Ôn dịch thuốc lá - Nguyễn Khắc Viện, SGK Ngữ văn 8 Tập 1).
Phương pháp liệt kê: Lần lượt chỉ ra các đặc điểm, tính chất của đối tượng
theo một trật tự nào đó. Ví dụ thuyết minh về chiếc xe đạp (SGK văn 8 tập 1,
trang 138) lần thống kê các bô phận nhỏ lẻ của chiếc xe đạp: “Hệ thống truyền
10
động gồm khung xe, bàn đạp, trục giữa, ổ bi giữa, dây xích, đĩa, ổ líp, hai trục,
ổ bi và hai bánh trước sau...”
Phương pháp dùng số liệu: Là phương pháp dẫn con số cụ thể làm tăng
tính khoa học về đối tượng thuyết minh. Ví dụ: Để nói về mức độ ác liệt và nguy
hiểm tại giao điểm ngã ba Đồng Lộc tác giả viết “Trên một đoạn đường khoảng
20 km mà có những 44 trọng điểm đánh phá của giặc Mĩ và đã phải chịu đựng
hơn 2057 trận bom...” (Trích văn bản Ngã ba Đồng Lộc, SGK văn 8 tập 1, trang
129).
Phương pháp phân loại, phân tích: Là cách chia nhỏ ra từng bộ phận, từng
phần đối với những loại sự vật đa dạng, có nội dung, cấu tạo phức tạp. Ví dụ
thuyết minh về chiếc xe đạp (SGK Ngữ văn 8 tập một, trang 138) người viết đã
phân thành từng bộ phân: hệ thống truyền động, hệ thống điều khiển và hệ thống
chuyên chở.
Giáo viên cần đặc biệt lưu ý cho HS tùy từng đối tượng cụ thể mà lựa chọn
phương pháp phù hợp, đồng thời phải biết kết hợp nhiều phương pháp trong một
bài văn thì mới sinh động và thuyết phục được người đọc, người nghe.
Phương pháp thứ hai là rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh:
tiếp hoặc gián tiếp bằng cách dẫn giải vào đối tượng cần nói tới. Đồng thời cũng
cần xác định phương hướng, phương pháp, phạm vi, mức độ, giới hạn của vấn
đề một cách cụ thể, ngắn gọn thể hiện sự liên kết chặt chẽ với nội dung toàn bài.
Ví dụ 1: Khi giới thiệu về Hà Giang có thể mở bài gián tiếp như sau:
Đối với mỗi con người quê hương luôn là niềm tự hào sâu sắc bởi vốn
truyền thống văn hóa và lịch sử hào hùng. Còn đối với tôi, quê hương “Hà
Giang” luôn hiện hữu trong lòng bởi những hình ảnh giản dị,mà tiêu biểu gần
gũi của cột cờ Lũng Cú,của những thửa ruộng bậc thang kì vĩ, hay Cao nguyên
đá Đồng Văn sừng sững, kiên cường..
Ví dụ 2 (mở bài gián tiếp): Đến với Hà Giang, mảnh đất địa đầu không
chỉ làm say đắm lòng người bởi khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ mà còn hút hồn
thực khách bởi những món đặc sản vô cùng đặc biệt, trong đó phải kể đến đặc
sản “Lợn cắp nách”.
Ví dụ 3 (mở bài trực tiếp): Chó là một loài động vật rất có ích cho con
người. Nó trung thành, dễ gần và là bạn của con người. Cũng có thể vì thế mà
người ta gọi nó là “linh cẩu”.
Tóm lại, đoạn mở bài chính là “cửa ngõ” dẫn vào bài làm, hơn nữa ông
cha ta có câu “Đầu xuôi, đuôi mới lọt”, vì vậy không thể xem nhẹ phần mở bài.
Phần thân bài.
Cũng giống như các thể loại khác, phần thân bài là phần giải quyết vấn
đề, gồm một số đoạn văn được liên kết với nhau thành một hệ thống giả quyết
lần lượt các yêu cầu của đề bài dựa vào dàn bài đã xây dựng, chú ý đến tính liên
kết giữa các phần, các đoạn sao cho lôgic, tự nhiên, chuyển ý linh hoạt bằng từ
nối, hay nội dung gắn kết.... Đặc biệt lưu ý với các đề mục trong bài để định rõ
độ dài ngắn của các đoạn. Các ý lớn, các đề mục trọng tâm cần được viết thành
các đoạn chiếm tỉ lệ cao hơn so với toàn bài. Các ý phụ chỉ nên viết thành các
đoạn ngắn, tránh mất cân đối, lệch hoặc xa đề. Tuân thủ theo thứ tự đặc điểm
của sự vật một cách mạch lạc, sáng sủa, phù hợp với đối tượng thuyết minh:
Đối tượng thuyết minh là một danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, thì nội
dung thuyết minh thường là:
Giới thiệu một đặc sản thì nội dung thuyết minh thường là:
. Nguồn gốc, ý nghĩa tên gọi món ăn, đặc sản
. Đặc điểm riêng của món ăn, đặc sản: dáng vẻ, màu sắc, hương vị
. Cách thức chế biến,thưởng thức
Ví dụ: Giới thiệu đặc sản “Lợn Cắp nách” của Hà Giang.
Lợn cắp nách có tên gọi rất đặc biệt mà ai cũng tò mò không biết
cái tên đó sinh ra như thế nào. Sở dĩ chúng được gọi như vậy vì thân hình
của con lợn này khá bé mà người dân khi bắt lọ hay để ôm thọt vào
người hay treo dưới nách. Hơn nữa, lợn cắp nách được ra đời từ thói
quen chăn nuôi lạc hậu của bà con các dân tộc vùng cao của Lào Cai
như: Dao, Thái, Mông… Đây thực chất là giống lợn đặc trưng truyền
thống được lai giữa lợn rừng và lợn Mường và việc nuôi giữ khá đơn giản.
Thường thì sau khi lợn mẹ sinh ra lợn con, chúng được thả rông mặc cho
mưa nắng, không có chuồng trại, không được chăm sóc. Những con lợn
phải tự kiếm thức ăn từ những cây củ dại ở ngoài vườn, rừng… thỉnh
thoảng mới được cho ăn những bắp ngô, củ sắn.
Không giống như loại lợn khác ở miền xuôi được chăn nuôi cẩn
thận và ăn nhiều cám nên có thân hình béo mỡ hơn, còn lợn cắp nách
nhỏ, do thói nuôi thả dông mà khiến chúng bé nhỏ và thịt của chúng nạc.
Vì vậy, lợn cắp nách có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon khác nhau
rất được ưa chuộng.
Lợn cắp nách làm sạch rồi có thể chế biến tùy theo sở thích của mỗi
người. Với thịt lợn này có thể dùng nướng, hấp, kho tùy sở thích, có thể dùng
xương để ninh thành món canh ngon. Ngon nhất phải kể đến món lòng dồi và
13
thịt bụng còn lẫn cả xương sườn hấp cách thủy, chấm lá nhội giã nhỏ trộn hạt
xẻn hoặt hạt dổi, ớt xanh. Vị hơi chua, chát và mùi thơm của hạt dổi, lá chanh
gặp món thịt ba chỉ ăn cũng sẽ có hương vị đặc biệt.
( Bài làm của HS)
Đối tượng thuyết minh là một danh nhân văn hoá thì các nội dung
thuyết minh thường là:
. Thân thế và sự nghiệp
. Đánh giá xã hội về đối tượng đó.
( Cần lưu ý, trong các phần trên, phần thân thế, sự nghiệp chiếm vai trò
chủ yếu, có dung lượng lớn nhất trong bài viết).
Thuyết minh là một đồ vật thì nội dung thường là:
. Cấu tạo của đối tượng
. Các đặc điểm của đối tượng
. Tính năng hoạt động
14
. Cách sử dụng, cách bảo quản
. Lợi ích của đối tượng
Thuyết minh về tác phẩm văn học, nội dung thường là:
. Tác giả.
. Hoàn cảnh sáng tác.
. Nội dung tác phẩm.
. Nghệ thuật tác phẩm.
. Giá trị tác phẩm trong lòng độc giả.
Thuyết minh thể loại văn học, nội dung thường là:
. Thời gian ra đời.
. Nội dung.
. Nghệ thuật
...
Phần kết bài:
Kết bài Giúp làm nổi bật và nhấn mạnh đối tượng, tổng kết, tóm lược,
củng cố những đặc điểm cơ bản đã trình bày trong phần thân bài. Trong phần kết
chú trọng hơn đến việc sửa bài trước khi nộp. Tức là cần kiểm tra lại việc dùng
từ, viết câu, lỗi diễn đạt sao cho vừa chính xác, lại vừa có sức hấp dẫn. Giúp cho
học sinh tạo thói quen tốt khi đánh giá lại kết quả lao động của chính mình mà
còn rèn luyện để tạo cho mình một kĩ năng rất cần thiết trong những kĩ năng làm
văn thuyết minh. Sự sai sót, thiếu hụt luôn được nhìn nhận một cách đầy đủ,
chính xác thông qua khâu này để có thể kịp thời sửa chữa bổ sung cho bài viết
được hoàn thiện nhất.
4. Hiệu quả của sáng kiến:
Qua hai năm rút kinh nghiệm và thay đổi, áp dụng những giải pháp nêu
trên tôi nhận thấy chất lượng dạy và học văn thuyết minh, môn văn khối 8 năm
nâng lên rõ rệt. Ở phương diện là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, tôi
thấy mình vững vàng hơn trong chuyên môn; tự tin say mê hơn với sự nghiệp
trồng người. Ai đó đã từng nói “Nghiệp văn là nghiệp khổ” nhưng tôi lại thấy
mình sung sướng hạnh phúc vì được cống hiến, góp sức mình làm cho kết quả
học tập của HS được cải thiện không ngừng. Đối với các em học sinh, các em
bước đầu đã ý thức được tầm quan trọng của môn văn, biết tái hiện rõ những sự
vật xung quanh một cách khách quan, qua học.
Học sinh nắm rõ, nắm sâu về kiểu văn bản thuyết minh mà các em đang
học. Tăng cường, nâng cao được kĩ năng làm bài văn thuyết minh. Biết tìm,
phân tích, đánh giá một bài văn thuyết minh hay. HS chủ động nhiệt tình, tích
cực hơn khi học văn thuyết minh, nghiêm túc trong hoạt động chuẩn bị bài học,
giờ học có hứng thú, có kĩ năng thực hành, thực tế để có tri thức khách quan về
một đối tượng thuyết minh nào đó.
Kết quả: Các lớp thực hiện đề tài tỉ lệ HS nắm vững khái niệm, kiểu văn
bản thuyết minh, có kĩ năng làm một bài văn thuyết minh tăng lên rõ rệt:
Năm học
Trường
2014 - 2015
Phần 3: KẾT LUẬN.
1. Ý nghĩa với việc giảng dạy và thực hiện nhiệm vụ:
Có thể nói rằng chất lượng dạy và học môn văn nói chung và văn thuyết
minh nói riêng đã có những kết quả khá tốt: số lượng học sinh học khá, giỏi văn
thuyết minh tăng, số học sinh yếu kém giảm đáng kể. Đó là điều kiện và động
lực khẳng định sự đúng đắn và sự cần thiết khi tôi tiếp tục đưa sáng kiến “Rèn
luyện một số kĩ năng làm bài văn thuyết minh cho HS bậc THCS” vào áp dụng
16
trong thực tiễn dạy và học. Tôi cũng tin tưởng vào sự cố gắng và mạnh dạn áp
dụng sáng kiến này của bản thân sẽ đem lại hiệu quả tốt cho việc dạy và học văn
thuyết minh của học sinh để giúp các em không chỉ biết qua sát, tái hiện các sự
vật mà hơn nữa còn biết tái hiện một cách sinh động thế giới quan khoa học
bằng kiểu bài thuyết minh. HS có thói quen quan sát và cảm nhận cuộc sống
xung quanh một cách nhạy bén, tích cực hơn. Qua đó tự làm cho kiến thức của
mình thêm phong phú, da dạng, nhất là trong giai đoạn hội nhập hiện nay và vấn
đề bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc. khơi gợi được sự động não, tìm tòi của học
sinh. Tôi nhận thấy giờ học sôi nổi, sinh động và hứng thú, tránh được sự khô
khan, tránh cảm giác e sợ giờ học Tập làm văn của HS.
2. Nhận định chung của bản thân về việc áp dụng và phát triển sáng
kiến kinh nghiệm:
Qua việc giảng dạy và kiểm tra, tôi đã khẳng định được tính khoa học và
tính khả thi của nội dung sáng kiến này. Và tôi nghĩ rằng các biện pháp thực hiện
của sáng kiến này có thể áp dụng rộng rãi với đối tượng học sinh trong và ngoài
tỉnh, nhất là đối với các em học sinh vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
để giúp các em định hướng cũng như có những kĩ năng căn bản nhất để làm bài
văn thuyết minh đạt được hiệu quả cao hơn.
3. Bài học kinh nghiệm:
Đạt được những kết quả trên là cả một quá trình nghiên cứu đúc rút kinh
Quá trình thực hiện đề tài dù đã được rút kinh nghiệm nhiều lần, nhưng
chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Vì thế tôi rất mong muốn nhận được sự góp ý
của quý đồng nghiệp để việc thực hiện đế tài đạt hiệu quả cao hơn.
Xin trân trọng cảm ơn mọi đóng góp của quý đồng nghiệp./.
Bát Đại Sơn, ngày 24 tháng 03 năm 2017
Người viết sáng kiến
Nguyễn Thị Ánh Dương
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa ngữ văn 8 tập 1, 2
2. Sách giáo viên ngữ văn 8 tập 1, 2
3. Sách bài tập Ngữ văn 8 tập 1, 2
4. Tham khảo tài liệu qua mạng In-tơ-nét.
19