Một số kinh nghiệm tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 10 qua giảng dạy đoạn trích chí khí anh hùng - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.1.1. Xuất phát từ tính hiện đại, phù hợp với xu thế hội nhập giáo dục quốc
tế của phương pháp:
Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm
nghiên cứu và ứng dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có
Việt Nam. Với chỉ thị “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ
chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp
giảng dạy.” [1; tr 27]; Nhằm hướng tới “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và
nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Luật Giáo dục năm 2005, Điều
2).
Bởi vậy, “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn
học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá
trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong
chương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của GV
và tích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm,
tham khảo” [1; tr 40].
Như vậy, thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu thế hội nhập quốc
tế ... đang rất cần những con người được trang bị đầy đủ những năng lực cần
thiết, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn. Trước yêu cầu đó,
phương pháp giáo dục phổ thông cũng cần được đổi mới theo hướng “phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho
người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí
vươn lên” (Luật Giáo dục năm 2005, Điều 5).
1.1.2. Xuất phát từ tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
trong nhà trường phổ thông:
Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách,
giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu

thiên nhiên, đất nước; lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; lí tưởng xã
hội chủ nghĩa; tinh thần dân chủ, nhân văn; giáo dục cho học sinh trách nhiệm
công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy
các giá trị văn hóa” [2, tr 5].
1.1.4. Xuất phát từ vị trí của Truyện Kiều nền văn học dân tộc và trong
chương trình giảng dạy Ngữ Văn 10.
“Truyện Kiều là quốc hoa, quốc hồn, quốc túy của dân tộc” (Phạm
Quỳnh). Trải qua hàng trăm năm với biết bao dâu bể, “Truyện Kiều” của
Nguyễn Du vẫn mãi lay động tâm trí triệu triệu người trên khắp thế giới. Có thể
nói, chưa có một áng văn thơ nào của Việt Nam được truyền tụng, thấm đẫm
nhân văn trong đời sống xã hội như “Truyện Kiều”.
“Mỗi câu trong Truyện Kiều là một viên ngọc quý, cả tập Truyện Kiều là
một chuỗi ngọc sáng long lanh” (Hoài Thanh). Danh tiếng của “Truyện Kiều” đã
đến với bạn bè thế giới từ những năm đầu của thế kỉ XX. Năm 1926, dịch giả
người Pháp Rơ-ne-cry-sac khi dịch “Truyện Kiều” đã viết bài nghiên cứu dài 96
trang, có đoạn: “Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với
kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ thời đại nào”. Và ông kết luận: “Sung
sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm độc nhất vô nhị đã làm rung động và ca
vang tất cả tâm hồn của một dân tộc”. Vị trí đặc biệt ấy cũng được thể hiện rõ
trong PPCT Ngữ Văn 10: 06/104 tiết (Chương trình cơ bản) ; 08/140 tiết
(Chương trình nâng cao), với 04 trích đoạn: “Trao duyên”, “Nỗi thương mình”,
“Chí khí anh hùng”, đọc thêm “Thề nguyền” và bài “Truyện Kiều” (Giới thiệu
những nét chính về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều”).
Với tất cả những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
Một số kinh nghiệm tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 10
qua giảng dạy đoạn trích “Chí khí anh hùng” – trích “Truyện Kiều” của
Nguyễn Du.

2


đánh giá mức độ thành thạo kĩ năng sống của học sinh.
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Trên cơ sở khảo sát thực tế, đánh
giá mức độ thành thạo kĩ năng sống của học sinh, chúng tôi nghiên cứu, thử
nghiệm qua những tiết thiết kế giáo án, qua thực tế giảng dạy,.. rút ra kinh
nghiệm tối ưu cho bản thân, ghi chép lại và nghiên cứu sâu hơn ở đề tài này với
mong muốn được trao đổi và học hỏi thêm kinh nghệm giảng dạy cùng các đồng
nghiệp.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Tích hợp giáo dục kĩ năng sống là một nội dung hết sức quan trọng cần
được thực hiện một cách có hệ thống và thường xuyên trong các nhà trường.
Giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh có hiểu biết và được rèn luyện hành vi có
trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng, phòng ngừa những hành vi có hại
cho sức khỏe thể chất và tinh thần, tăng cường khả năng nhận thức xã hội, khả
3


năng thích ứng với cuộc sống cũng như khả năng ứng phó linh hoạt, tích cực với
những thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Việc đưa giáo dục kĩ năng sống
vào nhà trường có ý nghĩa như một sự thức tỉnh để các nhà giáo dục chú ý nhiều
hơn đến tính hữu dụng, thiết thực của chương trình nhà trường, đồng thời tăng
khả năng đáp ứng yêu cầu đào tạo con người mới năng động , tích cực, tự tin,
đạt được thành công trong xã hội hòa nhập.
Môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông nói chung và trường THPT nói
riêng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục này.Tuy
nhiên, để thực hiện hiệu quả mục tiêu giáo dục ấy trong từng tiết học, bản thân
mỗi người thầy, người cô cần hiểu đúng bản chất của các khái niệm này.
2.1.1. Khái niệm “Kĩ năng sống”.
Trên thế giới hiện nay đã và đang tồn tại nhiều định nghĩa và quan niệm
khác nhau về kĩ năng sống. Mỗi định nghĩa được thể hiện dưới những cách thức

4


thành, tồn tại một cách độc lập mà hình thành, tồn tạo trong mối quan hệ tương
tác mật thiết có sự cân bằng với kiến thức và thái độ. Kĩ năng mà một người có
được phần lớn cũng nhờ có được kiến thức. Ví dụ, muốn có kĩ năng thương
lượng phải biết nội dung thương lượng, ... Việc đề cập thái độ cũng là một góc
nhìn hữu ích vì thái độ có tác động mạnh mẽ đến kĩ năng. Ví dụ: thái độ kì thị
khó làm cho một người thực hiện tốt kĩ năng biết thể hiện sự tôn trọng với người
khác, ...
Từ những quan niệm trên đây, chúng ta có thể khẳng định: kĩ năng sống
bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của con
người. Bản chất của kĩ năng sống là kĩ năng tự quản lý bản thân và kĩ năng xã
hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.
Nói cách khác, kĩ năng sống là kĩ năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả
năng ứng xử với người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các
tình huống của cuộc sống.
Như vậy, các kĩ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức "cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị - "cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng”
thành hành động thực tế - “làm gì và làm bằng cách nào?” là tích cực nhất và
mang tính chất xây dựng.
Kĩ năng sống thường được thiết lập với một nền tảng riêng biệt, do đó
mọi người có thể hiểu và thực hành. Kĩ năng sống liên hệ mật thiết với những
nội dung giáo dục thực hành giúp chúng ta trả lời những câu hỏi như là: Chúng
ta cần làm gì để có thái độ quyết đoán? Quyết định của chúng ta liên quan đến
những điều gì?...
Khái niệm kĩ năng sống được hiểu rất khác nhau. Ở một số nước như:
Trung Quốc; Singapore; Thái Lan ... đào tạo kĩ năng sống chính là để giáo dục
cách vệ sinh, dinh dưỡng, giáo dục phòng chống bệnh tật hoặc giáo dục hòa bình
... Ở một số nước khác như: Mỹ; Anh; Pháp; Nhật ... kĩ năng sống đào tạo tập
trung vào giáo dục hành vi, giáo dục an toàn trên đường phố, hay giao dục bảo

- Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn
- Kĩ năng hợp tác
- Kĩ năng tư duy phê phán
- Kĩ năng tư duy sáng tạo
- Kĩ năng ra quyết định
- Kĩ năng giải quyết vấn đề
- Kĩ năng kiên định
- Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm ...
2.1.2. Khái niệm “Tích hợp” trong hoạt động giáo dục.
“Tích hợp là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống theo quan
điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ” [4, tr 891].
Trong lí luận dạy học, tích hợp (integration) được hiểu là là sự kết hợp
một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau hoặc các hợp phần
của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí
luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của
môn đó.
Trong chương trình THPT, môn Ngữ Văn, năm 2002 của Bộ GD&ĐT,
khái niệm “Tích hợp” cũng được hiểu là “sự phối hợp các tri gần gũi, có quan
hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau,
phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững
chắc”[1; tr 27].
Và như vậy, “Tích hợp” chính là sự hợp nhất, sự nhất thể hóa để đưa tới
một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của
các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộng giản đơn những
thuộc tính của các thành phần ấy. Hiểu như vậy, “Tích hợp” có hai tính chất cơ
bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau:
Một là, tính liên kết.
Hai là, tính toàn vẹn.
Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia
giữa các thành phần kết hợp.

mà ít đọc sách báo, ít quan tâm đến các vấn đề chính trị xã hội, việc tự học, tự
bồi dưỡng còn hạn chế, ... cho nên ngại tích hợp vì cho rằng chỉ cần tập trung
vào kiến thức bài học là đủ, không cần phải tích hợp những nội dung khác ... tất
cả đều góp phần khiến học sinh lúng túng khi vận dụng kiến thức bài học vào xử
lí những tình huống của cuộc sống hàng ngày. Thậm chí, một bộ phận học sinh
còn mơ hồ với khái niệm “kĩ năng sống”.
2.2.1.2. Về phía học sinh:
Những năm gần đây, nhiều học sinh rất thiếu những kĩ năng cơ bản như: kĩ
năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp với ông bà, cha mẹ. Các em rất rụt rè, thiếu tự
tin .. bởi các em bị cuốn hút theo các trò chơi điện tử và hệ thống ảo trên hệ thống
Internet. Đây là những trò chơi làm cho các em xa lánh với môi trường sống thực
tế và thiếu sự tương tác giữa con người với con người. Điều này dẫn đến tình
trạng học sinh trở nên ích kỉ, không quan tâm đến cộng đồng. Câu hỏi đặt ra cho
chúng ta là: Phải dạy học như thế nào để góp phần giúphọc sinh THPT hội nhập
với xã hội, trở thành công dân có ích cho cộng đồng đang làm trăn trở bao giáo
viên!

7


Mặc dù ở một số môn học, các hoạt động ngoại khóa, giáo dục kĩ năng sống
đã được đề cập đến. Tuy nhiên, do nội dung, phương pháp, cách thức truyền tải chưa
phù hợp với tâm sinh lí của đối tượng nên hiệu quả lồng ghép còn chưa cao.
Qua thực tế giảng dạy ở lớp 10, trường THPT Hoằng Hóa3, bản thân thấy
kĩ năng sống của học sinh chưa cao. Chỉ một số học sinh có hành vi, thói quen,
kĩ năng tốt. Còn phần lớn các em có nhận xét, đánh giá về sự việc nhưng chưa
có thái độ và cách ứng xử, cách xưng hô chuẩn mực. Học sinh thể hiện kĩ năng
còn đại khái, chưa mạnh dạn thể hiện kĩ năng của bản thân. Các em còn ngại
nói, ngại viết, khả năng tự học, tự tìm tòi còn hạn chế. Thực trạng này đã được
cụ thể hóa qua số liệu khảo sát ban đầu ở ba lớp mà tôi được phân công giảng

61.54%
15
38.46%

Ghi chú

Ứng xử trước một tình huống trong đời sống
Lớp

Sỉ số

Biết cách ứng xử
Chưa biết cách ứng
Ghi chú
hài hoà, khá phù
xử/ ứng xử không phù
hợp
hợp
SL
TL
SL
TL
10C6
46
32
69.57%
14
30.43%
10C9
42

tiến tới đạt chuẩn quốc gia, nên thuận lợi trong việc thực hiện nội dung “Xây
dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực”. Mặt khác, Ban lãnh đạo nhà
trường luôn theo sát, quan tâm, hỗ trợ cho giáo viên trong công tác giảng dạy
cũng như giáo dục học sinh.
Ba là, ở ba lớp tôi giảng dạy bộ môn Ngữ Văn, các em học sinh đều khá
ngoan và biết vâng lời, các em gần gũi với cô giáo. Chính vì thế bản luôn cố
gắng lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua mỗi tiết dạy, giúp
các em có một niềm tin, phát triển một cách toàn diện để trở thành con người
năng động, sáng tạo phù hợp với một xã hội hiện đại đang phát triển.
2.2.2.2. Khó khăn
Một là, thực tế một số giáo viên chỉ tập trung dạy kiến thức còn việc rèn
kỹ năng sống chưa được chú trọng dẫn đến một vài em còn thiếu hụt những hiểu
biết về môi trường xung quanh, ứng xử cần thiết trong cuộc sống. (Trong khi để
học sinh phát triển toàn diện, bắt nhịp được với phương pháp dạy học mới nhanh
nhất thì rất cần sự thực hiện đồng bộ của tất cả các giáo viên bộ môn).
Hai là, bản thân tuy có kinh nghiệm nhưng việc đổi mới phương pháp
giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo và ý
thức vươn lên, rèn luyện khả năng tự học của học sinh còn hạn chế.
Ba là, thời lượng mỗi bài học đã được quy định và tương đối hạn hẹp nên
việc thực hiện lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong mỗi tiết học vẫn là một bài
toán cần nhiều suy nghĩ, trăn trở không chỉ với riêng bản thân tôi.
Bốn là, một số gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn nên cha mẹ chưa
quan tâm đúng mức đến con cái. Hoặc nhiều bậc phụ huynh chỉ quan tâm về
điểm số sau mỗi kì/năm học. Cìn hàng ngày họ ít trò chuyện để hiểu con em họ
muốn gì.
Năm là, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là một tác phẩm văn học cổ
nên dẫu hay và hấp dẫn mà vẫn có “khoảng cách” trong tâm lí tiếp nhận của học
sinh.
Từ cơ sở và thực tiễn trong quá trình nghiên cứu tôi đã tìm ra một số biện
pháp mang tính khả thi giúp giáo viên thực hiện lồng ghép tích hợp giáo dục kĩ

trong mỗi bài đọc – hiểu văn bản được thực hiện như sau:
2.3.2.1. Tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong phần mở đầu bài học:
- Vai trò của phần mở đầu bài học: Làm cho người học tập trung, chú ý, quan
tâm và bước ban đầu tạo sự tích cực tham gia vào bài học, các em sẽ bị cuốn hút
vào bài học một cách tự nhiên nhất. Người học đồng thời cũng định hướng được
mình sẽ học cái gì ở tác phẩm này? Vì vậy, phần mở đầu bài học có ý nghĩa
quan trọng, kích thích năng lực tư duy khám phá bài học của các em học sinh.
- Bằng kinh nghiệm bản thân, tôi xin giới thiệu một sô hình thức mở đầu bài học
như sau:
+ Mở đầu trực tiếp (Có thể chọn một trong ba hình thức sau):
* Khái quát lại bài học trước từ đó tạo mối liên hệ với bài mới và
chỉ ra được tầm quan trọng của bài học trong chương.
* Giới thiệu tên bài và mục tiêu cần đạt được.
* Giới thiệu tên bài và mô tả những hoạt động sắp thực hiện.
+ Mở đầu gián tiếp (Có thể chọn một trong ba hình thức sau):
* Nêu lên một sự kiện bất thường liên quan đến chủ đề bài dạy.
* Đưa ra một vài con số thống kê, chiếu một đoạn phim hoặc kể
một câu chuyện có liên quan.
* Trình chiếu một số hình ảnh liên quan đến nội dung bài học, sau
đó dẫn dắt vấn đề.
* Đặt một loạt câu hỏi vấn đáp (đó là những câu hỏi gắn với kinh
nghiệm, nội dung đã học và nội dung liên quan tới bài mới hoặc đó là câu
hỏi mang tính thách đố)
- Một số lưu ý đối với giáo viên:
+ Lời giới thiệu bài mới phải ngắn gọn, súc tích, chỉ trong khoảng thời
gian từ 3 đến 5 phút.
10


+ Phải thể hiện sự nhiệt tình, tạo sự gần gũi, thân thiện, hài hước đúng

khác nhau, ứng xử khác nhau, tùy theo trình độ nhận thức, sự hiểu biết xã hội, ...
Và giáo viên cần uốn nắn để các em suy nghĩ đúng, giải quyết vấn đề đúng, ...
Có như vậy thì việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong bài học mới thành
công.
Bằng kinh nghiệm thực tế giảng dạy lồng ghép tích hợp kĩ năng sống, tôi
xin mạnh dạn giới thiệu một số dạng câu hỏi tích hợp giáo dục kĩ năng sống sau:
? Em có đồng tình với cách giải quyết/ứng xử của nhân vật?
? Nếu là em, em sẽ giải quyết/ứng xử vấn đề này như thế nào?
? Xét về điều này, em thấy mình còn những hạn chế nào?
? Từ ứng xử của nhân vật, em học được cách khắc phục hạn chế của bản
thân như thế nào? ...

11


2.3.2.2. Tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong phần củng cố kiến thức bài
học và luyện tập:
Ưu điểm của việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở phần này
là rất lớn, nó giúp các em khắc sâu hơn các nội dung tích hợp và lồng ghép qua
thực hành, luyện tập.
Ví dụ, ở phần củng cố kiến thức bài học, chúng ta có thể đặt câu hỏi: ?
Qua tiết học, bản thân em đã rút ra bài học gì cho bản thân mình? ...
Ở phần luyện tập, chúng ta tùy thuộc vào lượng thời gian của tiết học
dành cho phần luyện tập như thế nào thì sẽ có những hướng dẫn cụ thể, phù hợp.
2.3.3. Vận dụng một số kinh nghiệm tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong
dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT vào thiết kế giáo án, giảng
dạy đoạn trích “Chí khí anh hùng” – trích “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.
I. Mục tiêu cần đạt:
1. Kiến thức:
- Hiểu được lí tưởng anh hùng của Nguyễn Du thể hiện qua nhân vật Từ Hải.

IV. Chuẩn bị của GV và HS.
1. Chuẩn bị của GV: – SGK, thiết kế bài học
– Máy tính, máy chiếu, các slides trình chiếu
– phiếu học tập: có in câu hỏi, bài tập dùng để kiểm tra.
– Phân công nhóm diễn kịch và nhóm trọng tài.
2. Chuẩn bị của HS: (Chuẩn bị bài ở nhà theo các yêu cầu sau):
- Xem lại tác phẩm Truyện Kiều và tác giả Nguyễn Du
- Soạn bài theo các câu hỏi của phần Hướng dẫn học bài
- Một nhóm viết kịch bản và tập diễn xuất theo nội dung đoạn trich.
- Một nhóm gồm một số HS khá giỏi nhận nhiệm vụ nhóm Trọng tài chuẩn bị
kĩ lưỡng các nội dung liên quan đến bài học (đọc kĩ tác phẩm, sưu tầm tư liệu
phê bình, nghiên cứu về văn bản Chí khí anh hùng)
V. Tiến trình dạy học:
Hoạt động của giáo viên và học sinh
Hoat động 1: Mở đầu bài học (04
phút)
Tích hợp giáo dục KNS trong tổ chức
trò chơi: “kĩ năng hợp tác”, “ứng phó
với căng thẳng”.
Hình thức: cả lớp
Kĩ thuật: Trò chơi
B1: GV trình chiếu 4 bức tranh gắn
với 4 sự kiện trong cuộc đời của Thuý
Kiều. (Chú ý: có thể chọn nhiều bức
tranh, nhiều sự kiện khác nhau, đảm
bảo bức tranh cuối cùng là sự kiện:
Từ Hải gặp Kiều ở lầu xanh)
Yêu cầu: Bốn nhóm cùng tham gia thi
“Ai nhanh nhất”. Mỗi nhóm có 30s
dể thảo luận, xếp lại thứ tự các bức

Hoạt động 2: Hình thành kiến thức.
2.1. Tìm hiểu chung (02 phút).
Hình thức: cá nhân
Kĩ thuật: đặt câu hỏi
B1: GV nêu câu hỏi: ?Nêu vị trí đoạn
trích và nội dung khái quát của văn
bản?
B2: HS dựa vào phần tiểu dẫn sgk,
suy nghĩ, trả lời.
B3: HS trình bày
B4: GV nhận xét, chốt lại

I. Tìm hiểu chung

Vị trí đoạn trích
Câu 2213 – 2230.

Nội dung khái quát: cuộc chia tay
giữa Thuý Kiều và Từ Hải.

2.2. Đọc văn bản (07 phút)
Tích hợp giáo dục các KN:
- “Kĩ năng thể hiện sự tự tin” ; “kĩ
năng hợp tác” (qua đóng vai, nhập vai
diễn kịch);
- “Kĩ năng tư duy sáng tạo” (qua
nhận xét, đánh giá vai diễn của học
sinh với các bạn diễn).
Hình thức: cá nhân và nhóm
Phương pháp, kĩ thuật: đóng vai, đặt

hiểu” (Thấu hiểu đúng tâm trạng của
nàng Kiều để có những lí giải thuyết
phục, hợp lí).
Hình thức: cá nhân
Kĩ thuật: đặt câu hỏi
B1: GV hướng dẫn HS tìm hiểu qua
các câu hỏi gợi mở:
? Đọc lại những câu thơ thể hiện hình
ảnh Thuý Kiều trong đoạn trích?
? Thái độ của Kiều thể hiện qua lời
nói khi Từ Hải ra đi là gì?
? Những nguyên nhân nào dẫn đến
thái độ, lời nói đó?
?Nhận xét về nhân vật Thuý Kiều?
B2: HS suy nghĩ, thảo luận
B3: HS phát biểu. HS khác nhận xét,
bổ sung.
B4: GV nhận xét, chốt kiến thức:

III. Đọc - hiểu chi tiết.
1. Thái độ, tâm trạng của Thuý Kiều
trong cảnh chia tay.
– Cuộc sống khi lưu lạc: đau khổ, tủi
nhục >< cuộc sống với Từ Hải: hạnh
phúc, viên mãn
-> Thái độ, lời nói của Kiều khi Từ Hải
lên đường: kiên quyết xin đi.
->Nguyên nhân: tuân theo quan niệm
của lễ giáo phong kiến; tình yêu chân
thành, sâu sắc lòng biết ơn với Từ Hải;

+ Hương lửa đương nồng: cuộc sống lứa
đôi đang nồng nàn, hạnh phúc.
+ Thoắt động lòng bốn phương: nhanh
chóng dứt bỏ cuộc sống êm ấm để lên
đường.
Từ Hải là con người của khát vọng
lớn, quyết chí lập thân không gì có thể
ràng buộc, níu kéo.
-Hành động, thái độ, tư thế:
+ Trông vời trời bể, gió mây bằng – dặm
khơi: không gian rộng -> tư thế hiên
ngang, sánh ngang tầm vũ trụ -> tâm
hồn phóng khoáng, khát vọng phi
thường.
+ Thanh gươm yên ngựa: tư thế của
15


Nhóm 1:
-Tìm và phân tích cụm từ miêu tả
cuộc sống lứa đôi của Thuý Kiều và
Từ Hải.
-Từ đó, cho biết Từ Hải ra đi trong
hoàn cảnh nào?
-Hoàn cảnh ra đi cho thấy điều gì về
con người Từ Hải?
Nhóm 2:
-Tìm các từ ngữ miêu tả hành động,
trạng thái, tư thế của Từ Hải trong
cuộc chia tay.

+ Tâm phúc tương tri…thường tình: Từ
chối và khuyên Kiều hãy vượt lên tình
cảm thông thường để xứng đáng làm vợ
một người anh hùng; coi Kiều là người
tri kỉ, nâng vị thế của Kiêu – một kĩ nữ
lầu xanh lên ngang tầm với mình – một
anh hùng-> người anh hùng mạnh mẽ,
người chồng chân thành, yêu thương
+ Bao giờ …nghi gia: lời hứa chắc chắn
với Kiều về thành công vang dội và sự
trở về trong vinh quang, đón Kiều trang
trọng nhất → niềm tin sắt đá vào bản
thân, sự nghiệp của mình; sự coi trọng
hết mực dành cho Kiều.
+ Bằng nay…vội gì: nhìn nhận thực tế
khó khăn đồng thời khẳng định dứt
khoát thời gian trở về -> ý chí, bản lĩnh,
sự tự tin
=> Từ Hải là người anh hùng đầy bản
lĩnh, tự tin quyết liệt vào tài năng của
2.4. Tiểu kết về hình tượng Từ Hải. mình; cũng là người anh hùng của chính
Tích hợp giáo dục những KN chính:
nghĩa, lẽ công bằng: coi trọng phẩm giá
- “Kĩ năng đánh giá” (đánh giá vẻ đẹp người, thuỷ chung.
của nhân vật Từ Hải)
-“Kĩ năng hợp tác”, “kĩ năng đảm * Tiểu kết:
nhiệm trách nhiệm” (học sinh tích -Nghệ thuật: Tài năng xây dựng nhân
cực tham gia thảo luận nhóm)
vật của nhà thơ: Theo đúng chuẩn mực
-“Kĩ năng giao tiếp hiệu quả”, “kĩ của văn học trung đại về người anh

02 phút.
B3: Đại diện nhóm phát biểu ý kiến,
hs nhóm khác nhận xét, bổ sung.
B4: GV nhận xét, bổ sung và chốt ý.

+ Hinh tượng Từ Hải: đẹp đẽ, phi
thường, giàu ý chí, giàu khát vọng, bản
lĩnh không chỉ đem đến cho Thuý Kiều
cuộc sống hạnh phúc mà còn khơi dậy ở
Kiều khát vọng tự do, công bằng, chính
nghĩa, chiến đấu để trả lại cho Kiều cuộc
sống trong sạch -> Thái độ của Nguyễn
Du: khẳng định, ngợi ca -> quan niệm
về người anh hùng: người anh hùng có
chí khí lớn, khát vọng lớn, tấm lòng cao
cả, giàu tình yêu thương, vì công lí (liên
hệ với hình ảnh anh hùng trong tác phẩm
của một số nhà thơ khác)
+ Thái độ, quan niệm của Nguyễn Du
gắn với thời đại: Từ Hải mang bóng
dáng của người anh hùng nông dân khởi
nghĩa trong thời kì đất nước nhiều sóng
gió, nhân dân li tán loạn lạc -> Hình
tượng Từ Hải thể hiện niềm cảm thông
của Nguyễn Du với số phận của nhân
dân, một tư tưởng tiến bộ và ước mong
về tự do và công lí -> giá trị nhân đạo,
nhân văn sâu sắc.

Hoạt động 3: Tổng kết, luyện tập.

2. Bài học rút ra cho bản thân từ hình
tượng Từ Hải (02 dòng). (4 điểm)
17


chấm và nộp lại cho GV.
GV dặn dò một số yêu cầu soạn bài
“Văn bản văn học”.
*Lưu ý: phân chia thời gian mang tính gợi ý. Gv linh hoạt theo đối tượng hs.
Hoạt động 4: Vận dụng, mở rộng (Tích hợp giáo dục “kĩ năng nhận thức”, “kĩ
năng tư duy sáng tạo”, “kĩ năng đánh giá” cho học sinh thông qua trong câu
hỏi).
GV yêu cầu HS tìm hiểu và làm bài tập thu hoạch ở nhà. Nộp sản phẩm
vào buổi học sau:
Đề bài: Từ hình tượng Từ Hải và hình tượng của những người anh hùng
thời phong kiến, em có suy nghĩ gì về lí tưởng sống của thanh niên hiện nay ?
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Đề tài này được tôi áp dụng thường xuyên trong thực tế giảng dạy những
năm qua theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học văn. Và bước đầu đã thu
được những kết quả đáng mừng.
2.4.1. Về phía giáo viên:
Thứ nhất, bản thân tôi thấy tự tin, chủ động nắm bắt hệ thống kiến thức, kĩ
năng lồng ghép tích hợp trong mỗi đơn vị bài dạy, làm giàu thêm vốn sống và
nghệ thuật xử lí các tình huống sư phạm cũng như những tình huống trong cuộc
sống.
Thứ hai, thông qua mỗi tiết dạy học, bản thân tôi cũng hiểu rõ hơn năng
lực, tính cách, những tâm tư và nguyện vọng của các em. Trên cơ cở đó, khuyến
khích, ngợi khen kịp thời những suy nghĩ và hành động tích cực của các em;
Uốn nắn, điều chỉnh những suy nghĩa và hành vi chưa đúng của một số học

10C9
10c10

46
42
39

Biết lắng nghe, hợp Chưa biết lắng nghe,
tác
hay tách ra khỏi nhóm
SL
TL
SL
TL
40
86.95%
06
13.05%
34
80.95%
08
19.05%
30
76.92%
09
23.08%

Ghi chú

Ứng xử trước một tình huống trong đời sống

17.40%
13
26.19%
10
25.64%

Ghi chú

19


3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Từ thực tế giảng dạy những năm qua, tôi nhận thấy môn Ngữ Văn là môn
học thực sự có ưu thế trong việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
Quá trình học tập môn học theo hướng nhấn mạnh tới kĩ năng sống ở trường
THPT có khả năng tạo điều kiện giúp học sinh nâng cao năng lực lĩnh hội trong
học tập, hình thành thái độ, hành vi; giúp các em học sinh có động lực tìm hiểu,
cân nhắc lựa chọn và có quyết định đúng đắn để giải quyết vấn đề cũng như có
cơ hội thuận lợi để rèn luyện các kĩ năng ứng xử hiệu quả.
Song, để làm tốt việc này tôi nghĩ rằng mỗi giáo viên cần phải không
ngừng nâng cao kiến thức nhiều mặt, nắm chắc chương trình, mục tiêu đào tạo
giáo dục của Đảng và nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Đây là điều không dễ
dàng bởi nó đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của mỗi giáo viên. Xuất phát từ mục
đích đổi mới phương pháp, mong muốn từng bước nâng cao hiệu quả giảng dạy
của bản thân, tôi đã viết sáng kiến kinh nghiệm này, xin được chia sẻ với các đồng
nghiệp để cùng trao đổi, rút kinh nghiệm để chúng ta ngày càng vững bước hơn
trong sự nghiệp trồng người, xứng đáng với niềm tin của Đảng, nhà nước và
nhân dân.
3.2. Kiến nghị

B

21


C

D

PHIẾU HỌC TẬP
(Dùng trong phần củng cố bài học)

22


1.Chọn đáp án đúng nhất:
1.1. Hình tượng người anh hùng Từ Hải được Nguyễn Du miêu tả
là: (3điểm)
A.Hình tượng con người thực
B.Hình tượng con người vũ trụ
C.Hình tượng con người ước lệ,
D. Đáp án khác.
1.2. Người anh hùng theo quan niệm của Nguyễn Du(3điểm)
A.Có tài năng lớn
B. Có gia tài lớn
C. Có chí khí, khát vọng lớn.
D. Có tầm nhìn xa, trông rộng.
2. Bài học rút ra cho bản thân từ hình tượng Từ Hải (02 dòng). (4 điểm)
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status