Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học truyện ngắn việt nam hiện đại (TT) - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN THỊ NGỌC LAM

TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TRONG DA ̣Y HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(NGƢ̃ VĂN 9)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN THỊ NGỌC LAM

TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TRONG DA ̣Y HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(NGƢ̃ VĂN 9)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Lê Huy Bắc

HÀ NỘI – 2016


i


2.1.5. Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc tích hợp rèn kĩ
năng sống......................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2. Một số định hướng tích hợp giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động
dạy học thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đạiError!

Bookmark

not

defined.
2.2.1. Sử dụng phương pháp dạy học tích cực Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Dạy học tích hợp liên môn .................... Error! Bookmark not defined.
2.2.3. Tích hợp KNS trong kiểm tra đánh giá . Error! Bookmark not defined.
2.3. Các bước thực hiện một bài dạy tích hợp KNSError!

Bookmark

not

defined.
Tiểu kết chương 2............................................ Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 3:THỰC NGHIỆM ........................ Error! Bookmark not defined.
3.1. Những vấn đề chung về thực nghiệm sư phạmError! Bookmark not
defined.
3.1.1. Mục đích thực nghiệm ........................ Error! Bookmark not defined.
3.1.2. Đối tượng và thời gian thực nghiệm... Error! Bookmark not defined.

điểm số cao, khả năng tự chủ và kỹ năng giao tiếp lại rất kém. Do chưa được
tiếp cận với chương trình giáo dục kỹ năng sống nên học sinh còn thiếu hụt
những kỹ năng sống cần thiết. Chính vì thiếu kỹ năng sống mà nhiều học sinh
đã giải quyết các vấn đề gặp phải một cách tiêu cực dẫn đến các tệ nạn, rủi ro.
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh không chỉ góp phần củng cố kiến
thức từ sách vở mà còn củng cố kiến thức ngoài thực tế, củng cố cho học sinh
kỹ năng, kỹ xảo, hành vi, cách ứng xử và đối phó với những biến đổi ngoài
môi trường sống, giúp cho các em tự tin hơn trong các tình huống hay các sự
cố xảy ra ngoài ý muốn của bản thân. Từ đó, học sinh có thể vận dụng tốt hơn
kiến thức và áp dụng kỹ năng sống một cách hiệu quả hơn. Khi được giáo dục
và rèn kỹ năng sống, các em tự tin hơn rất nhiều, không biểu hiện những thái
độ tiêu cực và dần trở nên vững vàng hơn trong cuộc sống và các mối quan hệ
trong xã hội, mối quan hệ con người với tự nhiên ngày càng hoàn thiện hơn.
Ngày nay vấn đề giáo dục các kỹ năng sống cho các chủ nhân tương lai
thực sự của đất nước lại càng vô cùng cấp thiết. Bởi trong xã hội hội nhập và

1


phát triển hiện nay, cả thế giới đều hướng loài người tới một cộng đồng hòa
bình, lành mạnh, an toàn. Nếu không có kĩ năng sống, chúng ta sẽ không thích
nghi được với môi trường mới. Có kĩ năng sống, chúng ta sẽ phát triển nhiều
năng lực như: chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của thị trường lao
động, năng lực quản lý, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; tôn trọng và
nghiêm túc tuân theo pháp luật; quan tâm và giải quyết các vấn đề bức xúc
mang tính toàn cầu; có tư duy phê phán, có khả năng thích ứng với những
thay đổi trong cuộc sống,... Thực hiện việc giáo dục kĩ năng sống còn đáp ứng
nhu cầu đổi mới giáo dục để đáp ứng sự phát triển của đất nước cũng như
đáp ứng nhu cầu của người học.
Vì vậy, trên thế giới đã có nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa

cho học sinh các cấp, bậc học còn hạn chế. Đồng thời, muốn thực hiện được
điều này thì cần phải đi từ những nguyên tắc, nguyên lý hay định nghĩa trước
(lý thuyết) theo một chương trình dài hạn với kế hoạch cụ thể. Từ đó mới làm
việc giáo dục hình thành được các kỹ năng, kỹ xảo thực hành bộ môn để
người học ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống. Việc tích hợp giáo dục kỹ năng
sống vào nội dung môn học, hoạt động giáo dục nào, bằng phương pháp nào,
thời lượng, cơ cấu chương trình và các tổ chức thực hiện ra sao là những câu
hỏi đặt ra đòi hỏi phải giải đáp. Chúng ta vẫn đang nghiên cứu tìm hướng áp
dụng dạy kĩ năng vào các môn học một cách hợp lí nhất, đặc biệt là môn Ngữ
văn. Giáo dục kỹ năng sống thông qua môn Ngữ văn sẽ gúp học sinh dễ dàng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó hình thành kỹ năng, nâng cao nhận
thức, phát triển thái độ, tình cảm, niềm tin, bản lĩnh cũng như sự năng động,
sáng tạo của học sinh. Đó cũng là lý do để tôi chọn đề tài nghiên cứu: “TÍ CH
HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (NGƢ̃ VĂN 9)”
2. Lịch sử nghiên cứu
Dạy học theo định hướng tích hợp kĩ năng sống vào dạy học Ngữ văn
nói chung và dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng là một trong
những khuynh hướng đổi mới tích cực trong dạy học Ngữ văn. Đây là vấn đề
mới và hiện đang nhận được sự quan tâm của nhiều người làm nghiên cứu
khoa học. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có khá nhiều nghiên cứu đã

3


khẳng định sự cần thiết phải tích hợp kĩ năng sống vào dạy học. Đồng thời,
cũng có một số nghiên cứu đề xuất cách thức tích hợp kĩ năng sống vào dạy
học, đặc biệt trong môn Ngữ văn.
2.1.


4


sớm, ngay khi trẻ mới chập chững. Đó không chỉ là trách nhiệm của thầy cô
mà còn là của gia đình.
Ngoài ra, nhiều tác giả khác cũng cho ra đời các tài liệu hướng dẫn tích
hợp giáo dục kĩ năng sống, như cuốn Cẩm nang Giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh trung học của nhiều tác giả. Cuốn sách trình bày súc tích, logic về
cách giáo dục kĩ năng sống. Trong đó, các tác giả đưa ra nhiều tình huống
mang tính áp dụng thực tế, gần gũi. Tuy vậy, nó chủ yếu áp dụng ngoài giờ
lên lớp. Còn trong cuốn Giáo dục kỹ năng sống, tác giả Võ Kỳ Anh lại đưa ra
hệ thống lí thuyết đầy đủ về kĩ năng sống, nêu rõ vai trò của việc giáo dục kĩ
năng này. Tuy vậy, nhìn chung, các tài liệu còn nhiều chỗ trùng lặp nhau.
Có thể thấy, đổi mới dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp kĩ năng sống
cho học sinh đang là vấn đề được nhiều thầy cô, các nhà nghiên cứu khoa học
quan tâm. Tuy nhiên, chưa có tài liệu nào bàn cụ thể các biện pháp tích hợp kĩ
năng sống trong dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại. Với hy vọng có thể
góp một phần nhỏ vào công cuộc đổi mới trên, người viết mạnh dạn đề xuất
một số biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học
truyện ngắn Việt Nam hiện đại. Những công trình nghiên cứu trên sẽ là nguồn
tài liệu vô cùng quý giá để người viết tham khảo, học hỏi trong quá trình thực
hiện đề tài.
3. Mục đích nghiên cứu
Xác định, hệ thống hóa những vấn đề lí luận về việc tích hợp giáo dục
kĩ năng sống vào dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học truyện ngắn Việt
Nam hiện đại nói riêng.
Xác định thực trạng giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động Ngữ
văn nói chung và dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng ở trường
phổ thông.
Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp tích hợp giao dục kĩ năng sống vào

Giáo dục kỹ năng sống là một hoạt động gồm nhiều thành tố có mối
quan hệ với nhau. Việc lồng ghép, tích hợp giáo dục kỹ năng sống thông qua
hoạt động dạy học Ngữ văn là một trong các thành tố thuộc cấu trúc của hoạt
động dạy học nên khi nghiên cứu việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống thông
qua hoạt động dạy học phải đặt nó trong mối quan hệ chi phối, ảnh hưởng
của các yếu tố khác như người dạy, người học, nội dung dạy học, phương
pháp dạy học, phương tiện dạy học, môi trường… Vận dụng quan điểm hệ
thống cấu trúc trong tích hợp giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy
học Ngữ văn nói chung và dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng ở
trường THCS Lý Tự Trọng bao gồm những yếu tố như: mục tiêu quản lý, nội
dung quản lý, chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, kết quả quản lý.
5.1.2. Quan điểm lịch sử - logic
Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian
và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác, và trình
bày công trình nghiên cứu theo một trình tự logic phù hợp.

6


5.1.3. Quan điểm thực tiễn
- Xuất phát từ thực trạng giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động
dạy học Ngữ văn ở trường THCS Lý Tự Trọng – TP. Nam Định còn nhiều tồn
tại, khó khăn; trên cơ sở đó đề ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học Ngữ văn ở trường THCS
Lý Tự Trọng – TP. Nam Định
5.2.

Phƣơng pháp cụ thể:

5.2.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận

- Phƣơng pháp lấy ý kiến chuyên gia, khảo nghiệm sƣ phạm
+ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Trao đổi, lấy ý kiến chuyên gia là
cán bộ quản lý các trường phổ thông, chuyên gia về giáo dục kỹ năng sống
để tìm hiểu về việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môn Ngữ văn nói
chung và dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng.
+ Phương pháp khảo nghiệm: Khảo nghiệm các biện pháp tích hợp giáo
dục kỹ năng sống thông qua hoạt động dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học
truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng. Các phương pháp này được sử dụng
đồng bộ nhằm xác lập cơ sở thực tiễn của đề tài.
5.2.3. Phƣơng pháp hỗ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các kết quả thực nghiệm sư
phạm và kết quả điều tra bằng phiếu hỏi.
6. Giả thuyết khoa học
Thời gian qua, việc lồng ghép, tích hợp giáo dục kỹ năng sống thông
qua hoạt động dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học truyện ngắn Việt Nam
hiện đại nói riêng ở THCS Lý Tự Trọng, Nam Định đã được các giáo viên bộ
môn Ngữ văn thực hiện đạt được một số kết quả nhất định, song vẫn còn một
số hạn chế bất cập trong quá trình quản lý về các mặt như tổ chức chỉ đạo,
kiểm tra đánh giá… nên hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân của thực trạng trên
có thể từ nhiều phía, trong đó, phải nói đến các biện pháp giáo dục kỹ năng
sống trong nhà trường chưa có sự thống nhất về nhận thức và hoạt động, chưa
có sự thực hiện một cách hệ thống, đồng thời chưa phù hợp với thực tiễn dạy
học ở trường THCS. Vì vậy, cần phải có những biện pháp tích hợp một cách

8


hợp lý, sát với tình hình thực tế để khắc phục được những hạn chế và nâng
cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
7. Cấu trúc luận văn

ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc
sống” [2;tr.11]. Quan niệm này cho rằng: KNS là năng lực là cách hiểu chưa
khái quát, chưa đầy đủ. Bởi vì KNS đảm bảo cho công việc đạt kết quả ở mức
độ nhất định thì năng lực đảm bảo cho công việc đạt chất lượng cao. Người có
KNS chưa thể gọi là có năng lực, những KNS giúp cho con người phát triển
năng lực. Có thể nói, KNS là một thành phần của năng lực. Con người muốn
hoàn thành tốt một công việc nào đó thì không thể không hiểu biết về công
việc đó. Do đó muốn có năng lực trước hết phải có tri thức về công việc, nắm
bắt được cách thức và điểu kiện tiến hành công việc, có nghĩa là phải có KNS.
KNS là một trong những điều kiện để hình thành nên năng lực. Năng lực là
một thuộc tính phức hợp, ổn định ở con người, nó chuyển biến theo trình độ

10


nắm vững các kĩ năng. Còn KNS là một tổ hợp các kĩ năng nói lên khả năng
mà con người lĩnh hội được trong quá trình nhận thức và hành động.
UNESCO (2003) quan niệm: “Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để
thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Đó là
khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử
tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và
những thách thức trong cuộc sống hàng ngày”.
Tương đồng với quan niệm của WHO còn có quan niệm KNS là những
kĩ năng tâm lí xã hội có liên quan đến những tri thức, giá trị và những thái độ,
cuối cùng được thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi làm cho cá nhân có
thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và cách thức của cuộc
sống.
Theo tác giả Xkomni thì: “KNS là khả năng con người thực hiện những
hành vi thích ứng với thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống. KNS thể
hiện năng lực sống của con người trong cuộc sống cá nhân, trong mối quan hệ

được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và
phát triển. KNS còn được xem xét như một biểu hiện quan trọng của năng lực
tâm lí – xã hội, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống vốn chứa đựng
nhiều thách thức nhưng cũng không thiếu các cơ hội” [36;tr.8].
Đứng trên phương diện tâm lí học, tác giả Nguyễn Quang Uẩn quan
niệm cuộc sống của con người diễn ra bằng hoạt động sống. Hoạt động sống
diễn ra với sự đan xen của dòng “hoạt động có đối tượng” và mối quan hệ
“giao tiếp ứng xử” giữa con người với con người. Hai mặt, hai phương diện
nói trên đan xen, nương tựa hòa quyện vào nhau, chi phối, tác động qua lại
lẫn nhau, tạo nên cuộc sống đích thực của mỗi con người trong cộng đồng.
Trong hệ thống các kĩ năng cơ bản có tính tổng hợp và phức tạp của hoạt
động sống của con người có kĩ năng sống. Nguyễn Quang Uẩn cho rằng:
“KNS là một tổ chức phức tạp của một hệ thống các kĩ năng nói lên năng lực
sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và quan hệ với bản
thân, với người khác, với xã hội có kết quả trong những điều kiện xác định
của cuộc sống” [45;tr.3].

12


Có rất nhiều quan niệm khác nhau về KNS, trong nghiên cứu này
chúng tôi quan niệm: KNS là một tổ chức phức tạp của một hệ thống các kĩ
năng nói lên khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, hành động và
hoạt động sống vào thực hiện những hành động, hoạt động có kết quả trong
các điều kiện khác nhau của cuộc sống”.
KNS vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. KNS mang tính cá
nhân vì đó là khả năng của cá nhân. KNS mang tính xã hội vì trong mỗi giai
đoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở mỗi vùng miền lại đòi hỏi mỗi cá nhân có
những KNS thích hợp. Chẳng hạn KNS của mỗi cá nhân trong thời bao cấp
khác với KNS của các cá nhân trong cơ chế thị trường, trong giai đoạn hội

thức về xã hội và con người. Với tính chất giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ Văn
giúp học sinh bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu cảm xúc thẩm mĩ và định
hướng thị hiếu để hoàn thiện nhân cách. Vì thế, Ngữ Văn là một môn học có
những khả năng đặc biệt trong việc giáo dục các KNS cho học sinh. Điều đó
thể hiện ở mục tiêu giáo dục của môn Ngữ Văn trong nhà trường THCS:
- Trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, hệ
thống về văn học và tiếng Việt, bao gồm: kiến thức về những tác phẩm tiêu
biểu cho các thể loại tiêu biểu của văn học Việt Nam và một số tác phẩm,
đoạn trích của văn học nước ngoài; kiến thức sơ giản về lịch sử văn học và
một số khái niệm lí luận văn học thông dụng; kiến thức về các đơn vị tiêu
biểu của tiếng Việt (đặc điểm và các qui tắc sử dụng); kiến thức về các loại
văn bản (đặc điểm, cách thức tiếp cận và tạo lập).
- Hình thành và phát triển các năng lực ngữ văn, bao gồm: năng lực sử
dụng tiếng Việt ở 4 kĩ năng cơ bản (nghe, nói, đọc, viết), năng lực tiếp nhận
văn học, năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tự học và năng lực thực hành,
ứng dụng.
- Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình
yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước; lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự
cường; lí tưởng xã hội chủ nghĩa; tinh thần dân chủ, nhân văn; nâng cao ý
thức trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc tế; ý thức tôn
trọng, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại.
Mục tiêu và nội dung môn Ngữ Văn đã chứa đựng những yếu tố của
giáo dục KNS, phù hợp với các nội dung cơ bản của KNS (bao gồm kĩ năng
xác định giá trị: tình yêu thương, sự cảm thông…, tư duy sáng tạo: nêu vấn
đề, tìm kiếm và xử lí thông tin, bình luận, phân tích đối chiếu, phê phán, bác

14


bỏ; kĩ năng hợp tác nhóm: thảo luận, tham gia hiệu quả, kĩ năng giao tiếp:



hóa trong các tình huống giao tiếp đa dạng của cuộc sống. Mặt khác, các KNS
còn được giáo dục thông qua phương pháp học tập tích cực, dựa trên sự tương
tác giữa nội dung bài học với những hiểu biết, kinh nghiệm vốn có của bản
thân người học và quá trình đối thoại, tương tác giữa người học với nhau để
thực hành, vận dụng linh hoạt vào các tình huống trong cuộc sống. Như vậy
có thể khẳng định được rằng, việc giáo dục KNS trong môn Ngữ Văn có
nhiều ưu thế.
Quá trình học tập môn học theo hướng tích hợp giáo dục KNS trong
trường phổ thông có khả năng giúp học sinh hình thành thái độ, hành vi và kĩ
năng sống mang tính thích ứng và tích cực, có động lực tìm hiểu, cân nhắc
các lựa chọn và có quyết định đúng đắn để giải quyết vấn đề cũng như có cơ
hội thuận lợi để rèn luyện các kĩ năng ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và
thách thức của cuộc sống hằng ngày, mang lại hiệu quả giáo dục tốt nhất.
1.1.1.3. Truyện ngắn Việt Nam hiện đại
Thể loại hiện nay đang là một trong những trục tích hợp của sách giáo
khoa Ngữ văn THCS. Bởi vậy quan tâm đến đặc điểm thi pháp của từng loại
thể nhất định có ý nghĩa khoa học và thực tiễn không nhỏ đối với việc rèn
luyện KNS cho học sinh.
Thi pháp thể loại đặt ra vấn đề bản thể, về phương thức tồn tại thực sự
của văn học, cung cấp một chìa khóa khoa học mở cánh cửa văn chương đồng
thời cũng đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới phương pháp dạy học đang
đi dần vào chiều sâu trong các nhà trường phổ thông hiện nay.
“Tự sự là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn
đến sự việc kia. Cuối cùng dẫn đến một kết thúc thể hiện một ý nghĩa”
[30;tr.28]. Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có một câu chuyện làm nòng cốt,
trong đó có những sự việc đang xảy ra, đang diễn ra, có sự tham gia của
những con người với những hành động ngôn ngữ, tính cách… của họ trong
mối quan hệ với hoàn cảnh thiên nhiên, xã hội và trong mối quan hệ lẫn nhau.

Hầu hết các tác phẩm truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ khối lớp 6 đến
khối lớp 9 đều phân phối hai tiết là hợp lí với yêu cầu cần đạt ở mỗi bài. Cụ
thể ở lớp 9 có 4 tác phẩm truyện ngắn Việt Nam hiện đại với những đề tài

17


phong phú, đa dạng, qua những kiểu nhân vật điển hình thể hiện những tình
cảm, lí tưởng sống cao đẹp.
Bài 13: Làng (trích) – tác giả Kim Lân – tr.162 – tập 1
Bài 14: Lặng lẽ Sa Pa – tác giả Nguyễn Thành Long – tr.180 – tập 1
Bài 15: Chiếc lƣợc ngà – tác giả Nguyễn Quang Sáng – tr.195 – tập 1
Bài 27: Bến Quê – tác giả Nguyễn Minh Châu – tr.100 – tập 2
Bài 28: Những ngôi sao xa xôi – tác giả Lê Minh Khuê – tr.113 – tập 2
Với tổng số tiết thực dạy 10 tiết, riêng tác phẩm Bến quê (Nguyễn
Minh Châu) tương đối khó đối với học sinh THCS nên đã được chuyển qua
phần HD đọc thêm.
Vấn đề cơ bản ở đây là các văn bản được giảng dạy trong chương trình
lớp 9 đều là truyện ngắn sau 1945. Sau đây là những đặc điểm của thể loại
truyện ngắn.
Truyện ngắn là thể loại tự sự cỡ nhỏ, nội dung bao trùm hầu hết các
phương diện của đời sống và thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng,
phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay trong đời sống tâm
hồn của con người. Vì thế trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự
kiện phức tạp; mỗi nhân vật là một mảnh nhỏ của thế giới đời thường và là
hiện thân cho một trạng thái quan hệ hay ý thức xã hội. Cốt truyện của
truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế, đề cập
đến một một vấn đề nào đó về cuộc đời hay tình người. Khi đề cập đến
truyện ngắn hiện đại, yếu tố không thể thiếu là tình huống truyện và nhân
vật. Chi tiết trong truyện ngắn phải tiêu biểu, biểu trưng cho ý tưởng nghệ

các chương trình học tập và chương trình kĩ năng sống tích hợp”. Mục tiêu
này đã yêu cầu các quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận những
chương trình KNS phù hợp.
Mục tiêu 6 của chương trình hành động Giáo dục cho mọi người cũng
khẳng định: Nâng cao toàn bộ các mặt của chất lượng giáo dục và đảm bảo có
thể nhận rõ và đo được những kết quả đó về các kĩ năng cơ bản của KNS.

19


- Xét từ góc độ giáo dục:
KNS của người học được xác định là một biểu hiện của chất lượng giáo
dục. Vì thế, trong mục tiêu 6 của kế hoặc hành động Dakar về giáo dục cho
mọi người KNS được coi là một khía cạnh của chất lương giáo dục, đánh giá
chất lương giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá về kĩ năng sống của
người học. Tổ chức giáo dục KNS cho học sinh trong các nhà trường, xét cho
cùng là để nâng cao chất lượng giáo dục.
Giáo dục KNS là thực hiện quan điểm hướng vào người học một mặt
đáp ứng nhu cầu của người học có năng lực để đáp ứng những thách thức của
cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân. Mặt khác, thực
hiện giáo dục KNS thông qua những phương pháp hướng đến người học (lấy
học sinh làm trung tâm) và phương pháp dạy học tương tác, tích hợp, đề cao
vai trò tham gia chủ động, tự giác của học sinh và vai trò chủ đạo của người
dạy sẽ có những tác động tích cực đối với mối quan hệ người dạy và người
học, người học với người học. Đồng thời, người học cảm thấy họ được tham
gia vào các vấn đề có liên quan đến cuộc sống của bản thân, họ sẽ thích thú và
học tập tích cực hơn.
Như vậy giáo dục cho học sinh, cụ thể là học sinh THCS đồng thời thể
hiện tính khoa học và nhân văn của giáo dục.
- Xét từ góc độ văn hóa, chính trị:

Từ những định nghĩa và khái niệm nêu trên, chúng tôi nhận thấy KNS
là một tổ chức bao gồm một hệ thống các kĩ năng được hình thành trên cơ sở
vận dụng những hiểu biết, tri thức, kinh nghiệm và các giá trị phù hợp với
điều kiện cuộc sống của học sinh THCS. Để có KNS các em học sinh THCS
cần có tri thức, kinh nghiệm và những cách thức hành động đúng đắn trong
các điều kiện khác nhau của cuộc sống.
Nội dung cơ bản của KNS cho học sinh THCS gồm nhóm KNS: Nhóm
KNS “hướng vào bản thân”, nhóm KNS “hướng vào các quan hệ”, nhóm
KNS “hướng vào công việc”.
* Nhóm KNS hƣớng vào bản thân
Nhóm KNS hướng vào bản thân là một tổ hợp phức tạp các kĩ năng nói
lên khả năng lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm và những

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status