TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
QUA TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Kỹ năng sống là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thông qua giảng dạy
hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp
trong cuộc sống hàng ngày của con người.
Kỹ năng sống là yếu tố cần thiết trong mọi thời đại đặc biệt là trong thời kì hội nhập.
Xuất phát từ nhu cầu đó Bộ Giáo dục và Đào tạo lồng ghép kỹ năng sống vào trong chương
trình học của học sinh.
Trong “ Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020” (Dự thảo lần
thứ 14) nêu rõ: “Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triển
toàn diện góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn cầu
hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giáo
dục và Đào tạo phải góp phần tạo nên một thế hệ người lao động có tri thức, có đạo đức, có
bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn
đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả ở môi trưởng toàn cầu hóa, vừa hợp tác vừa
cạnh tranh”. Có thể khẳng định, mục tiêu giáo dục toàn diện không thể đạt được nếu không
giáo dục kỹ năng sống. Hơn nữa, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh được xác định là một
trong những nội dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực”
Có thể nói, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, để thế hệ trẻ đáp ứng nguồn
nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, người giáo viên phải làm sao hướng học
sinh đến cách tiếp cận kĩ năng sống, kĩ năng sống thực chất là: học để biết, học để làm gì,
học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống. Bởi vì mục tiêu giáo dục hiện nay
không còn là trang bị kiến thức cho học sinh như vấn đề giáo dục những năm trước mà là
cần phải trang bị năng lực cần thi đã đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của người học. Phải chăng vấn đề tích hợp kĩ năng sống vào giảng dạy bộ
môn Ngữ Văn cũng nhằm mục đích là tăng cường kĩ năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ
giao tiếp. Ngay cả các sếp cũng phải tạm gác công tác quản lý để đi học kỹ năng mềm, đặc
biệt là tiếng Anh tại chức...
Một khảo sát trên 350 doanh nghiệp của trang JobStreet, Cổng thông tin tuyển dụng
hàng đầu khu vực châu Á Thái Bình Dương, ghi nhận: Chỉ 7,07% sinh viên được đánh giá
tiếng Anh tốt, 52,19% khá, 40% còn lại chỉ thành thạo đọc và viết chứ chưa thể giao tiếp.
Sau các kỳ thực tập, đa số doanh nghiệp đều nhận xét sinh viên còn thiếu các kỹ năng giao
tiếp, quản lý thời gian, làm việc nhóm…
Một nghiên cứu khác cho thấy thành công của một người được quyết định bởi 25%
trình độ chuyên môn, bằng cấp, 75% còn lại là những kỹ năng mềm mà họ được trang bị.
Tuy nhiên đa phần bạn trẻ Việt Nam chưa ý thức được điều này nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội
tỏa sáng. Có sinh viên học tốt các môn trong trường đại học nhưng khi làm việc lại gặp rất
nhiều khó khăn. Trong hàng trăm bạn, chỉ có một số ít đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển
dụng.
Thông thường, để được tuyển vào một vị trí nào đó, điều kiện đầu tiên là ứng viên
phải có kỹ năng cứng, tức là kiến thức chuyên môn. Ví dụ, một kế toán trưởng phải thành
thạo việc kiểm tra chứng từ, báo cáo thuế, quyết toán chi phí. Một chuyên viên công nghệ
thông tin phải nắm rõ cách vận hành hệ thống mạng, hệ điều hành, bảo trì. Các kỹ năng này
có thể kiểm tra tại chỗ hoặc qua bằng cấp.
Song song đó, thái độ đối với công việc được coi là một trong những yếu tố quan
trọng để nhà tuyển dụng quyết định có chọn ứng viên hay không. Thái độ đó bao gồm sự
sẵn sàng đối với công việc, sẵn sàng học hỏi, ý chí cầu tiến, không ngại khó
khăn. Trong quá trình làm việc, ứng viên sẽ được nhà tuyển dụng tái đánh giá chất
lượng qua kỹ năng ngoại giao, ngoại ngữ, thiết lập quan hệ xã hội, đàm phán xuyên văn
hóa. Thực tế, những kỹ năng mềm này đóng vai trò rất quan trọng, quyết định thành công
bền vững của một cá nhân bên cạnh kiến thức chuyên môn, đặc biệt đối với những người
muốn tự mình làm chủ doanh nghiệp.
Kỹ năng mềm bao gồm khả năng giao tiếp, ngoại ngữ, làm việc nhóm, quản lý thời
gian, vượt qua khủng hoảng, khả năng lãnh đạo, sáng tạo, đổi mới, hoạch định chiếc lược.
Các trường đại học trên thế giới rất chú trọng việc đào tạo kỹ năng này, song ở Việt Nam đa
phần chỉ dừng lại ở những buổi học kỹ năng ngoại khóa "cưỡi ngựa xem hoa". Từ đó dẫn
thành nhân cách và phát triển toàn diện của học sinh.
Trong giai đoạn hiện nay, dạy học phải bám sát mục tiêu là phải phát huy tính tích
cực của học sinh, đòi hỏi người học sinh phải tự mình khám phá, chinh phục kiến thức,
không chỉ có thế, qua những kiến thức đó, người giáo viên cần phải hướng các em học sinh
làm sao hình thành được cho các em những kĩ năng cơ bản trong cuộc sống như kĩ năng tư
duy sáng tạo, kĩ năng hợp tác….
Bên cạnh đó giúp học sinh có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm biết ứng xử
linh hoạt, hiệu quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hằng ngày, có suy nghĩ và hành
động tích cực, có quyết định đúng đắn trong so sánh, có quan hệ tích cực và hợp tác, biết
bảo vệ mình và người khác trước những nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn và lành mạnh
của cuộc sống.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tập phần truyện cười dân gian cũng như
cách tích hợp giáo dục Kĩ năng sống trong một tiết dạy truyện cười dân gian sao cho đạt
hiệu quả tốt đối với học sinh THPT.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Khả năng tiếp nhận kiến thức trong các văn bản truyện cười dân gian đối với học
sinh THPT.
- Quá trình giảng dạy phần truyện ngụ ngôn, quá trình tích hợp nội dung này với giáo
dục Kĩ năng sống cho học sinh của giáo viên Ngữ văn.
4. Phương pháp tiến hành nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, lý luận
- Nhằm hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn đề lý luận có tính liên quan đến khả năng
tiếp nhận các kiến thức Ngữ văn nói chung và phần truyện cười dân gian nói riêng trong
chương trình Ngữ văn THPT bằng cách sưu tầm tài liệu, sách báo, truy cập Internet….
- Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về vấn đề
giáo dục và giáo dục KNS cho học sinh THCS, phân tích, tổng hợp những tư liệu, tài liệu lý
có liên quan, các vấn đề trong thực tiễn đời sống và đặc biệt là các nội dung giáo dục thái độ
tư tưởng cho học sinh một cách linh hoạt, uyển chuyển và tinh tế.
Đứng trước sự phát triển nhanh chóng của nhiều lĩnh vực xã hội thì giáo dục thời đại
mới đã và đang phấn đấu đổi mới về nội dung, chất lượng và phương pháp sao cho đạt được
2 mục tiêu lớn là đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo kỹ năng sống cho học sinh. Tuy nhiên
bên cạnh những thành tựu đạt đuợc của toàn ngành thì gần đây chúng ta thường thấy thực
trạng trẻ vị thành niên có xu hướng gia tăng về bạo lực học đường, về phạm tội, về liều lĩnh,
ứng phó không lành mạnh, dễ mắc các tai tệ nạn xã hội, sống ích kỷ, vô tâm, khép mình,
….Đồng thời rèn kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng
tự phục vụ bản thân cũng là nhu cầu cần thiết…Hơn thế nữa đứng trước thềm hội nhập
quốc tế đòi hỏi thế hệ trẻ phải tự tin; phải nắm bắt kịp thời các cơ hội cũng như phải có một
số kỹ năng: sống khỏe, sống lành mạnh, giỏi lập trình, giỏi tiếng Anh…
Kĩ năng sống, một vấn đề không mới trong giai đoạn hiện nay đối với giáo dục, còn
Truyện cười dân gian cũng là mảng truyện rất đỗi quen thuộc đối với văn học nói chung.
Nhưng để tích hợp kĩ năng sống trong khi dạy truyện ngụ ngôn lại là đề tài chưa được chú
tâm thực hiện, mặc dù khi đọc mỗi câu truyện ngụ ngôn, nếu bình tâm ngẫm nghĩ, chúng ta
sẽ không chỉ thấy được rất nhiều bài học luân lí mà còn biết thêm không ít các kĩ năng sống
cho mình. Tất cả các kĩ năng mà truyện ngụ ngôn có thể đề cập đến đều là các kĩ năng tối
thiểu cho mỗi cá nhân, hơn thế nữa nó còn rất cần thiết cho một con người thời hiện đại.
Trong chương trình Ngữ văn lớp 6 có ba truyện ngụ ngôn, đa phần đều là những câu chuyện
rất quen thuộc với các em học sinh, tuy nhiên việc chỉ ra Kĩ năng sống, hướng dẫn tích hợp,
lồng ghép để giáo dục kĩ năng sống có hiệu quả lại không đơn giản. Vậy tích hợp giáo dục
Kĩ năng sống trong khi dạy phần truyện ngụ ngôn sao cho hiệu quả, đó chính là một trong
những vấn đề mà đề tài này tìm hiểu nghiên cứu.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Tích hợp trong giáo dục hiện đại
kĩ năng sống có hiệu quả lại không đơn giản. Vậy tích hợp giáo dục Kĩ năng sống trong khi
dạy phần truyện cười dân gian ra sao để đạt hiệu quả, đó chính là vấn đề quan trọng mà đề
tài nghiên cứu.
1.2. Các kĩ năng sống cơ bản
1.2.1. Kĩ năng giao tiếp
- Là kỹ năng làm việc có hiệu quả với một tập thể, cá nhân; ứng xử của mỗi người khi tiếp
xúc với người khác; thái độ cảm thông và ý thức hợp tác của mỗi người; khả năng bày tỏ
suy nghĩ, cảm xúc đối với người khác.
1.2.2. Kỹ năng tự nhận thức bản thân
Là khả năng hiểu về chính bản thân mình: khả năng, sở thích, sở trường, điểm yếu.. ý
thức được mình đang làm gì.
Tác dụng : Giao tiếp , ứng xử phù hợp, hiệu quả với người khác, cảm thông với mọi
người, có quyết định đúng đắn phù hợp với bản thân.
1.2.3. Kỹ năng xác định giá trị:
Giá trị là những gì con người cho là quan trọng (Về vật chất, tinh thần) KN xác định
giá trị là khả năng con người hiểu rõ những giá trị của bản thân mình
Tác dụng : Tôn trọng giá trị của mọi người; có quyết định đúng đắn phù hợp với bản
thân.
1.2.4. Kỹ năng suy nghĩ sáng tạo
Cách thức, phương pháp tự tư duy độc lập để tìm ra giải pháp tối ưu trong các tình
huống cuộc sống.
Cách tạo ra suy nghĩ sáng tạo:
+ Tổng hợp từ tri thức và kinh nghiệm của cuốc sống
+ Dựa trên các qui luật của chuyên ngành và phương pháp tư duy để phân tích.
+ Liên hệ với thực tiễn, điều kiện của mình
+ Chủ động đưa ra giải pháp của mình
+ Trao đổi với người có liên quan để xử lý
Lưu ý: Trước khi hỏi phải suy nghĩ chủ động, kể cả suy nghĩ cách hỏi.
1.2.11. Kĩ năng từ chối
Là nghệ thuật nói không với những điều người khác đề nghị nhưng bản thân mình
không thích, không muốn và không có khả năng thực hiện nhưng lại không làm tổn thương
lớn đến mối quan hệ vốn có.
1.2.12. Kĩ năng thương lượng
* Một số nguyên tắc trong thương lượng
Cần tự tin.
- Nêu câu hỏi nếu có thắc mắc.
- Nên cung cấp thông tin.
- Gợi ra những khoản nhân nhượng có đi có lại.
- Đưa ra những dự kiến của mình.
- Phối hợp tốt tính kiên quyết và tính mềm mỏng, trong mọi hoàn cảnh giữ cho được sáng
suốt, tỉnh táo.
- Biết lắng nghe và hiểu rõ vấn đề.
- Có khả năng đứng ở địa vị bên kia để nhận định sự việc theo quan điểm của họ cũng
như theo quan điểm của mình.
2. Nguyên tắc giáo dục Kĩ năng sống
Nguyên tắc 5 chữ T: Tương tác, trải nghiệm, tiến trình, thay đổi hành vi, thời gian
- Tương tác: KNS không thể được hình thành qua việc nghe giảng & tự đọc tài liệu. Cần tổ
chức cho học sinh tham gia các hoạt động, tương tác với giáo viên và với nhau trong quá
trình giáo dục.
- Trải nghiệm: Người học cần được đặt vào các tình huống để trải nghiệm và thực hành.
- Tiến trình: Giáo dục KNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi
phải có cả quá trình:
Nhận thứchình thành thái độ thay đổi hành vi
- Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục KNS là giúp người học thay đổi hành vi
theo hướng tích cực.
- Thời gian: Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt
xét. Dưới đây là một số phương pháp tiêu biểu:
3.1. Phương pháp động não
Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được
nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Đây là một phương pháp có ít để (lôi
ra) một danh sách các thông tin.
- GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc
trước nhóm. Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.
- Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát, trở nên bạo
dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình biết lắng nghe có phê phán ý kiến
của bạn; từ đó, giúp trẻ dễ hoà nhập vào cộng động nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng
thú trong học tập và sinh hoạt.
3.2. Thảo luận nhóm
Như bản thân tiêu đề của phương pháp đã ngụ ý thực chất của phương pháp này là để học
sinh bàn bạc, trao đổi trong nhóm nhỏ. Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp
cho mọi học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em
có thể chia sẽ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến bài
học đồng thời cũng phát huy được kĩ năng giao tiếp, hợp tác, ra quyết định….
3.3. Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “Làm thử” một số cách ứng xử
nào đó trong một tình huống giả định. Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh
suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan
sát được. Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này và hơn thế điều quan
trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn ấy. Qua đó học sinh có thể
3.4. Phương pháp nghiên cứu tình huống (hay nghiên cứu các trường hợp điền hình)
Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống
“ thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề. Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể
được thực hiện trên video hay một băng cátset mà không phải trên dạng chữ viết. Vì tình
huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối
đạt được đặc biệt là môn Ngữ văn ở trường THCS. Quan điểm giáo dục phát triển toàn diện
được trình bày trong nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước. Trong lĩnh vực giáo dục,
điều này khẳng định trong luật giáo dục năm 2005: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người
Việt Nam phát triển toàn diện. Muốn hoàn thánh mục tiêu này, cần thiết phải tích hợp lồng
ghép kĩ năng sống trong các môn học, nhất là với môn Ngữ văn.
4.1. Ý nghĩa của việc giáo dục Kĩ năng sống
Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham
hiểu biết, thích tìm tòi khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh
nghiệm sống, sức đề kháng chưa cao nên dễ bị lôi cuốn kích động.
Việc giáo dục tích hợp KNS vào tiết dạy văn là một nhu cầu bức thiết:
- Thứ nhất, trang bị cho học sinh một số KNS để bước vào đời.
- Thứ hai, tiết học có lồng ghép giáo dục KNS bao giờ cũng thân thiện, tích cực.
- Tạo điều kiện cho học sinh thực hành và phát huy tối đa năng lực của bản thân.
4.2. Lưu ý khi tích hợp giáo dục KNS qua tiết Ngữ văn
- Bám sát những mục tiêu giáo dục KNS, đồng thời đảm bảo mạch kiến thức, kĩ năng của
giờ dạy Ngữ văn.
Cần dựa theo chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học mà xác định vấn đề cơ bản, chủ
yếu nhất trong giáo dục KNS phù hợp với kiến thức cơ bản của bài học để giáo dục cho học
sinh. Không biến giờ học Ngữ văn thành giờ ngoại khóa về KNS, cần đi đúng trọng tâm giờ
học.
- Tiếp cận giáo dục KNS theo hai cách: nội dung và phương pháp dạy học, trong đó nhấn
mạnh đến cách tiếp cận phương pháp. Nghĩa là thông qua nội dung và phương pháp dạy học
để giáo dục KNS cho học sinh chứ không phải tích hợp vào nội dung bài dạy. Rèn luyện
KNS cho học sinh thông qua các giờ học bộ môn.
- Giáo dục KNS trong môn học Ngữ văn, theo đặc trưng của môn học, là giáo dục theo con
đường “ Mưa dầm thấm lâu” nhẹ nhàng, tự nhiên, không gượng ép.
- Đưa những nội dung giáo dục tiêu biểu cho các dạng bài học, bên cạnh đó có “độ mở” tạo
điều kiện cho giáo viên có thể phát huy tính linh hoạt trong việc vận dụng các tình huống
bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Chính vì vậy vấn đề giáo dục kĩ năng sống và tích hợp
giáo dục Kĩ năng sống vào các môn học trong đó có môn Ngữ Văn rất được quan tâm.
Việc tổ chức giáo dục kĩ năng sống trong trường THPT được tiến hành thông qua
môn học, thông qua việc dạy học tự chọn, qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và hoạt động câu
lạc bộ cũng không còn xa lạ với giáo viên bởi họ đã được làm quen với cách thức tổ chức
này (qua các đợt tập huấn tích hợp một số mặt giáo dục khác của Sở giáo dục, Phòng giáo
dục ). Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc đưa hoạt động giáo dục này vào
nhà trường.
Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục kĩ năng sống với các hoạt động giáo dục vốn đã được
lồng ghép vào chương trình giáo dục từ nhiều năm nay như giáo dục bảo vệ môi trường,
phòng chống ma tuý, giáo dục pháp luật,… sẽ tạo nhiều cơ hội và điều kiện để triển khai
giáo dục kĩ năng sống;
Nhìn chung hầu hết các giáo viên nói chung và giáo viên Ngữ Văn nói riêng đã bước
đầu làm quen với thuật ngữ “kỹ năng sống”, mặc dù mức độ hiểu biết có khác nhau.
Một số hoạt động giáo dục Kĩ năng sống đã được đa số các trường chú ý thực hiện
trong khuôn khổ và yêu cầu của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”
do Bộ GD và Ðào tạo phát động.
Giáo dục Kĩ năng sống từ nhà trường cũng như qua các phương tiện thông tin đại
chúng đã thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của xã hội, của phụ huynh HS.
Hình thực tổ chức giáo dục Kĩ năng sống đã bước đầu được thực hiện trong một số
môn học, thông qua hoạt động ngoại khoá và sinh hoạt câu lạc bộ với nội dung khá đa dạng.
Văn học là nhân học, từ trước đến nay đây vẫn là một bộ môn thuận lợi để “ thay thái
độ, đổi hành vi” của trẻ một cách dễ nhất thông qua các bài học ý tứ, sâu sắc mà lại rất nhẹ
nhàng.
Lồng ghép giáo dục Kĩ năng sống cho đối tượng học sinh THPT – một lớp đối tượng
đủ nhận thức để rèn luyện các kĩ năng cho bản thân mình là khá phù hợp.
Phần truyện ngụ ngôn, từ trước đến nay vẫn luôn được coi là những bài học luân lí
sâu sắc, nhưng lại khá dễ tiếp thu vì nó ngắn gọn nhưng không kém phần hóm hỉnh, hài
hước. Khi lồng ghép giáo dục Kĩ năng sống trong phần truyện ngụ ngôn, chắc chắn sẽ được
học sinh tiếp nhận một cách hứng thú và không bị gò ép mang tính áp đặt.
hiện mình trước đám đông, biết cách xử lí các tình huống đơn giản hay phức tạp, thể hiện
khả năng tiềm ẩn của mình và phát triển một cách toàn diện trong xã hội năng dộng và hiện
đại ngày nay. Từ những kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình thực hiện đề tài, tôi
mong muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp nhằm đóng góp phần nào kinh nghiệm giáo dục cho
con em chúng ta trở thành những con người toàn diện, năng động, sáng tạo hòa nhập cùng
cộng đồng, và có ích cho xã hội.
THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM
Tiết 25. Đọc văn
Ngày soạn:
Ngày dạy:
Truyện cười dân gian Việt Nam:
- NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY
- TAM ĐẠI CON GÀ
A. Mục tiêu bài học
1. Kiến thức: Hiểu được đối tượng, nguyên nhân, ý nghóa của tiếng cười trong từng
truyện.
2. Kĩ năng:
- Thấy được nghệ thuật đặc sắc của truyện cười: Ngắn gọn, tọa được yếu tố bất ngờ
thú vị, những cử chỉ lời nói gây cười.
- Kĩ năng sống: Giao tiếp, nhận thức bản thân, xác định giá trị bản thân, sáng tạo...
3. Thái độ: Phê phán những thói hư tật xấu, định hướng nhân cách sống cao đẹp
B. Phương pháp:
Tổ chức giờ dạy học theo cách kết hợp các phương pháp đọc sáng tạo, gợi tìm kết hợp
với các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời câu hỏi.
C. Phương tiện thực hiện:
D. Tiến trình giờ dạy:
- Hs đọc văn bản
- Khái qt chủ đề
* Hoạt động 3: Đọc – hiểu
văn bản (25 phút)
- Phương pháp: Hoạt động
nhóm kết hợp kĩ thuật khăn
trải bàn.
- HS đọc văn bản sgk
- Truyện đã dùng các biện
pháp nào để gây cười? Hãy
phân tích từng biện pháp đó?
- Cái cười ở chuyện này là
gì?
- Tìm một số truyện cười
giễu cợt việc xử kiện nơi
công đường? (Diêm Vương
xử kiện, Xin đại vương đình
lại cho một đêm…)
- Tích hợp: Qua câu chuyện
em rút ra được bài học gì cho
bản thân?
+ Bản thân cần giữ bình tĩnh
trong mọi tình huống khơng
nên vì chuyện bé xé ra to.
+ Tránh tiếp tay cho hoạt
động xấu: Hối lộ.
+ Xác định chính xác đúng
sai của vấn đề.
- Hãy phân tích cái láu cá
“vụng chèo khéo chống”
công bằng, lẽ phải không có ý nghóa, lẽ phải thuộc về
kẻ nhiều tiền. Truyện đã cười và quất đòn roi “chết
người” vào việc xử kiện của thầy lí.
2. Tam đại con gà
- Anh học trò dốt nhưng giấu dốt, lại hay khoe chữ
thói xấu, không dừng ở lời nói mà biến thành hành
động.
- Tiếng cười bật ra nhiều lần:
+ Lần 1: “kê” là gà, thầy bảo “Dủ dỉ là con dù dì”
thực tế không có loài vật này, không phải là âm tiếng
Hán thiếu kiến thức sách vở và thực tế.
+ Lần 2: “Thầy cũng khôn… đọc khẽ” thận trọng
trong việc giấu dốt.
+ Lần3: thầy tìm thổ công, xin âm dương, cái dốt lòi
ra ba lần, thầy đắc ý “bệ vệ… dù dì”
+ Lần 4: cái dốt được khuếch đại bằng âm thanh, thói
giấu dốt bò lật tẩy, thầy nhạo cái dốt của thổ công,
gượng gạo: “Tôi vẫn biết… con gà” cái dốt nọ lồng
- Nêu ý nghóa của toàn bộ vào cái dốt kia.
câu chuyện? Từ đó rút ra bài * Ý nghóa của truyện: Tiếng cười mang ý nghóa phê
học, kĩ năng sống cần thiết phán vừa hóm hỉnh, vừa sâu sắc. Truyện đánh giá các
cho bản thân?
hạng thầy trong xã hội phong kiến suy tàn, trong đó
- Kĩ năng:
có thầy dạy chữ. Hôm nay, truyện vẫn còn có ý nghóa.
+ Xác định chính xác giá trị
bản thân.
- Tập trung được tiếng cười vào đối tượng nhất đònh.
- Không kể về số phận, chân dung, động cơ, hành
động… của nhân vật.
- Nhân vật bộc lộ qua cử chỉ, ngôn ngữ để làm bật lên
tiếng cười.
3. Ngôn ngữ giản dò nhưng tinh, sắc.
Kết thúc vấn đề:
Nghệ thuật truyện cười là phát hiện mâu thuẫn gây
cười. Từ đó mà xem xét kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ,
cử chỉ… của nhân vật làm bật lên tiếng cười.
E. DẶN DÒ – CỦNG CỐ
- Nắm vững nghệ thuật của truyện cười, sưu tầm thêm một số truyện cười khác.
-Tiết sau: Lời tiễn dặn (Trích truyện thơ Tiễn dặn người yêu)
D. RÚT KINH NGHIỆM
KẾT LUẬN
I. KẾT QUẢ
Kết quả khảo sát trước và sau khi áp dụng SKKN như sau:
1. Chất lượng giáo dục Kĩ năng sống
* Kết quả khi chưa áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm:
Lớp
Tổng
Chưa biết
Nhận biết
Hiểu các
Chưa biết
Nhận biết
Hiểu các
Hs
KNS
SL
Tỉ lệ
0
0%
được KNS
SL Tỉ lệ
5
13.5%
KNS
KNS
SL
Tỉ lệ
SL Tỉ lệ
12
32.4% 21 54.1%
10A1 38
hs
10A1 38
Giỏi
SL Tỉ lệ
7
19%
Khá
Tb
SL Tỉ lệ
SL
23
59.4% 8
Tỉ lệ
SL
45.9% 1
Tỉ lệ
21.6%
Yếu
SL
0
Tỉ lệ
2.8%
của kĩ năng sống đối với môn học và bản thân để từ đó không coi các hoạt động kĩ năng
sống chỉ là những hoạt động giải trí, vui vẻ ngoài nội dung bài học.
C. NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN BỎ NGỎ VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Những vấn đề còn bỏ ngỏ
Trong phạm vi hạn hẹp của đề tài, tôi mới chỉ đưa ra một số khía cạnh của vấn đề
mang tính chất trọng tâm. Việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn nói
chung và trong phần truyện cười nói riêng còn rất nhiều vấn đề có thể bàn đến như:
- Đặc trưng nghệ thuật của truyện cười dân gian
- Bàn về hệ thống nhân vật trong truyện cười dân gian.
- Tính triết lí dân gian trong truyện cười dân gian.
- Phân tích tiếng cười trong các truyện cười dân gian.
- Tích hợp giáo dục Kĩ năng sống trong môn Ngữ văn THPT.
- Giáo dục Kĩ năng sống, giáo dục đạo đức học sinh qua môn Ngữ văn bậc THPT
Những vấn đề đó cũng là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng khi tìm hiểu về truyện
cười dân gian cũng như giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh. Vấn đề này cũng góp phần đổi
mới phương pháp giáo dục, nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn.
D. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Để việc giáo dục kĩ năng sống trong các môn học nói chung, trong ngữ văn và phần
truyện cười dân gian nói riêng đạt kết quả cao, tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau:
- Đây là một nội dung quan trọng trong dạy học hiện đại hiện nay, giáo dục về Kĩ năng sống
rất ít vì vậy đề nghị nhà trường tăng cường thêm nhiều đầu sách về nội dung này giúp giáo
viên có thêm nhiều tài liệu để nghiên cứu phục vụ giảng dạy.
- Các cấp lãnh đạo nên tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề về phương pháp tích hợp giáo
dục Kĩ năng sống trong các môn học ở bậc THPT một các rộng rãi và thường xuyên hơn.
- Tổ chức dạy thực nghiệm để giáo viên dạy môn Ngữ văn trong toàn tỉnh có thể đóng góp ý
kiến để giờ dạy Ngữ văn có tích hợp giáo dục Kĩ năng sống đạt được hiệu quả đúng như
mong đợi của toàn ngành, đúng với mục tiêu của môn học, bậc học hiện nay.
E. KẾT LUẬN CHUNG