ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ LOAN
TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC THƠ VIỆT NAM TỪ
NĂM 1945 ĐẾN 1975
(NGỮ VĂN 12, TẬP 1)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
HÀ NỘI – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ LOAN
TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC THƠ VIỆT NAM TỪ
NĂM 1945 ĐẾN 1975
(NGỮ VĂN 12, TẬP 1)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH : LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 15015714
THCS
WHO
UNICEF
UNESCO
ĐHSP
SGK
HS
GV
PPDH
KTDH
:
:
:
:
:
:
Kĩ năng sống
Trung học phổ thông
Trung học cơ sở
Tổ chức Y tế thế giới
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
:
:
:
:
:
dục sang tiếp cận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng
động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống. Với quan
điểm dạy học tích hợp hiện nay đã góp phần hiện thực hóa và thực hiện thành
công đổi mới giáo dục.
Cùng với các biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho
học sinh trong nhà trường, giáo dục KNS cho học sinh là yêu cầu vô cùng
quan trọng, một nội dung không thể tách rời của quá trình giáo dục. Mục đích
của quá trình giáo dục KNS là nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng cần
thiết nhất để các em có thể thích ứng với cuộc sống của xã hội thời hiện đại.
Có thể nói, việc giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường phổ thông là rất
cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
Nội dung giáo dục KNS đã được tích hợp trong một số môn học và hoạt
động giáo dục có tiềm năng trong nhà trường phổ thông. Các môn học đều hàm
ẩn nội dung giáo dục KNS với những mức độ khác nhau. Với đặc trưng của một
môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh nhiệm vụ hình thành và
phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản
văn học và các loại văn bản khác, môn Ngữ văn còn giúp học sinh có được
những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con
người. Môn Ngữ văn còn giúp học sinh có năng lực sử dụng ngôn ngữ để học
tập, khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội và con người. Đồng thời môn
Ngữ văn giúp học sinh bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ
1
để hoàn thiện nhân cách. Vì thế, môn Ngữ văn trong nhà trường THPT là môn
học có nhiều ưu thế trong việc giáo dục KNS cho học sinh.
Nhưng trên thực tế, vấn đề giáo dục KNS ở trường phổ thông mới được
chú trọng từ những năm học 2010 – 2011. Hơn nữa, bản chất môn Ngữ văn là
sự kết hợp giữa tính khoa học và nghệ thuật. Làm sao để học sinh vừa cảm
thiếu niên. Từ xuất phát điểm này, một số nhà nghiên cứu như J.H.Fichter
(nhà xã hội học người Mỹ), P.Tugarinov (Liên Xô) hay Dramalier (Bungari)
bắt đầu đề cập đến vấn đề giá trị sống như những chuẩn mực trong giá trị đạo
đức con người. Từ đây, một số tài liệu nghiên cứu về vấn đề giáo dục KNS
cho thanh thiếu niên ra đời như: Tài liệu tập huấn về KNS của UNICEF
(2004), Những hoạt động giá trị sống cho thiếu niên (8 đến 14 tuổi) của Diane
Tiuman (Nxb thành phố Hồ Chí Minh – 2000), Tài liệu tập huấn kĩ năng cơ
bản trong tham vấn, G.Bandzeladze (1985)…
Cũng vào những năm đầu thập niên 90, một số nước châu Á như : Ấn
Độ, Lào, Campuchia… đã nghiên cứu và triển khai chương trình dạy KNS ở
các bậc học phổ thông từ mầm non cho đến THPT. Những nội dung giáo dục
chủ yếu ở hầu hết các nước này đó là trang bị cho thế hệ trẻ những KNS cần
thiết để giúp họ thích nghi dần dần với cuộc sống sau này, mục đích chính là
dạy - trang bị và hình thành KNS. Mục tiêu chung của giáo dục KNS được
xác định là nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng
và tích cực, đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng
ngày đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống. Vì vậy, các nước đã đưa ra
cách thiết kế chương trình giáo dục và trang bị KNS vào tất cả các môn học
và các chương trình ở những mức độ khác nhau.
Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS
vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở
Tiểu học và Trung học. Việc giáo dục KNS cho học sinh ở các nước được
thực hiện theo 3 hình thức:
- Kĩ năng sống là môn học riêng biệt.
- Kĩ năng sống được tích hợp vào một số môn học chính.
- Kĩ năng sống được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong
chương trình.
Tuy nhiên, chỉ có một số ít không đáng kể các nước đưa KNS thành một
môn học riêng biệt. Ví dụ như: Malawi, Campuchia… Còn đa số các nước để
3
KNS cho học sinh trong nhà trường.
4
Trong khoảng một thập niên trở lại đây, đã có rất nhiều các trung tâm
giáo dục KNS ra đời như Tâm Việt, TGM Corporation, Trung tâm kĩ năng
sống trực thuộc trung ương hội khoa học tâm lí – Giáo dục Việt Nam…. thu
hút đông đảo giới trẻ cũng như các bậc phụ huynh. Tuy nhiên, tác dụng của
các khóa học này có được bền lâu hay không còn phụ thuộc nhiều vào sự tự
rèn luyện của bản thân người học. Ngoài ra, rất nhiều Website, các diễn đàn
về KNS trên internet cũng được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của giới trẻ.
Đáp ứng nhu cầu thực tiễn về lí thuyết và phương pháp giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh, một số chương trình nghiên cứu đã ra đời như Giáo dục
giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh THCS [19]. Trong cuốn sách này,
các tác giả đã dựa trên đặc điểm tâm lí của học sinh THCS đã xác định những
giá trị sống và KNS cần thiết cho lứa tuổi này. Từ đó, chỉ ra vai trò của mỗi kĩ
năng và đề xuất một số hoạt động giúp học sinh hình thành những KNS cho
bản thân mình. Cuốn sách cũng đưa ra một số trò chơi có tác dụng giáo dục
giá trị sống và KNS cho học sinh. Tác giả Bùi Ngọc Diệp với cuốn Cẩm nang
giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT (NXB Giáo dục, 2010) đã nêu
những vấn đề chung về KNS và các KNS cần giáo dục cho học sinh THPT,
hướng dẫn tổ chức những hoạt động, kèm theo một số câu chuyện giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh. Bên cạnh đó, là một số công trình khoa học nghiên
cứu về việc giáo dục KNS cho học sinh như: Lê Kim Anh (2011), Luận văn
thạc sĩ sư phạm Ngữ văn, Tích hợp rèn kĩ năng sống cho học sinh trong dạy
học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam ở trường trung học cơ sở, Trường Đại học
Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý giáo
dục của tác giả Nguyễn Hữu Đức (2010), Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh trường THPT Trần Hưng Đạo – Nam Định trong giai đoạn hiện nay
vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại” của tác giả Hà Minh Đức, “Thi pháp học và
vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường” của tác giả Nguyễn Thị Dư Khánh.
Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu được đăng tải
trên các báo, tạp chí chuyên ngành, nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ cũng
đề cập, bàn luận về phương pháp dạy học thơ trong đó có thơ Việt Nam từ
năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1). Các công trình nghiên cứu này đã đưa
ra các biện pháp tiếp cận các tác phẩm từ góc độ thể loại hoặc đề xuất một hướng
dạy học hiện đại đối với các tác phẩm thơ ca.
6
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của luận văn này không phải là mới. Tuy
nhiên, những công trình trước đó mới chủ yếu nghiên cứu về dạy học theo đặc
trưng thể loại, thi pháp, phương pháp giảng dạy… mà chưa đề cập đến các vấn
đề tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học.
Đề tài nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn nhất định, đó là đề xuất các
biện pháp cụ thể tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học thơ Việt
Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) nhằm đưa môn Ngữ văn gắn
liền với cuộc sống và mang tính giáo dục cao hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Phân tích thực trạng tích hợp giáo dục KNS cho học sinh trong dạy học
Ngữ văn nói chung và qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ
văn 12, tập 1) nói riêng, từ đó đề xuất những biện pháp mang tính khả thi
trong việc tích hợp giáo dục KNS cho học sinh.
- Đề tài góp phần phát huy tính hữu dụng và thiết thực qua dạy học đọc –
hiểu thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) nhằm hình
thành và phát triển những KNS cần thiết cho lứa tuổi học sinh trung học phổ
thông. Từ đó, góp phần giáo dục nhân cách học sinh, nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu xã hội.
tích, tổng hợp, đánh giá, thống kê, phỏng vấn…
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thống kê, so sánh, đối chiếu, xử lí
số liệu….
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ
lục, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2. Một số biện pháp dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến
1975 (Ngữ văn 12, tập 1) theo hướng tích hợp giáo dục kĩ năng sống.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Khái quát về Kỹ năng sống
1.1.1. Khái niệm Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống
1.1.1.1.Kĩ năng sống
Kĩ năng sống (life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi cho mọi
lứa tuổi trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời sống xã hội. Tuy
nhiên, khi nói về KNS thì có nhiều quan niệm khác nhau:
- Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là những kĩ năng thiết thực
mà con người cần có để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh. Hiểu rộng hơn,
KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive),
giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của
cuộc sống hàng ngày.
- Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận
giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự
cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng.
- Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc
Kĩ năng sống được hình thành thông qua quá trình xây dựng những hành
vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp
người học có cả kiến thức, giá trị và kĩ năng thích hợp. Do vậy, KNS phải
được hình thành cho học sinh thông qua con đường đặc trưng - hoạt động giáo
dục. Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Giáo dục kĩ năng sống là một quá trình với
những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển để học sinh biết
cách chuyển tải những gì mình biết (nhận thức), những gì mình cảm nhận
(thái độ) và những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ
giúp học sinh biết phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình
huống khác nhau của cuộc sống” [19, tr.108 – 109].
1.1.2. Phân loại kĩ năng sống
Do tiếp cận KNS tương đối đa dạng nên cũng có nhiều cách phân loại
KNS, tùy theo quan niệm về KNS.
-Theo UNESCO, WHO và UNICEF, có thể xem KNS gồm các kĩ năng
cốt lõi sau :
10
+ Kĩ năng giải quyết vấn đề (problem solving)
+ Kĩ năng suy nghĩ/ tư duy phê phán (critical thinking)
+ Kĩ năng giao tiếp hiệu quả (effective communication skills)
+ Kĩ năng ra quyết định (decision – making)
+ Kĩ năng tư duy sáng tạo (creative thinking)
+ Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân (interpersonal relationship skills)
+ Kĩ năng tự nhận thức/ tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị
(selfawareness building skills, incl. Self-awareness, self-esteem and selfconfidence, angd values analysis)
+ Kĩ năng thể hiện sự cảm thông (empathy)
+ Kĩ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc (coping with stress and
emotions)
- Trong giáo dục ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được phân
hoàn cảnh và có khả năng chinh phục hoàn cảnh. Vì vậy, KNS sẽ là hành
trang không thể thiếu của mỗi người. Biết sống, làm việc, và thành đạt là ước
mơ không quá xa vời, là khát khao chính đáng của những ai biết trang bị cho
mình những KNS cần thiết và hữu ích. KNS tốt thúc đẩy thay đổi cách nhìn
nhận bản thân và thế giới, tạo dựng niềm tin, lòng tự trọng, thái độ tích cực và
động lực cho bản thân, tự mình quyết định số phận của mình.
Có thể nói, KNS chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức
thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có KNS sẽ
luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách, biết ứng xử, giải quyết
những vấn đề trong cuộc sống một cách tích cực, phù hợp, họ thường thành
công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của mình.
Ngược lại, người thiếu KNS thường bị vấp váp, dễ bị thất bại trong cuộc
sống. Họ thường dễ mắc sai lầm hoặc chậm trễ khi đưa ra những quyết định.
Có quan điểm cho rằng, kiến thức chỉ đảm bảo cho 50% của sự thành công,
50% còn lại phụ thuộc vào người đó có KNS hay không? Để khẳng định tầm
quan trọng của KNS, người ta đã hình tượng hóa nó như cây cầu đưa con
người vượt qua dòng sông cuộc đời chứa đầy rủi ro, thách thức để đến được
bến bờ của thành công và hạnh phúc.
12
KNS làm giảm thiểu các tệ nạn xã hội và hành vi phạm pháp, giúp xây
dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người trong xã hội,
đồng thời góp phần thúc đẩy năng suất lao động xã hội do dựa trên tinh thần
lao động có trách nhiệm, có kế hoạch, sáng tạo và hợp tác của cá nhân…
Những hành vi tích cực, mang tính chất xây dựng trong mọi lĩnh vực của cuộc
sống vốn là đặc tính của con người có KNS. Do vậy, nếu mọi cá nhân trong
xã hội đều có KNS sẽ giúp xã hội phát triển một cách bền vững. Ngược lại,
nếu thiếu KNS các cá nhân dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội như: nghiện rượu,
nghiện ma túy, mại dâm, cờ bạc, bạo lực… Giáo dục KNS còn giải quyết một
niệm khác nhau.
Tích hợp ban đầu có các tên gọi là: liên hệ (permeation), kết hợp
(combination), phối hợp (coordination), tích hợp (intergration). Theo Từ điển
tiếng Việt, tích hợp là “sự hợp nhất, sự hòa thuận, sự kết hợp”.
Theo Từ điển Giáo dục học cho rằng: “Tích hợp là những hành động liên
kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc
vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [11, tr.15]. Bên cạnh
đó, nhà nghiên cứu Phạm Văn Lập cũng quan niệm rằng “dạy học tích hợp có
nghĩa là những kiến thức, kĩ năng học được ở môn học này, phần này của môn
học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học
khác, trong nhiều phần khác của cùng môn học” [17].
Từ các quan niệm trên, có thể thấy dạy học tích hợp chính là quá trình
giúp học sinh biết cách sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết
ứng dụng trong những tình huống cụ thể, trên cơ sở đó phát triển năng lực
người học.
1.2.2. Quan điểm Dạy học tích hợp
Tích hợp là một trong những quan điểm đã trở thành xu thế phát triển
chương trình giáo dục phổ thông ở nhiều nước trên thế giới. Ở nước ta, từ
thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng môn học tích hợp với
những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm
và áp dụng vào nhà trường phổ thông ở các bậc học. Thực tiễn đã chứng tỏ, việc
thực hiện dạy học tích hợp sẽ làm tăng hiệu quả của hoạt động giáo dục.
14
Hơn nữa, đây cũng là một trong những quan điểm chỉ đạo trong việc xây
dựng chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau năm 2015. Tuy nhiên,
nhiều giáo viên vẫn còn có những nhầm tưởng rằng tích hợp là phép cộng
những kĩ năng có thể áp dụng ở mọi nơi.
Cũng theo PGS. TS Trần Trung Ninh, để việc tích hợp có hiệu quả cao
nên có sự phối hợp đồng bộ giữa chương trình, nội dung kiến thức các môn
học và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học. Bên cạnh đó,
cần tăng cường các giờ học thực hành, hoạt động ngoại khóa theo chủ đề,
giảm giờ dạy lí thuyết của giáo viên, tăng thời lượng học tập của học sinh.
Xây dựng hệ thống bài tập mở, bài tập gắn với thực tiễn, bài tập có nội dung
vận dụng kiến thức liên môn từ đó bồi dưỡng năng lực khoa học và KNS cho
học sinh, tạo hứng thú và động lực cho việc học.
Trong bài phỏng vấn với báo Giáo dục và Thời đại, GS.TS. Đinh Quang
Báo, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội, Ủy viên Hội đồng Quốc gia
Giáo dục và Phát triển nhân lực đã đưa ra cách hiểu ngắn gọn về việc dạy học
tích hợp: “Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đó giáo viên tổ
chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc
nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, đời sống;
thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được
những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và
trong thực tiễn cuộc sống” [30].
Khẳng định tích hợp là yêu cầu chung của quá trình dạy học, nguyên
Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển cho biết: “Giáo dục
tích hợp được quán triệt khi thiết kế và thực hiện các yếu tố cấu thành quá
trình với các mức độ khác nhau dựa trên logic phát triển năng lực ở học sinh.
Tích hợp kết hợp với phân hóa sâu dần để có một chương trình giảm số môn
học bắt buộc, tăng các môn học, chủ đề tự chọn, nhưng học sinh lại có được
nguồn tri thức rộng, gắn với thực tiễn và được rèn luyện kĩ năng, chuẩn bị
tâm thế hướng nghiệp, hướng nghề, hướng đến phát triển trình độ cao” [29].
Vì thế, tích hợp trong dạy học là một bước tiến quan trọng trong khoa
học giáo dục, từ hướng tiếp cận nội dung chuyển sang hướng tiếp cận năng
16
17
bản thông dụng trong nhà trường và xã hội cũng sử dụng ngôn ngữ làm công
cụ. Quan điểm tích hợp sẽ dẫn đến những thay đổi trong việc xác định mục
tiêu môn học. Với quan điểm này, ba phân môn trên sẽ được phối hợp triển
khai cùng hướng tới một mục đích chung là nâng cao năng lực sử dụng tiếng
Việt cho học sinh. Cụ thể là hình thành 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, từ đó
giúp các em hình thành năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học nghệ
thuật một cách chủ động, tích cực, từng bước hình thành, phát triển năng lực
tư duy và giao tiếp bằng tiếng Việt. Hơn nữa, việc dạy học tích hợp giúp cho
nội dung Văn học, tiếng Việt và Làm văn được kết hợp nhuần nhuyễn. Dạy
tiếng Việt đồng thời là dạy Văn, qua dạy Văn mà củng cố khắc sâu kiến thức,
kĩ năng của tiếng Việt, Làm văn giúp thực hành tổng hợp các kiến thức, kĩ
năng đó. Với quan điểm tích hợp, hệ thống các văn bản đưa vào chương trình
và sách giáo khoa sẽ là ngữ liệu để gắn kết một nội dung học tập của các phân
môn.
Trong chương trình Ngữ văn THCS, trục tích hợp được lấy chủ yếu là các
kiểu văn bản giúp học sinh hiểu đặc điểm nội dung và nghệ thuật của các văn
bản theo kiểu loại và tạo lập được các văn bản theo kiểu loại. Còn chương trình
Ngữ văn THPT lại lấy trục tích hợp là hai mạch nội dung đọc hiểu và tạo lập văn
bản, nhằm giúp học sinh phát triển và nâng cao năng lực thưởng thức Văn học và
năng lực sử dụng tiếng Việt trong các tình huống giao tiếp văn hóa (nói và viết).
Mặt khác, tính tích hợp của chương trình và SGK Ngữ văn còn thể hiện
ở mối liên thông giữa kiến thức sách vở và kiến thức đời sống; liên thông giữa
kiến thức, kĩ năng của môn Ngữ văn với các môn học thuộc ngành khoa học
xã hội và nhân văn và các ngành học khác, nhằm giúp học sinh có được kiến
thức và kĩ năng thực hành toàn diện, góp phần giáo dục đạo đức công dân,
KNS, hiểu biết xã hội… Như vậy, có thể nói tích hợp trong môn học Ngữ văn
không chỉ là phối hợp các kiến thức và kĩ năng của tiếng Việt và Văn học mà
tạp. Đây là giai đoạn các em nỗ lực tìm kiếm những quan hệ ngoài gia đình,
hướng tới những người bạn đồng lứa, để khẳng định cái tôi của mình. Đây là
lứa tuổi tràn đầy xúc cảm, dễ xúc động, khó kiềm chế cảm xúc bột phát, dễ bị
tổn thương. Trạng thái tình cảm của các em thất thường, không ổn định, thoắt
19