TÍCH HỢP GIÁO DỤC Ý THỨC GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC NGỮ VĂN 12 Ở TRƯỜNG THPT
THƯỜNG XUÂN 2
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, vấn đề bản sắc dân tộc và việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là
mối quan tâm của Đảng, nhà nước ta trong quá trình hội nhập, giao lưu văn hóa
quốc tế. Định hướng vấn đề này Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đề ra phương
hướng “Vǎn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển vǎn hóa là một sự nghiệp
cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng. Bảo
tồn và phát huy những di sản vǎn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá
trị vǎn hóa mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc
sống toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ, vǎn minh
là một quá trình cách mạng đầy khó khǎn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian”.
Nước ta từ khi tiến hành đổi mới, chúng ta đang từng bước mở rộng quan hệ, giao
lưu hợp tác quốc tế về văn hóa. Quá trình này đang tạo cho chúng ta nhiều cơ hội,
đồng thời cũng đặt ra cả những thách thức đối với nền văn hóa. Cho nên, vấn đề đặt
ra là, chúng ta hội nhập như thế nào? Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: Mở cửa,
hội nhập là để vừa phát triển đất nước, vừa bảo tồn được bản sắc của dân tộc mình
và từng bước khẳng định vị thế, bản lĩnh của dân tộc trước cộng đồng quốc tế.
Trách nhiệm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là trách nhiệm chung của
mỗi người, trong đó có học sinh THPT. Ý thức được vai trò của học sinh THPT,
trong quá trình dạy học môn Ngữ Văn ở trường THPT Thường Xuân 2 tôi đã thực
hiện thiết kế dạy học một số bài ở chương trình lớp 12 năm học 2012 – 2013 theo
hướng giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Sau một năm thực hiện thử
nghiệm, tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến kinh nghiệm “Giáo dục ý thức giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc cho học sinh qua dạy học một số bài trong chương trình
Ngữ Văn 12 ở trường THPT Thường Xuân 2”
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận của đề tài.
Bản sắc văn hóa dân tộc ta là những giá trị bền vững, những tinh hoa của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu
Nhờ sự giao lưu văn hóa quốc tế được tăng cường mà nhân dân ta có thêm
điều kiện thuận lợi để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại - từ lối sống, nếp sống
năng động, sáng tạo, tự lập, ý thức tôn trọng pháp luật, đề cao tinh thần dân chủ,
công bằng đến những giá trị văn học nghệ thuật mang đậm tính nhân văn, tính dân
tộc và hiện đại. Chúng ta cũng có cơ hội nhiều hơn để giới thiệu với bạn bè khắp
năm châu những vẻ đẹp độc đáo của nền văn hóa dân tộc. Việc thực hiện những
cam kết với thế giới tạo điều kiện thuận lợi để tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân
loại, có cơ hội phát triển và làm thăng hoa văn hóa dân tộc, tôn vinh hình ảnh Việt
Nam trong cộng đồng thế giới. Những giá trị văn hóa mới phù hợp với yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa có điều kiện phát triển mạnh mẽ.
Bên cạnh những cơ hội đó, cũng có không ít thách thức. Thách thức lớn chủ
yếu diễn ra trên lĩnh vực giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Nghị quyết Trung ương 5
khóa VIII nhấn mạnh: “Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị vǎn hóa
dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ... đang gây hại đến thuần
phong mỹ tục của dân tộc. Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà đạp
lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp”. Những thách
thức của quá trình hội nhập quốc tế có thể nhìn thấy rõ ở một vài hoạt động văn hóa
cụ thể, đáng chú ý là lĩnh vực dịch vụ nghe nhìn. Không khó khăn gì để nhận thấy
rằng các chương trình truyền hình nước ngoài đang giành ưu thế trên truyền hình
Việt Nam. Chúng ta phải nghiêm túc nhìn lại tình hình thực tế rất nhiều học sinh
THPT chăm chú theo dõi các bộ phim của Trung Quốc, Hàn Quốc, Mĩ… đến mức
nghiện; học sinh có thể nhớ lịch sử Trung Quốc, Hàn Quốc hơn lịch sử dân tộc; các
trò chơi truyền hình nước ngoài trở thành nhu cầu không thể thiếu của một bộ phận
học sinh THPT. Nhưng chúng ta cũng không nên quy kết vấn đề đó là tại ý thức
học sinh.
Trong các trường học hiện nay đã nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, hạn
chế: Học sinh nói năng thô tục; không tôn trọng thầy cô giáo, người lớn tuổi; viết
sai chính tả, ngữ pháp; xa rời những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; chưa
1.2. Luôn nâng cao nhận thức của học sinh về các giá trị văn hóa truyền thống.
Giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh trường THPT
Thường Xuân 2 có vẻ là một bài toán khó trong khi việc tiếp thu hệ thống tri thức
môn học đối với các em học sinh đa số là người dân tộc thiểu số đã gặp khó khăn.
Xét trên phương diện tiếp thu, lĩnh hội những tri thức mới, khó thì đúng là các em
gặp nhiều khó khăn. Nhưng giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc không phải là
điều quá lớn lao, khó khăn, càng không phải là điều mới nếu giáo viên biết khơi
dậy tinh thần dân tộc ở các em. Trong quá trình dạy học, người giáo viên cần chú ý
những biểu hiện “lệch chuẩn” văn hóa dân tộc cho dù nhỏ nhất và kịp thời chỉ ra,
uốn nắn thì việc hình thành ở các em thói quen “có văn hóa” sẽ dễ dàng hơn. Các
giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc phải luôn luôn được đề cập đến trong quá
trình dạy học và các hoạt động giáo dục ở nhà trường THPT.
1.3. Nâng cao trình độ chính trị về giữ gìn bản sắc dân tộc qua tuyên truyền
đường lối lãnh đạo của Đảng về văn hóa.
Đảng ta luôn quan tâm đến công cuộc phát triển của đất nước trên cả các
phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa… Trong đó vấn đề bảo tồn và phát huy
truyền thống văn hóa dân tộc thường xuyên được đề cập đến. Trong quá trình dạy
học, việc phổ biến các văn bản của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc là hoạt động giáo dục có ý nghĩa quan trong, giúp cho học sinh hiểu
được quan điểm xuyên suốt của Đảng, nhà nước ta về lĩnh vực này.
2. Các biện pháp tổ chức thực hiện
2.1. Giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa thông qua kĩ năng sử dụng có
hiệu quả tiếng Việt trong học tập và giao tiếp.
2.1.1. Dạy học sinh phát âm chuẩn tiếng Việt qua dạy học bài Giữ gìn sự trong
sáng của tiếng Việt.
- Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 12(tr 30) khẳng định: “Sự trong sáng của tiếng Việt
trước hết bộc lộ ở chính hệ thống các chuẩn mực và quy tắc chung, ở sự tuân thủ
các chuẩn mực và quy tắc đó”. Hoạt động nói của học sinh cần được giáo dục, rèn
sinh thường xuyên mắc lỗi chính tả khi viết thành lớp để phụ đạo riêng. Giáo viên
cho học sinh luyện viết bằng cách đọc chép; phát hiện và sửa chữa lỗi chính tả
trong một văn bản cho sẵn… Kết quả là các em đã khắc phục được hiện tượng tùy
tiện dẫn đến sai chính tả khi viết. Theo khảo sát của tôi trong năm học: trong tổng
số 75 em được kiểm tra chính tả thì có tới 29 em thường xuyên mắc các lỗi cơ bản.
Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là các em chưa tạo được thói quen, còn tùy
tiện trong sử dụng tiếng Việt, chưa chú ý sửa chữa khi sai và do cả áp lực học tập
nữa. Trong số 29 em viết sai chính tả thì có 25 em đã viết đúng sau khi giáo viên
chỉ ra và cho viết lại. Như vậy căn nguyên của vấn đề không nằm ở chỗ trình độ
học sinh mà là do ý thức.
2.1.3. Luyện tập viết đúng ngữ pháp văn bản và diễn đạt lôgic cho học sinh
qua các buổi dạy học phụ đạo học sinh yếu.
- Từ xưa chúng ta đã có câu “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”.
Điều đó chứng tỏ ngữ pháp tiếng Việt là rất khó. Đối với học sinh trường THPT
Thường Xuân 2 thì việc viết đúng ngữ pháp tiếng Việt càng nhiều khó khăn. Nắm
bắt được thực trạng viết câu trong văn bản còn mắc những lỗi về ngữ pháp và lỗi
diễn đạt lôgic của học sinh, tôi thường xuyên đưa ra những biện pháp sửa chữa,
định hướng cho các em. Trong các buổi dạy học phụ đạo, tôi đã thống kê, phân loại
thành các nhóm học sinh và ra các bài tập phù hợp cho mỗi nhóm đối tượng thường
mắc lỗi về câu, lỗi diễn đạt chưa lôgic.
Đối với lỗi câu, tôi đưa ra những câu sai ngữ pháp để các em phát hiện và đề
xuất cách sửa chữa rồi hướng dẫn các em có cách đặt câu đúng. Ví dụ: em hãy chỉ
ra lỗi về ngữ pháp trong câu văn sau đây: “Qua tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn
Kim Lân đã cho ta thấy tình cảnh bi thảm của người nông dân nước ta trước
cách mạng tháng Tám”. Giáo viên hướng dẫn các em xác định các thành phần
chính – phụ, chủ ngữ - vị ngữ, rồi chỉ ra lỗi trong câu này là không phân biệt được
chủ ngữ và trạng ngữ.
Đối với lỗi lôgic, tôi đưa ra các cặp quan hệ từ để yêu cầu học sinh đặt câu
2.2.2. Bài Việt Bắc
- Ở đoạn trích trong sách giáo khoa 12 giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội
dung bài học kết hợp với việc nhấn mạnh một số vấn đề thuộc giá trị văn hóa lâu
đời của dân tộc. Ở phần Đọc hiểu văn bản, tôi nêu vấn đề:
Theo em đoạn trích đề cập đến những giá trị truyền thống gì của dân tộc
ta? Những giá trị đó có ý nghĩa gì đối với bản thân em?
Học sinh nêu được những giá trị đó là nghĩa tình đoàn kết keo sơn giữa con
người với con người; là tinh thần chia ngọt sẻ bùi giữa nhân dân với người lãnh
đạo; là lòng căm thù giặc sâu sắc; là tinh thần vượt khó và lòng chung thủy vững
bền.
Sau khi tìm hiểu xong đoạn trích, tôi giao bài tập về nhà cho học sinh để các
em tự tìm hiểu những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống dân tộc được đúc kết,
thể hiện trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Em suy nghĩ gì về câu thơ: “Thương nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ
nửa chăn sui đắp cùng”? Trong cuộc sống ngày nay có cần thiết xử sự như vậy
nữa không? Em hãy tìm thêm những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ có nội
dung tương tự
Những câu hỏi như vậy sẽ tạo điều kiện để học sinh có dịp bày tỏ suy nghĩ,
thái độ của bản thân về tinh thần yêu thương, đùm bọc lẫn nhau – một giá trị sống
đầy tính nhân văn của dân tộc Việt Nam.
2.2.3. Bài Đất Nước (Nguyễn Khóa Điềm)
- Khi dạy học bài này, tôi nêu vấn đề để cho học sinh tìm hiểu một số nét văn hóa
truyền thống của dân tộc do nhịp sống hiện đại mà nhiều em chưa hiểu rõ. Khi
giảng những câu thơ như “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”,
tôi đã sưu tầm và chụp ảnh lại một số dụng cụ mà các em đã không còn nhìn thấy
trong cuộc sống hiện nay nữa. Những hình ảnh tôi trình chiếu trên bảng đã thực sự
thu hút các em như: cối giã gạo, cối xay lúa, chiếc nia, sàng… Tôi thấy cách làm
này sẽ còn hấp dẫn học sinh hơn nữa nếu mỗi giáo viên luôn sưu tầm những vật
trên đây có còn tồn tại trong cuộc sống hiện nay không?
Hay, tác giả đưa ra nhận định: “Con người được ưa chuộng là con người
hiền lành, tình nghĩa”, em thấy đó có phải là tính cách người Việt không? Tính
cách đó có cần phát huy không?
- Khi đọc – hiểu phần 3- Con đường hình thành bản sắc văn hóa dân tộc, tôi đặt
vấn đề: em hãy lấy ví dụ chỉ ra một nét văn hóa dân tộc ta được hình thành do
sự dung hợp giữa cái vốn có của người Việt với cái tiếp nhận từ bên ngoài?
Về phương diện giao lưu và tiếp biến các yếu tố văn hóa ngoại lai, tác giả
nêu ra vấn đề: “Đối với cái dị kỉ, cái mới, không dễ hòa hợp nhưng cũng không cự
tuyệt đến cùng, chấp nhận cái gì vừa phải, hợp với mình nhưng cũng chần chừ, dè
dặt, giữ mình”. Giáo viên cần cho học sinh thảo luận rồi chỉ ra: người Việt đã tiếp
thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại phù hợp với mình, biến thành cái của
mình, nhưng cũng kiên quyết bài trừ các yếu tố lai căng, không hợp với bản tính
của mình. Học sinh sẽ có cơ hội thể hiện quan điểm của mình về tiếp thu văn hóa
nước ngoài, giữ gìn bản sắc của dân tộc mình trong thời đại mở rộng quan hệ quốc
tế.
2.3. Giáo dục ý thức tôn trọng, gìn giữ các di sản
- Giáo dục học sinh nâng cao ý thức chăm sóc, bảo vệ các di tích tại địa phương:
nghĩa trang liệt sĩ xã Tân Thành; đền thờ Cầm Bá Thước…
- Ở trường THPT Thường Xuân 2, học sinh là con em người dân tộc Thái chiếm đa
số. Đời sống kinh tế biến đổi, một số yếu tố bản sắc văn hóa của người Thái cũng
có nguy cơ không đứng vững được, nhất là những yếu tố về cung cách sinh hoạt
hàng ngày. Người Thái ở Thường Xuân cũng giống như người Thái nói chung,
thường có những bộ trang phục rất đẹp, thế nhưng học sinh ở đây gần như không
còn hứng thú với nó nữa. Có thể khẳng định trong tương lai gần sẽ không còn xuất
hiện những bộ váy Thái duyên dáng nữa, mà nó sẽ trở thành một thứ để trưng bày
tại một số nơi. Đó là điều đáng tiếc. Bên cạnh đó, một số hoạt động văn hóa giải trí
độc đáo của người Thái cũng đang dần biến mất, nếu chúng ta không quyết tâm bảo
tồn.
vốn có của dân tộc. Từ đó dẫn đến trong đời sống xã hội, kinh tế có bước phát triển
nhưng bản sắc văn hóa dân tộc lại bị mai một, mất dần hoặc lai căng một cách tự
phát.
Giáo dục có vai trò định hướng cho thế hệ hiện tại phát triển hài hòa giữa
phát triển kinh tế và văn hóa, hướng đến mục tiêu xây dựng một nhà nước giàu
mạnh, văn minh, mang đậm bản sắc dân tộc. Trong dạy học môn Ngữ Văn, giáo
viên cần thể hiện được tính tiên phong, đột phá đối với việc giáo dục học sinh bảo
tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Thực tiễn dạy học Ngữ Văn 12
năm học qua, tôi đã lồng ghép nội dung này vào trong một số bài và đã bước đầu có
hiệu quả. Tôi thực hiện việc dẫn những nội dung trong các văn kiện chỉ đạo của
Đảng, nhà nước ta để học sinh thấy được tính nhất quán, đồng bộ của vấn đề xây
dựng nền văn hóa hiện đại, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Giáo viên và giáo viên Ngữ Văn nói riêng cần truyền đạt cho học sinh nắm
vững những chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, nhà nước ta về vấn đề
này. Cách truyền đạt tốt nhất là vận dụng vào trong các bài: Nghị luận về một tư
tưởng, đạo lí; bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống; bài Nhìn về vốn văn hóa
dân tộc; bài Phát biểu tự do; Phát biểu theo chủ đề (nâng cao)…
Một số ví dụ tôi đã áp dụng trong quá trình dạy học:
Trong dạy học bài Phát biểu theo chủ đề ở lớp 12A2 (nâng cao) tôi đã đưa ra
các chủ đề và hướng dẫn học sinh lập đề cương phát biểu những nội dung sau:
2.4.1. Về công tác lãnh chỉ đạo của Đảng đối với văn hóa, tôi đưa ra các yêu
cầu:
Anh/chị hãy phát biểu những nhận thức và suy nghĩ của bản thân về
quan niệm lãnh đạo của Đảng ta đối với định hướng phát triển nền văn hóa
nước ta trong giai đoạn hiện nay. Từ yêu cầu này, tôi cung cấp những thông tin
cần thiết cho học sinh lập đề cương như sau:
Quan niệm của Đảng về vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là bản sắc
văn hóa dân tộc không thể tách khỏi quan hệ với thế giới. Chúng ta đang chứng
như sau: Một số phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta
hiện nay được Đảng chỉ ra là:
1 - Vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
2- Nền vǎn hóa mà chúng ta xây dựng là nền vǎn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc.
3 - Nền vǎn hóa Việt Nam là nền vǎn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng
các dân tộc Việt Nam .
4 - Xây dựng và phát triển vǎn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo,
trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
5 - Vǎn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển vǎn hóa là một sự nghiệp cách
mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng.
Đây là một số định hướng để học sinh xây dựng đề cương và diễn thuyết
trước lớp
Trong đời đại ngày nay, chúng ta không thể nói rằng đầu tư cho phát triển
kinh tế là trên hết. Nhưng đáng tiếc là thực tế vấn đề này đã từng diễn ra. Đầu tư
cho phát triển tập trung nhiều ở phát triển kinh tế mà chưa có điều kiện đầu tư cho
phát triển văn hóa nói chung, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nói riêng.
Nếu đầu tư cho văn hóa không tương xứng sẽ làm cho văn hóa dân tộc không theo
kịp được xu thế quốc.
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc luôn sống lạc quan. Thực tế, tinh thần lạc
quan là một trong những động lực mạnh mẽ giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn,
thử thách, vững vàng vượt qua mọi sóng gió để trường tồn đến ngày nay. Đó là một
đức tính đáng quý của một dân tộc luôn đặt niềm tin vào những điều tốt đẹp nhất ở
phía trước. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận nhỏ, nhất là lứa tuổi học sinh THPT
hiện nay có biểu hiện tinh thần ấy chưa đúng mức, chưa gắn với trình độ văn hóa.
Bên cạnh đó sự lạc quan quá trớn, sự sùng ngoại một cách mù quáng đã làm cho
giới trẻ hiện nay đang bị lai căng, pha tạp văn hóa.
2.4.3. Hãy trình bày hiểu biết của anh/chị về quan niệm của Đảng về hội nhập
và giữ gìn bản sắc dân tộc
nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa “Phương hướng chung của sự nghiệp vǎn
hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý
thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây
dựng và phát triển nền vǎn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu
tinh hoa vǎn hóa nhân loại, làm cho vǎn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt
động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn
dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời
sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, vǎn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.”
Đảng ta đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể
1 - Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới
2 - Xây dựng môi trường vǎn hóa.
3 - Phát triển sự nghiệp vǎn học - nghệ thuật
4 - Bảo tồn và phát huy các di sản vǎn hóa
5 - Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ
6 - Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng
7 - Bảo tồn, phát huy và phát triển vǎn hóa các dân tộc thiểu số
8 - Chính sách vǎn hóa đối với tôn giáo
9 - Mở rộng hợp tác quốc tế về vǎn hóa
Trên cơ sở những định hướng này, giáo viên yêu cầu học sinh lựa chọn một
nội dung phù hợp, có ý nghĩa với bản thân để triển khai thành một bài thuyết trình.
Khi khâu chuẩn bị đã hoàn thành, giáo viên tiến hành cho học sinh thi trong lớp.
4.3. Nêu vấn đề để kích thích học sinh thể hiện quan điểm về vấn đề: Anh/chị
hãy nêu một số giải pháp giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kì hội
nhập?
Giáo viên định hướng những giải pháp với nội dung sau để học sinh viết bài:
- Cải thiện đời sống vǎn hóa ở những vùng đời sống vǎn hóa còn quá thấp kém.
quan, tổ chức và nhiều cấp chung tay thực hiện một cách có hiệu quả. Việc đưa vấn
đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc vào trong quá trình dạy học môn Ngữ Văn, bản
thân tôi thấy rằng: những biểu hiện nhỏ nhất trong đời sống tinh thần của con người
cũng mang trong nó những đặc điểm giá trị văn hóa của cộng đồng người đó sinh
tồn. Bởi vậy, chúng ta cần có nhiều biện pháp để giáo dục thế hệ học sinh của mình
luôn nâng cao ý thức bảo tồn những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp
thu những tinh hoa của nhân loại, hướng tới xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc. Với suy nghĩ đó, tôi đã cố gắng để tác động vào nhận thức của học
sinh bằng một cách thường xuyên để các em hình thành nền tảng ý thức bền vững.
Có như vậy thì những chủ trương, đường lối của Đảng ta mới đi sâu vào thế hệ
tương lai. Và như vậy trường học mới trở thành môi trường thực sự có văn hóa. Đó
cũng là vấn đề phát huy nội lực trong công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa
dân tộc hiện nay như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Một dân tộc không tự lực
cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập".
Trên tinh thần đó, công tác giáo dục ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
cần được quan tâm nhiều hơn nữa trong các nhà trường. Giáo viên và giáo viên
Ngữ Văn nói riêng cần nhận thức đầy đủ về vai trò, nhiệm vụ của mình để nâng cao
hơn nữa hiệu quả dạy học bộ môn đặc thù này. Lãnh đạo các nhà trường cần dành
quỹ thời gian nhiều hơn để tổ chức các hoạt động ngoại khóa về chủ đề nảy.
Tác giả: Cầm Bá Đường