1
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH THÔNG QUA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
A. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì
lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Trồng người ở đây chính là phải tập trung giáo dục kỹ
năng sống trước khi giáo dục kiến thức cho học sinh. Thế nhưng, trong những năm vừa qua,
ngành giáo dục nước ta chưa làm được như lời Bác dạy.
Dù ở thời đại nào, xã hội nào, kỹ năng sống vẫn luôn là bí quyết giúp con người thích
ứng với môi trường sống, đặc biệt là trong xã hội đương đại, với nhịp sống quay cuồng cùng
với sự cạnh tranh khốc liệt. Nhằm giúp giới trẻ hình thành ý thức về sự cần thiết phải rèn
luyện kỹ năng sống, ngành Giáo dục đang dần dần chú trọng quan tâm nhiều hơn đến việc
giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường.
Tuy nhiên, theo kết quả Khảo sát của Viện Ngiên cứu môi trường và các vấn đề xã hội
được tiến hành đối với hơn 1000 học sinh, sinh viên thuộc mười trường ĐH, CĐ và phổ
thông : “Có trên 95% các em chưa nhận thức đúng về kỹ năng sống (KNS), 77,7% chưa bao
giờ được đào tạo, tập huấn về KNS, 76,4% cho biết rất cần được tập huấn kiến thức về KNS
và hầu hết các em lúng túng khi trả lời hoặc chưa biết cách xử lý các tình huống thường gặp
trong cuộc sống”. Có thể với quy mô của cuộc khảo sát, kết quả trên đây chưa phải là bức
tranh toàn cảnh, nhưng những con số này cùng với hiện thực xã hội đã phản ánh được thực
trạng thiếu hụt trầm trọng về KNS của giới trẻ hiện nay.
Sự thiếu hụt kỹ năng sống của giới trẻ, trong đó có một bộ phận lớn vẫn đang được
tiếp nhận sự giáo dục của nhà trường, còn được phản ánh ở một khía cạnh khác. Tại một
cuộc hội thảo mới đây, TS Phùng Khắc Bình, vụ trưởng Vụ Công tác học sinh sinh viên (Bộ
GD-ĐT), đánh giá từ chỗ “chưa có nhận thức và hành vi đúng đắn, lối sống ích kỷ, ham
hưởng thụ, đua đòi chạy theo giá trị vật chất, từ những biểu hiện lệch lạc về đạo đức, lối sống
dẫn đến một bộ phận HSSV sa đà vào tệ nạn xã hội và phạm tội”.
Chính vì thế, tôi xin trình bày “Một số kinh nghiệm trong việc giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh thông qua việc giảng dạy môn Giáo dục Công dân cấp trung học phổ
thông” của chính bản thân mình qua hơn 4 năm giảng dạy nội dung này. Trong khuôn khổ
của một sáng kiến kinh nghiệm nhỏ và với khả năng còn hạn chế, tôi không thể chuyển tải
hết được những ý tưởng và kinh nghiệm của mình. Tuy nhiên, với trách nhiệm của người
thầy, với lòng yêu nghề, chúng tôi đã tìm tòi, áp dụng trong thực tế mà cụ thể là trong từng
tiết dạy, tôi hy vọng ít nhiều sẽ giúp cho quý đồng nghiệp giảng dạy môn Giáo dục công dân
sẽ định hướng rõ nét hơn trong việc “Giáo dục kỹ năng sống” cho học sinh trong nhà trường.
3B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
PHỔ THÔNG.
1. Khái niệm kỹ năng sống
Kỹ năng sống là một tập hợp
các kỹ năng mà con người có được
thông qua giảng dạy hoặc kinh
nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý
những vấn đề, câu hỏi thường gặp
trong cuộc sống hàng ngày của con
người. Có nhiều khái niệm về kỹ năng
sống, trong đó hầu hết đều thống nhất
với khuynh hướng xem kỹ năng sống là
những kỹ năng tâm lý - xã hội cơ bản
giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng
trong cuộc sống. Ngoài ra nó còn giúp
cá nhân vững vàng trước cuộc sống có
nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ
Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kỹ năng sống
gắn với 4 trụ cột của giáo dục:
• Học để biết (Learning to know): bao gồm các kỹ năng tư duy như: giải quyết vấn đề,
tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu quả
• Học làm người (Learning to be): bao gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng
thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin
• Học để sống với người khác (learning to live together): bao gồm các kỹ năng xã hội
như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự
cảm thông
• Học để làm: (Learning to do): kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ
năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm
Như vậy, kỹ năng sống bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống
hàng ngày của con người. Bản chất của kỹ năng sống là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ
năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói
cách khác, kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi con người, khả năng ứng xử
phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó trước các tình huống của
cuộc sống.
2. Tại sao cần giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
5
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là việc hết sức quan trọng đòi hỏi sự tham gia của
cả gia đình, nhà trường và xã hội. Tuy nhiên, việc giáo dục kỹ năng này tại các trường học
mới chỉ dừng lại ở các tiết học về giáo dục công dân, văn, sử, địa Các buổi sinh hoạt ngoại
khoá vừa thiếu vừa chưa đáp ứng được nhu cầu rèn luyện kỹ năng cho các em. Chương trình
dạy và học ở nhà trường dường như chưa được các học sinh quan tâm nhiều. Cách truyền đạt
kiến thức cũng như chương trình nội dung còn quá nhiều bất cập, lý thuyết chưa gắn với thực
tế. Bên cạnh đó, nhiều cha mẹ với tâm lý chỉ chú trọng tới việc học các môn chính khoá mà
lơ là với việc rèn luyện kỹ năng sống cho các em.
Sự gia tăng những biểu hiện thiếu kỹ năng sống như: không thể hiện được khả năng của
phù hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích
cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ các tình huống và hoạt
động hàng ngày. Ngoài ra, kỹ năng sống sẽ tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt
quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
3. Giải pháp để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt hiệu qủa
Để việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả, cần phải thay đổi tư duy, tiếp
đó là tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ. Giáo dục kỹ năng sống, theo cách hiểu hiện nay là
giáo dục những cách ứng phó với những thử thách như: Tai nạn, điện giật, bị ngộ độc, động
vật cắn, bị xâm hại tình dục, phòng, chống các tệ nạn xã hội… Tuy nhiên, đây mới chỉ là
mục đích trước mắt. Mục đích quan trọng nhất, lâu dài đó là hình thành nhân cách cho học
sinh, trong đó quan trọng nhất là giáo dục tình thân ái và các ứng xử văn hoá.
Đối với nhà trường, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh có thành công hay không,
phụ thuộc rất lớn vào tư chất, đạo đức và năng lực của thầy giáo, cô giáo. Muốn giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh tốt, trước hết, mỗi thầy giáo, cô giáo phải giáo dục cho học sinh
bằng sự nêu gương. Thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu trong ứng xử, trong giáo dục nhân
cách. Trước hết, phải chấm dứt những hành động bạo lực, những ứng xử thiếu văn hoá của
thầy giáo, cô giáo đối với học trò. Có như vậy, thầy giáo, cô giáo mới cung cấp cho học sinh
những kỹ năng sống mà mình đã trải qua. Việc giáo dục này có thể bằng những nội dung
trong giáo án, hoặc bằng những nội dung ngoài giáo án, bằng kinh nghệm trong cuộc sống
của bản thân . Để mục tiêu này đạt hiệu quả, thì giáo viên cần phải có nghiệp vụ sư phạm
giỏi. Có nghiệp vụ giỏi, thì ngay cả giờ dạy toán, vật lý,hay hóa học giáo viên cũng dạy cho
học sinh kỹ năng sống theo cách của mình. Giáo viên phải nhận thấy trách nhiệm của mình
đối với việc giáo dục học trò, không nên xem việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là vấn
đề tạo nên gánh nặng công việc (điều quan trọng là biết cách kết hợp, lồng ghép để truyền đạt
nội dung).
7
Bên cạnh nhà trường, gia đình và xã hội là hai môi trường thiết yếu quan trọng đối với
- Kỹ năng hợp tác và tìm kiếm sự giúp đỡ
8
- Kỹ năng thể hiện sự tự tin.
- Kỹ năng lắng nghe tích cực
- Kỹ năng thể hiện sự cảm thông.
- Kỹ năng tư duy sáng tạo
- Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin
- Kỹ năng quản lý thời gian.
- Kỹ năng kiên định
- ….
Ta có thể tạm chia những kỹ năng sống cần thiết dành cho học sinh phổ thông thành 3
nhóm:
- Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với chính mình: tự nhận thức, xác định giá trị,
kiểm soát cảm xúc, ứng phó với căng thẳng,…
- Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với người khác: giao tiếp có hiệu quả, giải
quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác…
- Nhóm các kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả: tìm kiếm và xử lí thông tin,
tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề
Với 3 nhóm kỹ năng trên thì trong việc giảng bộ môn Giáo dục công dân ta có thể
lồng ghép việc giáo dục kỹ năng sống cho các em. II. MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH QUA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN:
1. Việc giáo dục kỹ năng sống trong môn GDCD:
Kỹ năng sống sẽ góp phần hình thành nên phẩm chất đạo đức, nhân cách sống của các
em, chính vì thế việc giáo dục kỹ năng sống thông việc tích hợp trong một số bộ môn học
- Tư duy sáng tạo
- Ra quyết định
- Giải quyết vấn đề
- Kiên định
- Quản lí thời gian
10
- Đảm nhận trách nhiệm
- Đặt mục tiêu
- Tìm kiếm và xử lí thông tin
Để hình thành kỹ năng sống cho học sinh, chúng ta đã lồng ghép các bài tập tình huống, trò
chơi…vào một số bài học giáo dục công dân trong các tiết học để các em giải quyết vấn đề
và từ đó các em hình thành được kỹ năng sống cho mình.
Sau đây là một số kỹ năng giáo dục cho học sinh trong quá trình soạn giảng môn
GDCD cấp trung học phổ thông:
Lớp 10
:
Bài 4: Nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật hiện tượng (rèn kỹ năng giải quyết vấn đề
trong một tình huống, kỹ năng quản lý thời gian…)
Bài 7: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối nhận thức (rèn kỹ năng trình bày suy nghĩ/ý
tưởng khi thảo luận)
Bài 10 : Quan niệm về đạo đức (rèn kỹ năng xác định giá trị, đạo đức đối với cá nhân, gia
đình và xã hội)
Bài 11 : Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học (liên quan đến nghĩa vụ, lương tâm và nhân
phẩm, danh dự của con người)
Bài 12 : Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình (giao tiếp trong tình bạn và tình yêu,
cách nhìn đúng đắn về tình bạn và tình yêu ở lứa tuổi học đường. Để từ đó hình thành lối
sống đẹp, thẩm mỹ…)
Bài 13 : Công dân với cộng đồng (ở bài này sẽ giúp học sinh biết quan tâm, chia sẽ và làm
quản lí thời gian hợp lí
Kĩ thuật dạy học hiện đại: Kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ
thuật “ khăn trải bàn”, kĩ thuật “phòng tranh”, kĩ thuật công đoạn, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ
thuật tư duy, sáng tạo
Tăng cường tính tích cực chủ động cho học sinh thông qua từng tiết học, chuẩn bị bài ở nhà
như: cho học sinh tìm dữ liệu có liên quan bài học, xây dựng nội dung thuyết trình, tiểu phẩm
liên quan đến nội dung bài học ( môi trường, dân số, gương vượt khó học giỏi, )
Để tạo hứng thú cho học sinh, trong từng bài học, tiết dạy của mình người thấy cần phải đưa ra nhiều
tình huống thật gần gũi với cuộc sống để các học sinh nhận xét, xử lý, lựa chọn và sau mỗi tình
12
huống đó giáo viên sẽ chỉ ra cho các em thấy được vấn đề đúng ở đâu và sai ở đâu.Thông qua mỗi
tình huống người thầy phải giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Dạy theo cách này học sinh rất thích
vì được “phát ngôn” theo sự hiểu biết của mình.
Ngoài ra, người thầy cũng cần tổ chức cho học sinh học nhóm để các em tự nghiên cứu, hợp tác, tìm
tòi và đưa ra kết quả của riêng mình, từ đó học sinh sẽ dần làm quen và dễ xử lý tình huống gặp phải
trong thực tế cuộc sống. Giáo viên là người định hướng và chốt lại vấn đề cốt lỗi cho học sinh.
Ngoài ra, ta cũng có thể tham khảo nguyên tắc 5T để giáo dục kỹ năng sống, cụ thể:
Tương tác: kỹ năng sống không thể được hình thành qua việc nghe giảng và tự đọc tài
liệu. Cần tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động, tương tác với giáo viên và với nhau
trong quá trình giáo dục.
Trải nghiệm: Người học cần được đặt vào các tình huống để trải nghiệm và thực hành.
Tiến trình: Giáo dục kỹ năng sống không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai”
mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức, hình thành thái độ, thay đổi hành vi.
Thay đổi hành vi: Mục đích cao nhất của giáo dục kỹ năng sống là giúp người học
thay đổi hành vi theo hướng tích cực.
Thời gian: Giáo dục kỹ năng sống cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng
sớm càng tốt đối với trẻ em.
3. Giới thiệu một số trò chơi phục vụ chương trình giáo dục kỹ năng sống trong
+ Đến nắm tay bạn ấy và dắt đi lung tung, càng làm bạn ấy mất phương hướng càng tốt.
+ TUYỆT ĐỐI GIỮ IM LẶNG, dù người bị dẫn đi có hỏi gì “Ai vậy ? Dắt đi đâu vậy trời ?”
thì người dẫn cũng không được nói 1 lời nào.
+ Sau 3 phút dẫn các bạn nhóm mù trở lại vị trí ban đầu và cho các bạn nhóm mù phát biểu
cảm xúc, sau đó đóan xem ai là người đã dẫn mình đi nãy giờ.
Ý nghĩa và bài học rút ra:
- Người bị dắt đi (Nhóm mù) sẽ rất sợ và lo lắng vì không ngờ đến việc này, việc duy nhất có
thể làm là đặt trọn niềm tin cho người dẫn đường –> Đôi khi những bạn đã ở lâu trong 1
nhóm không hiểu được sự thiếu lòng tin, cảm giác lạc lõngcủa người mới gia nhập, dẫn đến
việc xa cách, làm vịêc không “ăn rơ” với nhau, năng suất làm việc kém, dễ dẫn đến mâu
thuẫn và mất đòan kết.
- Trong suốt quá trình dẫn dắt cũng sẽ giúp bộc lộ tính cánh của người dẫn đường (Nhóm
sáng mắt):
Một bạn cẩn thận thì dù đi đâu cũng không làm bạn mình bị va chạm, trượt té
Một bạn lém lỉnh sẽ dẫn bạn đi lên cầu thang, vào thang máy và đến những nơi hiểm
hóc.
Một bạn tính không chu đáo thì rất dễ để xảy ra tai nạn, va quẹt.
- Việc bạn nhóm mù có đóan đúng người “dắt” mình suốt 3 phút vừa qua cũng nói lên được
mức độ hiểu và thân quen với nhau giữa các bạn trong nhóm.
3.3 Qua cầu ôm ván.
14
a. Dụng cụ: 2 ghế dài không có tay vịn hay đồ tựa lưng
b. Chuẩn bị:
- Ghế đặt thẳng hàng, cách nhau 1 ô gạch (tùy bạn xếp, sao cho không quá xa không quá gần
là ok)
- Chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm đứng lên 1 ghế
c. Bắt đầu chơi:
- Mỗi bạn phải nhớ thứ tự đứng của mình, ví dụ như đứng thứ 3 tính từ khỏang cách của 2
quan trọng nhất mà thôi.
- Dán tờ giấy đó vào lưng bằng băng keo 2 mặt
- Khi đã xong, mọi người đứng dậy và đi lòng vòng xem của nhau, nhớ là phải xem hết các
bạn khác.
Vòng 2:
- Ngồi xuống, 1 phút tổng hợp những gì nhìn thấy
- Sau đó cả nhóm đứng lên, mỗi người phải xin ít nhất là 5 hay 6 comment về những điều
mình viết về mình từ các bạn khác. Bản thân người cho ý kiến phải ghi vào tờ giấy ấy 1 cách
trung thực, thẳng thắn và thật lòng, không phải lúc nào ta cũng có cơ hội góp ý người khác
mà không bị “xạc” đâu nhé.
- Sau khi đã đủ ý kiến (tốt nhất là của cả nhóm) các bạn lần lượt gỡ tờ giấy ra, 1 phút để đọc
và “bàng hòang ngỡ ngàng” trước comment bà con cô bác về mình.
- Cuối cùng tất cả đưa lại cho người quản trò, “anh ấy” hay “cô ấy” sẽ lần lượt đọc nội dung
cho cả nhóm cùng nghe, cùng suy nghĩ và rút ra bài học cho bản thân mình.
d. Ý nghĩa và bài học rút ra:
- Đôi khi ta cứ vội vã làm, vội vã sống mà dần quên mất hình ảnh mình trong mắt người
khác: mình có tốt như mình nghĩ hay không? Mọi người đang nghĩ sao về mình ?
- Cơ hội hiếm gặp để mọi người có dịp thỏai mái góp ý hay khen ngợi bạn
- Sau trò chơi chắc chắn các bạn trong nhóm sẽ hiểu nhau hơn và có thể tự nhìn nhận lại về
mặt mạnh, mặt yếu của mình mà khắc phục.
3.5 Trò chơi Tìm vai
Số lượng: 8 bạn + "khán giả" (bao nhiêu cũng được).
Luật chơi: Mỗi bạn sẽ nhận được 1 tờ giấy, ghi rõ vai trò của từng bạn (ví dụ lãnh đạo,
người chống đối, ủng hộ ). Bạn không được "bật mí" cho các thành viên còn lại biết vai trò
của mình. Nhiệm vụ của các bạn là cùng nhau "diễn" (thảo luận về 1 chủ đề nào đó) để
"khán giả" nhận ra người nào đang giữ vai trò gì trong nhóm.
Ý nghĩa: Theo các nhà tâm lí, có 8 vai trò phổ biến trong nhóm (hình bên). Trò chơi giúp các
bạn nhận đúng vai trò của từng thành viên trong nhóm, qua đó sẽ giúp các bạn hiểu được
tâm lí, tính cách của mỗi người để có cách ứng xử đúng và làm việc nhóm hiệu quả hơn.
17
Ý nghĩa: Khi có 1 trái bóng, công việc của người chơi xem ra khá dễ dàng. Nhưng khi có
nhiều trái bóng thì tình hình sẽ khác. Điều này cho thấy, với những vấn đề đơn giản, bạn có
thể giải quyết một cách dễ dàng. Nhưng với vấn đề phức tạp, rắc rối hoặc cùng lúc xuất hiện
nhiều vấn đề thì bạn cần biết ưu tiên giải quyết vấn đề nào trước, vấn đề nào sau, tránh để
xảy ra tình trạng "ùn tắc", dễ dẫn bạn đến thất bại. Ngoài ra, sự bình tĩnh cũng là điều
quan trọng khi đối mặt với những tình huống như vậy. (Trích từ Báo Tuổi Trẻ và tài liệu tập
huấn kỹ năng sống của Unicef)
3.9 Trò chơi TRUYỀN TIN
Thể loại: Trò chơi cảm giác, vận động nhẹ trong phòng và ngoài trời, khoảng 08 người tham
dự.
Rèn luyện: Nhận định chính xác các cử điệu từ người khác.
Giáo dục: Tương trợ nhau,phải có sự nhanh nhẹn và hiểu ý nhau trong lời nói và hành động.
Luật chơi: Đứng thành từng đội và mỗi đội cử 01 người đến Qt nhận bản tin, rồi trở về đứng
cách những người của đội mình 1,5m và truyền laiï bản tin đó bằng cử điệu mà không được
nói, cũng như không được nhép miệng. Đội nào nhận được bản tin và thực hiện theo bản tin
trước là thắng.
Mục đích: Gây bầu khí sôi động để dẫn vào chiều sâu lắng sau đó.
Vật dụng: Các vật dụng của các bản tin.
4.Giới thiệu một số trang web về giáo dục kỹ năng sống.
4.1. Http:// tlgd.hcmud.edu.vn
4.2. Http://www.kynang.edu.vn
184.3.Http://.kynangsong.org