Một số kinh nghiệm trong việc giáo dục hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh THPT - Pdf 28

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài :
Lựa chọn nghề giáo, đến giờ chỉ có thể nói : đó là định mệnh cuộc đời
tôi. Hơn 10 năm gắn bó với nghề, đã có biết bao trăn trở, buồn vui mà nghề
mang lại. Mười ba năm trong nghề là 13 năm làm công tác giáo viên chủ nhiệm,
tôi luôn nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ : từ khi chập chững vào nghề với nhiệt
huyết thanh xuân đến khi trưởng thành với bản lĩnh nghề nghiệp. Từng thế hệ
học sinh trưởng thành là những kinh nghiệm về công tác chủ nhiệm trong tôi
dần được tích lũy theo năm tháng.
GVCN là công việc kiêm nhiệm thú vị nhưng muôn vàn khó khăn. Nếu
như GV bộ môn là người thầy giảng dạy, đứng lớp truyền lửa tri thức cho hs qua
những bài học thì GVCN không chỉ là người thầy truyền lửa ấy mà còn là người
bạn lớn, người anh/chị, người cha/mẹ … của HS. Trong hơn 10 năm làm công
tác chủ nhiệm tôi luôn cho rằng : giáo dục, định hướng giúp HS hoàn thiện và
phát triển nhân cách là nhiệm vụ hàng đầu của người GVCN.
Tôi luôn nung nấu mình sẽ viết một đề tài nghiên cứu về công tác chủ
nhiệm. Năm học 2012-2013 để tham gia hưởng ứng :
+ Cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là tấm gương tự học và sáng tạo”.
+ Hội thi “GVCN giỏi DGPT và GDTX” chu kì 2012-2016 (theo Thông tư
43/2013/TT- BGDĐT)
Tôi mạnh dạn viết SKKN tham dự hội thảo báo cáo khoa học cấp trường
và gửi đi cấp tỉnh : Với đề tài “Con đường tôi luyện để trở thành GVCN giỏi”
( Hay “ Một số kinh nghiệm trong việc giáo dục hình thành và phát triển
nhân cách cho học sinh THPT”). Tôi hi vọng đây sẽ là một “thành quả lao
động đẹp đẽ” của mình trong quá trình tự học và sáng tạo.
2. Mục đích và đối tượng của đề tài:
- Mục đích của đề tài là tìm tòi, phát hiện ra những biện pháp giáo dục tối
ưu cho hs trên con đường hình thành và phát triển nhân cách, phù hợp với yêu
cầu và xu hướng thời đại của thế hệ hs 9X ( những hs sinh năm 1990 đến 1999)
- Đối tượng nghiên cứu là HS trường THPT Như Thanh (đặc biệt là các
khóa tôi được phân công là GVCN).

3
( Theo tâm lí học)
Nhân cách : là tổ hợp những đặc điểm của cá nhân, nó qui định hành vi xã
hội và giá trị xã hội của con người. Sự hình thành và phát triển nhân cách là quá
trình cải biến 1 cách sâu sắc và toàn diện những sức mạnh thể chất và tinh thần
của con người diễn ra theo qui luật tích lũy về lượng, biến đổi về chất nhằm
chuyển hóa cá thể người thành 1 chủ thể có ý thức trong xã hội.
Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
, điều đó thể hiện ở những mặt sau:
+ Giáo dục là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằm thực hiện
hiệu quả các mục đích đã đề ra.
+ Giáo dục có thể uốn nắm những phẩm chất tâm lí làm cho nó phát triển theo
chiều hướng mong muốn của xã hội.
Thực tế giáo dục đã chứng minh rằng : sự phát triển nhân cách chỉ diễn ra
tốt đẹp trong những điều kiện có giáo dục và định hướng….
HS THPT : là lứa tuổi 15-18, đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình
hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân. Là lứa tuổi có nhiều biến
động về tâm sinh lí, lứa tuổi mà các em không còn là trẻ con nhưng chưa phải là
người lớn, lứa tuổi cái tôi cá nhân xuất hiện rõ nét với những khám phá và nhận
thức về cuộc sống. Giai đoạn này rất cần sự định hướng, bảo ban của gia đình và
nhà trường, đặc biệt là thầy cô chủ nhiệm.
* Và GVCN giỏi là người làm tốt điều này, là người có quá trình giáo
dục, định hướng tốt cho HS trong quá trình phát triển và hình thành nhân cách.
2. Cơ sở thực tiễn :
4
2.1 Thực trang chung:
Seach google những cụm từ liên quan đến HS, sẽ cho ra những kết quả
thực sự đáng báo động, những con số làm cho những nhà giáo và những người
làm công tác trong ngành giáo dục phải đau lòng:
+ HS THPT đánh nhau : 2.990.000 kết quả trong 0,30 giây

Như 1 cầu nối trong quá trình: lắng nghe - thấu hiểu - sẻ chia - định
hướng cho HS trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách:
Facebook là 1 website mạng xã hội truy cập miễn phí do công ty
Facebook.Inc điều hành và sở hữu tư nhân. Facebook là 1 tiện ích xã hội liên kết
mọi người với bạn bè, người dùng có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức
theo thành phố, nơi làm việc, trường học và khu vực để liên kết và giao tiếp với
người khác. Tất cả mọi người đều có thể kết bạn và gửi tin nhắn cho nhau.
Facebook được thành lập 28.10.2003 do Mark Zuckerberg và nhóm bạn
SV ĐH Harvard sáng lập nên. Facebook có tốc độ phát triển chóng mặt : năm
2010, số lượng người truy cập vào Facebook vượt xa lượng người truy cập và
google…
6
Facebook – trang cá nhân, thực chất là 1 dạng nhật kí công khai sinh
động, phong phú…Do tính chất đặc thù tự do ngôn luận và những kiện tung nên
Facebook bị cấm sử dụng ở Việt Nam và 1 số nước khác. Bắt đầu 2012,
Facebook đã được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. SV và HS THPT là đối tượng
sử dụng nhiều nhất.
HS trường THPT Như Thanh có số lượng lớn sử dụng mang xã hội này.
Theo số liệu điều tra của cá nhân tôi : cứ 1 lớp trung bình 50 HS thì có khoảng
từ 15 – 20 HS sử dụng mạng xã hội này. Tai các lớp chọn như C1, C2, C3…A1,
A2, A3…số lượng HS sử dụng thường nhiều hơn. Ngoài trang cá nhân HS
trường THPT Như Thanh còn lập những trang cộng đồng công khai như : Như
Thanh Confessions, C2- forever, C3 – maimaimottinhyeu, A6-
sieuquay.confessions…
Con số này ở các trường THPT đóng trên địa bàn thành phố Thanh Hóa
có lẽ sẽ nhiều hơn rất nhiều. Các em có thể lên Facebook qua máy tính, laptop,
ipad hoặc điện thoại di động có kết nối mạng…
HS sử dụng Facebook như thế nào? Các em làm gì trên Facebook?
Sau quá trình thường xuyên sử dụng Facebook, tôi đã vào thăm và đọc trang cá
nhân của các em …Tôi tạm chia thành 2 nhóm:

bè…
- Thể hiện tình yêu nam
nữ thiếu văn minh
- Sử dụng ngôn từ thô
tục, thiếu văn hóa…
Trên Facebook khi GV kết ban với HS thì tất cả những hoạt động của HS
sẽ xuất hiện trên bảng tin của GV. Trên Facebook GV có thể biết được tất cả
những vấn đề HS đang quan tâm, biết tất cả những điều mà các em đang suy
nghĩ : về tình bạn, tình yêu, về gia đình, thầy cô và về những vấn đề đang là hiện
tượng xã hội nóng bỏng…
* Lắng nghe :
Facebook là cầu nối ngắn nhất để GVCN nắm bắt suy nghĩ của HS, biết
HS đang nghĩ gì. Khi đọc những status của HS, GVCN phải học cách biết lắng
8
nghe… lắng nghe xem các em viết gì, nghĩ gì, làm gì, ứng xử như thế nào?
GV nên đặt mình vào vị trí 1 người bạn ( đúng như cách “kết bạn” trên
Facebook ) để hiểu tâm tư tình cảm HS mình.
* Thấu hiểu :
Trong cuộc sống đời thường, sẽ thực khó khăn để tất cả hs mở lòng, giãi
bày tâm tư tình cảm của mình với GVCN. Trên Facebook lại khác, khi được GV
quan tâm hỏi han, HS dễ mở lòng hơn.
Để hiểu được HS, GVCN cần phải vượt qua sự cách biệt giữa các thế hệ,
phải trang bị cho mình những kiến thức, hiểu biết phong phú…về tâm lí lứa tuổi,
về những vấn đề HS quan tâm.
* Sẻ chia- định hướng :
Nếu vấn đề HS đăng trên Facebook là những tình cảm, suy nghĩ hay hình
ảnh…mang tính tích cực, GV nhấn nút like và bình luận ngợi khen.
Nếu vấn đề HS đăng trên Facebook là những tình cảm bi quan, chán nản… thì
GV động viên, chia sẻ kinh nghiệm.
Nếu vấn đề HS đăng trên Facebook là những hình ảnh phản cảm, dung tục

10
Truyện cổ tích…
“Quà tặng cuộc sống”…
“Hạt giống tâm hồn”…
Những câu chuyện cảm động trong cuộc sống thường ngày…
+ Thời gian sử dụng truyện :
10 phút đầu giờ
Tiết sinh hoạt lớp
Hoạt động ngoại khóa
Giáo dục lồng ghép qua các bài học bộ môn Ngữ văn,
GDCD…
+ Hình thức sử dụng :
Kể
Thảo luận : hỏi- đáp, trao đổi – bàn luận
Ví dụ :
Trong tiết sinh hoạt tuần chẵn : sau khi tổng kết tuần n, triển khai kế
hoạch tuần n +1, GVCN dành 1 quĩ thời gian 5-10 phút để kể cho HS nghe
những câu chuyện về tình yêu thương giữa con người với con người trong cuộc
sống, những câu chuyện về lòng nhân ái, sự bao dung và về những điều tốt đẹp,
kì diệu của cuộc sống…
Theo cách “mưa dầm thấm lâu” mỗi tuần GVCN kể 1 câu chuyện mà
mình sưu tầm, nắm vững. Những câu chuyện từ trong sách vở đến thực tế cuộc
sống, đặc biệt là những câu chuyện cảm động bình dị đời thường ngay xung
quanh các em.
11
Câu chuyện về Nick Vujicic (người không tay, không chân) – nghị lực phi
thường của 1 người có cơ thể khiếm khuyết.
2.2 Việc làm cụ thể :
+ Tổ chức thăm hỏi, động viên những HS có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
trong trường trong lớp :

bẻ trộm ngô, mía trong ruộng nhà người khác, thờ ơ với người ăn mày nghèo
đói…
Những câu chuyện các em chia sẽ, GVCN sẻ là người định hướng : việc
tốt cần ngợi khen và khuyến khích, việc xấu cần nghiêm khắc sửa chữa, khắc
phục.
+ GVCN tổ chức cho HS làm từ thiện từ qui mô nhỏ đến lớn :
Với tư cách GVCN tôi luôn nỗ lực trong quá trình tuyên truyền công tác
làm từ thiện cho HS. Bản thân tôi xem đây là nhiệm vụ quan trọng của GVCN
trong việc giáo dục HS : làm cho HS biết xúc động trước những mảng đời bất
hạnh, giáo dục cho các em biết yêu thương nhiều hơn, biết sẻ chia đồng cảm
trước nỗi đau của con người…
13
Năm học 2012- 2013 tôi đã tổ chức cho lớp chủ nhiệm 12C10 đi thăm em
Lê Trung Tuấn ( SN 1998) ở địa phương (khu phố 1- thị trấn Bến Sung). Sau khi
thăm em Tuấn về, HS thực sự xúc động (trong đó có cả nhóm HS cá biệt). Các
em thực sự trân trọng nghị lực sống của em Tuấn và thương hoàn cảnh em. HS
đã chủ động quyên góp tiền giúp em Tuấn chữa bệnh, số tiền nhỏ mà các em tiết
kiệm được. Tuy nhiên, đôi khi có 1 vài HS không hiểu hết ý nghĩa công tác từ
thiện – các em cho rằng “góp tiền là được”. Và lúc này GVCN phải định hướng
giúp HS hiểu : “Làm từ thiện từ tâm”, tình yêu thương phải được biểu hiện
1 cách nhân văn nhất.
Tôi khuyên HS viết 1 bức thư gửi em Tuấn, các em đã viết với những lời
chúc, lời nhắn nhủ cảm động: “Anh tên là Quách Văn Thiết – HS lớp 12C10
trường THPT Như Thanh- Anh chúc em mạnh khỏe, nhanh khỏi ốm”. “Chị tên
là Hà Thị Hương, chị mong em sớm khỏe để nhanh trở lại mái trường”…
Bức thư ấy của các anh chị lớp 12C10 và số tiền nhỏ đã được chuyển đến
tay em Tuấn. Mẹ em đã đọc thư cho em nghe và em rất cảm động trước dòng
thư tình cảm của các anh chị. Điều này làm tôi thấy cuộc đời thực sự ấm áp và
có ý nghĩa hơn.
14

3.2 Xác lập vị thế “thủ lĩnh” của GVCN:
- Xác định vị thế của người giáo viên chủ nhiệm là điều cần thiết: Tùy vào
từng tình huống cụ thể, từng sự việc của từng học sinh mà mình linh hoạt sử
dụng cách nói chuyện, trao đổi phù hợp. Có khi mình là cô, nhiều khi là bạn…
16
nhưng bất luận trong hoàn cảnh nào người giáo viên chủ nhiệm cũng có lập luận
kiên định, vững vàng, thực tế với mục đích vừa tư vấn, định hướng vừa điều
chỉnh. Nhất định phải tạo được uy của mình, tuyệt đối tránh tình trạng học sinh
“nhờn” cô. Nói như vậy, không có nghĩa giáo viên chủ nhiệm thiết lập một
khoảng cách đối với học sinh. Mà quan trọng là người GVCN tạo được môi
trường đối thoại thích hợp để học sinh lắng nghe.
- Nguyên tắc làm việc với những học sinh đối tượng có vấn đề này là
người giáo viên phải: kiên định, kiên trì, bình tĩnh và đặc biệt chặt chẽ. Sự chặt
chẽ thể hiện ở quy trình xử lí, lập luận của mình trước học sinh. Đối với nhóm
học sinh này, không thể nói suông được, phải có bằng chứng xác đáng, cụ thể,
chi tiết thì mới có thể buộc các em tâm phục khẩu phục, không thể chối cãi
được. Phải lưu lại tất cả hồ sơ, bằng chứng …sự chặt chẽ của giáo viên chủ
nhiệm sẽ tránh được những ngụy biện vòng vo của học sinh, đồng thời cũng cho
các em thấy sự bài bản, nghiêm khắc của mình.
3.3 “Bẻ đũa bẻ từng chiếc một”:
- “Bẻ đũa bẻ từng chiếc một”: Tách từng cá nhân để xử lý, tránh tình trạng
chịu trách nhiệm tập thể, hòa cả làng. Cách này vừa thể hiện được sự tôn trọng
đối với học sinh vi phạm, vừa đảm bảo sự công bằng cho những học sinh ngoan.
Điều cốt yếu đúng người, đúng việc, đúng trọng tâm sẽ hiệu quả Khi tách rời
từng cá nhân như vậy, cũng có nghĩa làm mất đi sức mạnh của sự đoàn kết, bao
che của số đông bạn không ngoan trong lớp, cá nhân em đó sẽ bộc lộ sự yếu
kém và sợ hãi của mình. Chính sự mất thế dựa dẫm vào nhóm hội của các em sẽ
17
tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên chủ nhiệm bắt bệnh và xử lý triệt để việc
của học sinh đó.

19
KẾT LUẬN
1. Kết luận :
GVCN hãy là người bạn lớn cùng học trò bước qua những thời điểm khó
khăn. GVCN hãy là người thầy lớn của học trò trên con đường hình thành nhân
cách và tiếp cận tri thức. GVCN hãy là người đi trước chỉ đường, dẫn lối thổi
vào học trò tình yêu, hoài bão, khát vọng dựng xây cống hiến cho quê hương đất
nước…Còn hạnh phúc nào hơn khi GVCN nhận được lời cảm tạ của học trò “Cô
ơi! Em cảm ơn cô…vì tất cả ”. Và có lẽ, GVCN giỏi chính là những người GV
bình dị, đời thường ấy.
Trở thành GVCN giỏi có lẽ không chỉ là đích đến trong cuộc đời nghề
nghiệp của tôi mà còn là của biết bao anh chị đồng nghiệp yêu nghề, yêu trò
đang ngày đêm tận tụy với nghề. Với đề tài “Con đường tôi luyện để trở thành
GVCN giỏi”, tôi hi vọng sẽ góp phần nhỏ vào quá trình giáo dục đào tạo những
thế hệ học trò “có tài, có đức” cho HS tỉnh nhà.
2. Kiến nghị :
20
Một trong những quyền cơ bản của GVCN là được tham dự những lớp bồi
dưỡng, hội nghị chuyên đề về công tác chủ nhiệm. Sở GDĐT Thanh Hóa thường
niên tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp cho GVCN, nhưng chỉ có số lượng GVCN
cốt cán tham dự. Thực tế, trong quá trình hơn 10 năm làm công tác GVCN tôi
chưa có điều kiện được tham dự đợt tập huấn của Sở về công tác chủ nhiệm. Vì
vậy, để chuẩn bị tốt cho Hội thi “GVCN giỏi DGPT và GDTX” chu kì 2012-
2016 ( theo Thông tư 43/2013/TT- BGDĐT) mà chắc chắn Sở GDĐT Thanh
Hóa sẽ phải tổ chức trong thời gian tới ( có thể 4/2015). Tôi xin mạnh dạn đề
xuất :
+ Một là : Sở GDĐT Thanh Hóa tổ chức tập huấn chuyên đề về công tác
chủ nhiệm cho tất cả GVCN bậc THPT và GDTX, nhằm bồi dưỡng nghiệp vụ,
nâng cao phương pháp và kĩ năng cho GVCN, tạo cơ hội để GVCN có dịp học
hỏi, chia sẻ và trau dồi kinh nghiệm trong quá trình giáo dục HS.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status