Sáng kiến kinh nghiệm tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong giảng dạy bộ môn vật lý ở trường THCS - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
" TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY
HỌC MÔN VẬT LÍ Ở CẤP THCS "


I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Môi trường là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển mà còn là nơi chứa đựng các
nguồn tài nguyên, các chất thải của đời sống và sản xuất, đồng thời là nơi lưu trữ và cung
cấp thông tin cho con người. Nhưng môi trường hiện nay đang xuống cấp, nhiều nơi bị ô
nhiễm nghiêm trọng. Vì vậy, môi trường cần được bảo vệ, bảo vệ môi trường hiện nay
đang là vấn đề mang tính toàn cầu. Ở nước ta, đó cũng là vấn đề được quan tâm sâu sắc
của tất cả các ngành, các cấp. Ngày 27 tháng 12 năm 1993 Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường; Ngày 17 tháng 10 năm
2001 Thủ tướng Chính phủ đã quyết định về việc phê duyệt đề án “đưa các nội dung bảo
vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”; ngày 31 tháng 01 năm 2005, ngành giáo
dục và đào tạo đã có chỉ thị về việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường,
trong đó nhiệm vụ trọng tâm là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng về môi trường và
bảo vệ môi trường bằng nhiều hình thức phù hợp như thông qua các môn học và hoạt
động ngoại khoá...
Để đáp ứng những yêu cầu đề ra, cùng với các môn học khác trong trường phổ thông,
việc lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong quá trình giảng dạy
môn Vật lí là vấn đề cần thiết không thể thiếu được.
2. Mục đích nghiên cứuViệc giáo dục bảo vệ môi trường trong giảng dạy Vật lí nhằm
mục đích để tất cả các em hiểu được bản chất của các vấn đề về môi trường như tính
phức tạp, quan hệ nhiều mặt, tính hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải
của môi trường, quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển. Bên cạnh đó các em
nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của các vấn đề về môi trường như một nguồn
lực để sinh sống, lao động và phát triển. Từ đó có thái độ, có ý thức trách nhiệm, có cách

1. Cơ sở đề xuất giãi pháp
2. Các giải pháp chủ yếu
3. Các ví dụ minh họa
4. Kết quả áp dụng thực tiễn


II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
1. Cơ sở pháp lí:
Căn cứ vào chủ trương của Đảng và Nhà nước, của ngành Giáo dục và Đào tạo về
công tác giáo dục bảo vệ môi trường. Căn cứ vào Luật bảo vệ môi trường 2005. Căn cứ
quyết định1363/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Đưa nội
dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”. Căn cứ quyết định
256/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi
trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến 2020, xác định BVMT là bộ phận cấu
thành không thể tách rời của chiến lược kinh tế - xã hội, là cơ sở quan trọng đảm bảo phát
triển bền vững đất nước.
- Căn cứ chỉ thị số 32/ 2006/ CT- BGD & ĐT ngày 01-8-2006 về nhiệm vụ trọng tâm
giáo dục phổ thông.
- Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của Sở Giáo dục & đào tạo tỉnh Quảng Bình, của phòng
Giáo dục và đào tạo huyện Tuyên Hóa, của trường THCS Sơn Hóa năm học 2011-2012.
2. Cơ sở lí luận:
Sự phát triển nhanh chóng về Kinh tế- xã hội trong những năm
qua đã làm đổi mới xã hội Việt Nam, chỉ số kinh tế không ngừng nâng cao. Tuy nhiên sự
phát triển kinh tế chưa đảm bảo cân bằng với việc bảo vệ môi trường, những hiểm họa
suy thoái môi trường ngày càng đe dọa cuộc sống của loài người. Chính vì vậy bảo vệ
môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại và của mỗi Quốc gia. Việc tích hợp nội dung
giáo dục bảo vệ môi trường đối với bộ môn Vật lí là việc làm cần thiết giúp học sinh hiểu
biết được mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và vai trò của con
người trong đó. Từ đó sẽ có thái độ thân thiện với môi trường, yêu quý, tôn trọng thiên

Trong quá trình dạy học Vật lí, tôi chắc rằng các giáo viên đã đề cập đến các biện
pháp giáo dục bảo vệ môi trường. Tuy nhiên việc làm này còn chưa thường xuyên, đôi
khi còn mang tính sách vở, thiếu sự gần gũi với đời sống thực tế học sinh. Trong khi đó,
Vật lí là môn khoa học mang tính thực tiễn cao, chúng ta hoàn toàn có thể vừa đưa ra các
biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường liên quan đến từng nội dung trong các bài học cụ
thể lại vừa gần gũi với sự hiểu biết của học sinh. Chính điều này sẽ có tác dụng kích thích
tính tò mò, sáng tạo, hứng thú học tập, mở rộng sự hiểu biết của học sinh, đặc biệt là
hướng sự quan tâm của các em tới môi trường để từ đó biết cách bảo vệ môi trường.
3. Nguyên nhân:
- Thời lượng của một tiết học hạn chế (45 phút) do đó giáo viên giảng dạy ngại đi sâu vào
việc tích hợp nội dung bảo vệ môi trường.
- Do điều kiện phục vụ dạy học, cơ sở vật chất trang thiết bị còn thiếu, tài liệu, sách báo
cho GV và HS tham khảo chưa được phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu và hấp dẫn
học sinh.
- Kĩ năng sử dụng các phương tiện phục vụ việc dạy học hiện đại của giáo viên còn hạn
chế. Như việc sử dụng máy vi tính để chuẩn bị bài, cập nhật lưu trữ thông tin; sử dụng
máy chiếu projecter để giảng dạy, sưu tầm các tư liệu điện tử, tranh ảnh, phim liên quan
đến môi trường ...


CHƯƠNG 3:
Biện pháp, giãi pháp chủ yếu để thực hiện đề tài
1. Cơ sở đề xuất giải pháp:
Hiện nay chúng ta đang đứng trước tình trạng môi trường bị suy thoái nghiêm
trọng. Nguyên nhân do sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp đã thải ra môi
trường một lượng khí thải rất lớn, làm ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường sống. Tuy
nhiên việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường như trên sẽ không đem lại hiệu quả, học
sinh sẽ không hiểu biết về tác động của môi trường đối với loài người, như thế sẽ làm
môi trường ngày càng mất cân bằng về sinh thái, đe dọa nghiêm trọng đến cuộc sống con
người. Để cho nội dung tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường có hiệu quả tôi mạnh dạn

cho bài dạy bị đứt quãng và xa rời trọng tâm kiến thức. Ý thức được điều này giáo viên
cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng các phương án tích hợp để vừa đảm bảo dạy đúng, dạy đủ
vừa đạt được mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường. Để đảm bảo được các yêu cầu đó thì
nội dung tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường được đưa vào sau khi các em đã tiếp thu
được kiến thức nôi dung học tập của phần đó.
2.4. Sử dụng máy chiếu projecter để dạy nội dung tích hợp.
Việc sử dụng máy vi tính kết hợp với máy chiếu để dạy học sẽ phát huy cao tính trực
quan của bài dạy. Đặc biệt phần tích hợp bảo vệ môi trường đòi hỏi không chỉ cung cấp
kiến thức, kĩ năng mà quan trọng là hình thành ở học sinh thái độ tích cực trước các vấn
đề về môi trường bị suy thoái, điều này sẽ đạt được hiệu quả cao khi các em được chứng
kiến những hình ảnh, clip về thực trạng cũng như những hậu quả của ô nhiễm môi trường
đưa lại.
3. Một số ví dụ minh họa
* Ví dụ 1

Bài 21: ĐỐI LƯU - BỨC XẠ NHIỆT (Vật lí lớp 8)

* Vị trí tích hợp: Sau khi học sinh đã làm các bài tập vận dụng phần đối lưu. Đối lưu là
sự truyền nhiệt năng bằng các dòng chất lỏng hoặc chất khí. Đó là hình thức truyền nhiệt
chủ yếu của chất lỏng và chất khí.
* Tình huống tích hợp: Trong phòng ngủ đống kín cửa không có đối lưu không khí sẽ rất
ngột ngạt, khó chịu.
Biện pháp khắc phục: nên mở cửa sổ trước khi đi ngủ khoảng 15 phút để không khí
lưu thông dễ dàng, không khí trong phòng thoáng sạch giúp giấc ngủ ngon hơn, sâu hơn.
* Tình huống tích hợp: Trong bếp lò hay các lò cao ở các xí nghiệp, nhà máy khi không
khí trong lò bị đốt nóng sẽ rất ngột ngạt.
Biện pháp khắc phục: Người ta dùng những ống khói rất cao để thông
gió (tạo ra lực hút khí) khi đó không khí trong lò bị đốt nóng theo ống khói bay lên đồng
thời không khí lạnh ở bên ngoài lùa vào cửa lò. Nhờ đó luôn có đủ không khí để đốt cháy
nhiên liệu. Mặt khác ống khói cao làm cho khói thải ra bay lên cao, chống ô nhiễm môi

sản mà còn làm ô nhiễm môi trường, rất lâu sau mới có thể khắc phục được.
* Ví dụ:3
Bài 26: NĂNG SUẤT T ỎA NHIỆT CỦA NHIÊN LIỆU
(Vật li 8 hướng dẫn đọc thêm)
* Vị trí tích hợp: Sau khi học sinh đã tìm hiểu nhiên liệu là gì và lấy các ví dụ về nhiên


liệu

thường
gặp.
Hiện nay, than đá, dầu mỏ, khí đốt đang là các nhiên liệu chủ yếu của con người. Tuy
nhiên, việc khai thác và sử dụng các nhiên liệu này đã và đang gây những hậu quả vô
cùng nghiêm trọng ảnh hưởng đến môi trường sống của con người: hạn hán, lũ lụt, bão,
sóng thần, khí thải từ nhà máy, xe cộ làm ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất gây mưa
axít, thủng tầng ôzôn...

Hậu quả của việc khai thác và sử dụng năng lượng hoá thạch


(Bắc Kinh, Trung Quốc chìm trong khói bụi do sử dụng nhiên liệu hoá thạch gây ra)
.

(Lũ lụt và hạn hán)

(Bảo, lũ và sóng thần)
Vậy con người cần làm gì để bảo vệ môi trường?
Chúng ta biết rằng, các nguồn năng lượng nói trên không phải vô tận mà chỉ trong vòng
khoảng 50 năm nữa các nguồn nhiên liệu này sẽ cạn kiệt. Vì vậy, một trong những nhiệm
vụ vô cùng cấp bách của con người là phải tiết kiệm các nhiên liệu sẵn có, đồng thời phải

- Xả vào môi trường sống các khí độc sinh ra từ việc đốt cháy nhiên liệu.


*Biện pháp khắc phục:
- Hạn chế sử dụng động cơ nhiệt.
- Cải tiến động cơ nhiệt thân thiện với môi trường.
- Nghiên cứu, thử nghiệm để đưa vào sử dụng rộng rãi loại xăng ethanol, đây là loại
nhiên liệu tiết kiệm và giảm bớt khí thải CO 2 ra môi trường. Hiện ở Việt Nam mới thử
nghiệm cho xe Taxi.
- Thay thế động cơ nhiệt bằng những động cơ khác không làm hoặc ít làm ô nhiễm môi
trường: Vừa qua hãng GM và Segway đã phối hợp sản xuất thành công loại ôtô 2 bánh
đầu tiên trên thế giới với 2 chỗ ngồi. Loại xe này sử dụng một bộ pin để hoạt động, vì vậy
rất thân thiện với môi trường. Loại xe này có thể chạy với vận tốc 56km/h. Chỉ cần mất
vài phút cho một lần sạc pin.
* Ví dụ 5 Bài 1: NHẬN BIẾT ÁNH SÁNG – NGUỒN SÁNG VÀ VẬT SÁNG
- Địa chỉ tích hợp: Ta nhìn thấy một vật khi có ánh sáng từ vật đó truyền vào mắt ta.
- Phương pháp tích hợp: Sử dụng thí nghiệm để hình thành kiến thức làm thế nào để nhìn
thấy một vật (hình 1.2a), Giáo viên kết hợp đặt ra các câu hỏi.
GV hỏi : Các em có biết vì sao các bạn học sinh ở thành phố bị cận nhiều hơn các bạn
học sinh ở nông thôn không ?
HS nhận thức: Ở thành phố, do nhà cao tầng che chắn nên các học sinh thường phải học
tập, làm việc và vui chơi dưới ánh đèn điện (ánh sáng nhân tạo) hoặc ánh sáng tán xạ nên
mắt thường dễ bị cận. Chúng ta ở nông thôn học tập, làm việc và vui chơi dưới ánh sáng
chủ yếu là ánh sáng tự nhiên vì thế mà ít bị cận hơn.
GV: Để khắc phục hiện tượng trên thì các học sinh thành phố cần phải làm gì ?
HS trả lời: Các học sinh thành phố cần có kế hoạch học tập hợp lí, tổ chức vui chơi, dã
ngoại ở những nơi có nhiều ánh sáng tự nhiên.
GV nhấn mạnh: Các học sinh khi học tập phải đảm bảo ánh sáng, hạn chế học tập dưới
ánh sáng nhân tạo.


- Phương pháp tích hợp: Hình thành kiến thức tính chất ảnh tạo bởi gương phẳng( có sử
dụng thí nghiệm H5.2- SGKVL7), cho học sinh nêu ví dụ thực tế, kết hợp sử dụng hình
ảnh vể sự ô nhiễm của nguồn nước, các hành động để bảo vệ môi trường nước.
GV : Các mặt nước trong xanh của các dòng sông, ao, hồ có vai trò gì ?
HS trả lời: Các mặt nước trong xanh của các dòng sông, ao, hồ nó không những là những
chiếc gương phẳng tự nhiên để tôn lên vẽ đẹp cho quê hương mà nó còn góp phần quan
trọng vào việc điều hòa khí hậu tạo ra môi trường trong lành.
GV giới thiệu hình ảnh môi trường nước chúng ta đang ở tình trạng ô nhiễm rất nghiêm
trọng Hình ảnh các chất độc hại được thải xuống các ao hồ(bên trái)

GV: Vậy chúng ta
cần phải làm gì để
có được những mặt nước trong xanh này?
HS nhận thức: Dòng sông ở địa phương chúng ta đang ở tình trạng ô nhiễm nghiêm
trọng, vì vậy chúng ta không được vứt rác thải xuống sông, nhắc nhở cha mẹ không được


bơm các chất độc hại từ vuông xuống sông, tuyên truyền cho mọi người xung quanh ý
thức giữ gìn môi trường.
* Ví dụ 8.

Bài 12 : GƯƠNG CẦU LÕM

- Địa chỉ tích hợp: Gương cầu lõm có tác dụng biến một chùm tia sáng song song thành
một chùm tia phản xạ hội tụ vào một điểm và ngược lại, biến đổi một chùm tia tới phân

thích
hợp
thành
một


- Địa chỉ tích hợp: Ô nhiễm tiếng ồn xảy ra khi
tiếng ồn to, kéo dài, không những gây ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe và hoạt động bình thường của con người mà nó còn ảnh hưởng


đến tập tính cũng như môi trường sống của một số loài động vật trên thế giới.
- Phương pháp tích hợp: sử dụng hình ảnh về ô nhiễm tiếng ồn, nêu các ví dụ thực tế ở
địa phương, giáo viên nêu các biện pháp để học sinh hiểu rõ việc chống ô nhiễm tiếng ồn.
GV: Em hãy nêu các tác hại của tiếng ồn? ( hình ảnh về tác hại của sự ô nhễm tiếng ồn).

+ Về sinh lý, nó gây mệt mỏi toàn thân, nhức đầu, choáng váng, ăn không ngon, gầy yếu.
Ngoài ra người ta còn thấy tiếng ồn quá lớn làm suy giảm thính lực.
+ Về tâm lý, nó gây khó chịu, lo lắng, bực bội, dễ cáu gắt, sợ hãi, ám ảnh, mất tập trung,
dễ nhầm lẫn, thiếu chính xác.
+ Làm ảnh hưởng đến môi trường sống của một số loài động vật.
GV: Chúng ta cần phải làm gì để chống ô nhiễm tiếng ồn ?
HS hiểu : Phòng tránh ô nhiễm tiếng ồn:
+ Trồng cây: Trồng cây xung quanh trường học, bệnh viện, nơi làm việc, trên đường phố
và đường cao tốc là cách rất hiệu quả để giảm thiểu tiếng ồn.
+ Lắp đặt thiết bị giảm âm: Lắp đặt một số thiết bị giảm âm trong phòng làm việc như:
thảm, rèm , thiết bị cách âm để giảm thiểu tiếng ồn từ bên ngoài truyền vào.
+ Đề ra nguyên tắc: Lập bảng thông báo quy định về việc gây ồn. Cùng nhau xây dựng ý
thức giữ trật tự cho mọi người.


+ Các phương tiện giao thông cũ, lạc hậu gây ra những tiếng ồn rất lớn. Vì vậy, cần lắp
đặt ống xả và các thiết bị chống ồn trên xe. Kiểm tra, cấm các phương tiện giao thông cũ
hoặc lạc hậu hoạt động.
+ Tránh xa các nguồn gây tiếng ồn: Không đứng gần các máy móc, thiết bị gây ồn lớn

(sử dụng hình ảnh dùng cột thu lôi để làm giảm tác hại của sét)


HS ý thức : Để giảm tác hại của sét, bảo vệ tính mạng của người và các công trình xây
dựng, cần thiết xây dựng các cột thu lôi
* Ví dụ: 11
Bài 29
AN
TOÀN
KHI
SỬ
DỤNG
ĐIỆN
- Địa chỉ tích
hợp: Phải thực
hiện các quy tắc
an toàn khi sử
dụng điện.
- Phương pháp
tích hợp: Tiến hành thí nghiệm H29.1, 29.2 – sgk vl7, để nêu những tác hại của dòng điện
đối với con người, liên hệ thực tế, hình ảnh sự cố chập điện….
GV : Khi chúng ta sử dụng điện thường gặp những sự cố nào?
HS nhận thức: Quá trình đóng ngắt mạch điện cao áp luôn kèm theo các tia lửa điện, sự
tiếp xúc điện không tốt của các thiết bị đóng - ngắt mạch điện cũng có thể làm phát sinh
các tia lửa điện. Tia lửa điện có tác dụng làm nhiễu sóng điện từ ảnh hưởng đến thông tin
liên lạc hoặc gây ra các phản ứng hóa học (tạo ra các khí độc như NO, NO 2, CH4…), tia
lửa điện truyền đến các vật liệu xốp, dễ cháy có thể gây ra hỏa hoạn. (hình ảnh sự cố
chập điện gây hỏa hoạn) Hàng năm các vụ hỏa hoạn ở các khu chợ, ở các khu đô thị xãy
ra chủ yếu là do chập điện, nguyên nhân sâu xa là do nhiều người còn thiếu sự hiểu biết
về vấn đề “An toàn khi sử dụng điện”. Hiện tượng cháy- chập điện không những cướp đi


Cuối năm
Phần trăm

Số lượng

Phần trăm

7A 14/28

50%

20/28

71,4%

7B 13/29

44,8%

21/29

72,4%

Năm học 2011 - 2012:
Đầu năm
lớ
p

Số lượng

phng phỏp
trờn vi i
tng hc sinh
THCS
Sn
Húa, khi kiểm
tra kết thúc
nm hc mụn
vật lý tôi đã
thu đợc kết
quả nh sau:

Gii

khỏ

Tbỡnh

Yu

TT

lp

SL

SL

TL


0

11

30,1 18

50,0 7

19,9

lớ

K8

57

4

7,0

17

29,8 32

56,2 4

7,0

lớ


9,2

Khỏ

TB

SL

TL

SL

TT Lp

TS

Gii

Yu

lớ

K6

60

12 20,0% 14 23,3% 30

50,0% 4 6,7%


8

14,5% 15 27,3% 32

58,2% 0 0%

5

Tng 208 29 13,9% 64 30,8% 106 51,0% 9 4,3%

Nhn
Trong
tin
dy

13 36,1% 19

TL

b.
thc:
2 nm
hnh
thc

nghim tụi nhn thy rng nhn thc ca hc sinh v mụi trng ngy cng c ci
thin, t vic t chc cỏc phong tro bo v mụi trng nh: phong tro gi v sinh
phũng hc, phong tro xanh - sch - p trng hc, thng xuyờn dn dp v sinh
xung quanh trng hc, khụng xó rỏc ni cụng cng,.. Ngoi ra cỏc em cũn t chc
cỏc bui ta m, tho lun v vn bo v mụi trng , cỏc em cũn l cỏc tuyờn truyn

và đào tạo cung cấp thêm laptop và đầu chiếu projecter.
- Sở Giáo dục và Đào tạo hàng năm nên tổ chức học tập chuyên đề “phương pháp tích
hợp giáo dục bảo vệ môi trường” và chuyên đề “sử dụng tiết kiệm năng lượng có hiệu
quả” đối với bộ môn Vật lí để giáo viên có thêm kiến thức và có điều kiện giao lưu học
hỏi kinh nghiệm trong giảng dạy.


Người viết




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status