ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP
TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC LẬP PHÁP
Thông tin chuyên đề
TỰ CHỦ ĐẠI HỌC: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC
CHO VIỆT NAM
(Tài liệu phục vụ Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XIV)
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...............................................................................................................2
1. Bối cảnh trong nước và quốc tế về vấn đề tự chủ đại học ................................2
2. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về tăng cường tự chủ cho
các trường đại học .................................................................................................6
3. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ....................................................12
KẾT LUẬN .........................................................................................................14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................16
1
MỞ ĐẦU
Tại phiên họp thứ 22 ngày 13/03/2017, khi cho ý kiến về Dự thảo Luật
Giáo dục đại học (sửa đổi)1, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã
khẳng định tán thành nâng cao hiệu quả tự chủ đại học nhưng đảm bảo có sự
quản lý của Nhà nước, đồng thời, xác định trách nhiệm xây dựng hành lang
pháp lý rõ ràng, chế tài cụ thể để phân cấp, giao quyền tự chủ cho các trường
3
quy định của pháp luật về tự chủ đại học và sự thiếu thực chất của tự chủ 4. Đó
chính là lý do mà cho đến nay (khoảng 15 năm sau đó), tự chủ đại học nói
chung và tự chủ trong vấn đề tài chính và nguồn nhân lực vẫn còn là vấn đề
đang được bàn thảo khi xây dựng Dự thảo Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) và
Chiến lược giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2012-2020, tầm nhìn 2035.
Phát biểu tại Hội thảo tham vấn về chiến lược giáo dục đại học Việt Nam giai
đoạn 2021-2020, tầm nhìn 2035 tổ chức ngày 28.3 vừa qua tại Hà Nội, người
đứng đầu Bộ Giáo dục và đào tạo nước ta tiếp tục khẳng định: “Hạn chế về tự
chủ đại học và chất lượng giải trình vẫn là một trong những yếu kém của giáo
dục đại học ở Việt Nam”.
Bối cảnh trên cho thấy: Đã qua nhiều năm nhưng tự chủ đại học ở nước
ta chưa thực sự phát huy hiệu quả, công tác thực hiện còn gặp nhiều lúng túng
trong khi đó định hướng quốc tế về vấn đề này khá rành mạch, kinh nghiệm
của các quốc gia cũng tương đối phong phú.
1.2. Bối cảnh quốc tế
Thuật ngữ “tự chủ đại học” (university autonomy) và vai trò của nó
được hình thành từ khá sớm trên thế giới và có nguồn gốc từ việc nhận thức
vai trò của “tự do học thuật” (academic autonomy) vào năm 19665. Các tuyên
bố của tổ chức phi chính phủ quốc tế sau đó như “Tuyên bố Lima về tự do
học thuật và tự chủ đại học” do mạng lưới Dịch vụ đại học thế giới (World
University Service) thông qua năm 1988 và Bộ các nguyên tắc của tự do học
tập và tự chủ đại học lấy tên “Magna Charta of European Universities do Hội
nghị thường trực các hiệu trưởng các trường đại học ở Châu Âu thông qua
Xem thêm Vũ Thị Phương Anh, Tự chủ đại học ở Việt Nam: Thiếu thực chất trên
www.tiasang.com.vn số 16 ngày 20.8.2014
cho là tiêu chuẩn cho một trường đại học hiện đại. Đứng trước những đòi hỏi
này, xu hướng tự chủ về thể chế 9cùng với các biện pháp tăng cường hợp tác
quốc tế, liên ngành và xây dựng mạng lưới nghiên cứu và giáo dục, cải cách
quản trị bằng việc áp dụng nhiều hình thức tham gia quản lý mới, xây dựng hệ
thống kiểm định và đánh giá chất lượng làm tăng thêm tính tự chủ cho các
Đã dẫn.
Đây là hội nghị với sự tham gia của 30 quốc gia trên thế giới, được tổ chức với mục đích tạo ra
diễn đàn trao đổi ý tưởng và kinh nghiệm cũng như đề ra những nguyên tắc và cách thức mới để
đối phó với những xu hướng và yêu cầu của xã hội đối với giáo dục đại học.
8
Xem thêm UNESCO, Academic freedom and university autonomy,1992.
9
Thuật ngữ tiếng anh “Institutional autonomy” chỉ khả năng của các trường đại học trong phạm vi
thẩm quyền của mình mà không phải chịu bất kỳ chỉ đạo và ảnh hưởng từ bất kỳ cấp nào của
Chính phủ;
6
7
5
trường đại học. Ngày nay, tự chủ vẫn tiếp tục được khẳng định là một trong
những định hướng tương lai cho giáo dục đại học trên toàn thế giới10.
Vai trò của tự chủ đại học nói chung và những nỗ lực của tổ chức phi
chính phủ quốc tế nhằm bảo vệ các giá trị của tự chủ đại học là tiền đề cho
quá trình thay đổi chính sách, pháp luật ở các quốc gia trên thế giới để từng
bước đảm bảo quyền này. Phần tiếp theo sau đây sẽ phân tích một số ví dụ
điển hình cho sự thành công trong việc đảm bảo tính tự chủ ở các cơ sở giáo
dục đại học đối với quản lý tài chính và nhân lực.
2. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về tăng cường tự
trung vào việc xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng giáo dục. Năm 2004,
việc ban hành một chính sách liên kết (Corporatization Policy) và Luật liên
kết các trường đại học công lập (National University Corporation Act) đánh
dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của quá trình tự chủ ở đại học. Những thay
đổi về địa vị pháp lý cho các trường đại học tạo điều kiện cho các tự chủ về
tài chính và nguồn nhân lực ở nước này.
Các trường đại học công lập ở Nhật Bản được sáp nhập vào Hiệp hội
các trường đại học (National University Corporations- NUCs). Nếu như trước
đây, các trường đại học thuộc quản lý của Bộ Giáo dục thì kể từ sau ban hành
luật nêu trên, mỗi trường đại học công lập trở thành một pháp nhân độc lập
với sự quản lý từ trung ương. Mục tiêu của luật này là trao thêm quyền cho
người đứng đầu các trường đại học công lập, thúc đẩy độc lập về tài chính và
tự chủ trong quản lý hành chính. Thực tiễn thi hành luật này còn cho thấy các
kết quả ấn tượng về sự độc lập về tài chính, hành chính, học thuật và đi cùng
với đó là sự tăng cường tính minh bạch và kiểm định công 12. Thêm vào đó, kể
từ sau khi ban hành luật nêu trên, giảng viên các trường đại học không còn là
công chức nhà nước. Việc tuyển dụng, bổ nhiệm, thuyên chuyển giảng viên
trong trường đều do trường đại học thực hiện. Một số kết quả đạt được, đặc
biệt là về tự chủ tài chính và trách nhiệm giải trình từ sau khi ban hành Luật
liên kết các trường đại học công lập 2004 đó là13:
Thứ nhất, chính sách và pháp luật đã trao thêm nhiều sự linh hoạt trong
quản lý cho Liên hiệp các trường đại học công lập bằng việc tăng cường trách
nhiệm giải trình thông qua các kế hoạch giữa nhiệm kỳ do Bộ Giáo dục thông
qua. Cụ thể, trước đây, các trường này không phải lên kế hoạch, chiến lược
Tham khảo Shingo Hanada, Japan’s Higher Education incorporation policy: A comparative
analysis of three stages of national university governance, trên Journal of Higher Education Policy
and Management, tập 35, số 5, 2013
13
Tham khảo Kiyoshy YAMAMOTO, Corporatization of National Universities in Japan: An analysis
the impact on governance and finance.
ổn định từ năm 2010. Đây cũng là lý do tại sao nước này dễ đạt được hiệu quả
cao trong tự chủ. Cụ thể:
14
Tham khảo N.V.Varghese, Michaela Martin, University autonomy in Asia, UNESCO 2013.
Tham khảo Tham khảo European Universities Association, University autonomy in Europe IIICountry Profile, 2017.
15
8
Về tài chính, điểm lợi thế của Luxembourg đó là nước này chỉ có duy
nhất một trường đại học, do đó, quá trình cải cách để đạt được tự chủ cho
trường đại học là khá dễ dàng. Vấn đề phân bổ tài chính, chi tiêu như thế nào
chỉ là vấn đề giữa Chính phủ và Trường đại học Luxembourg. Theo quy định
thì Chính phủ nước này quản lý vấn đề tài chính của trường đại học theo kế
hoạch 4 năm một lần. Gần 80% kinh phí hoạt động của Trường đại học
Luxembourg là từ kinh phí của Chính phủ, tuy nhiên, trường vẫn mong đợi có
khoảng gần 25% còn lại là từ nguồn kinh phí bên ngoài (đến giữa năm 2020)
mà không bị cắt giảm kinh phí từ nhà nước. Khi thống nhất mức kinh phí với
Chính phủ, Trường đại học Luxembourg được tự quyết việc sử dụng nguồn
kinh phí nội tại, được phép tự do quyết định mức học phí cho tất cả các cấp
học, cho tất cả các sinh viên (không có sự phân biệt giữa sinh viên thuộc các
nước Châu Âu và sinh viên đến từ các nước không thuộc Châu Âu). Nguồn
thu được và nguồn dư thừa sẽ được trường tự sử dụng trong khoảng thời gian
là 4 năm. Sau khoản thời gian này, Chính phủ sẽ quyết định thu hoặc không
lấy thu dư đó (nếu còn). Ngược lại, trường có thể mượn tiền của Chính phủ
nếu được Bộ có thẩm quyền phê duyệt. Việc sử dụng và định đoạt tài sản (là
bất động sản) - các tòa nhà được các trường tự quyết (có thể bán) ngoại trừ
những tòa nhà thuộc sở hữu của Chính phủ hoặc được mượn từ tổ chức khác.
lượng cao đẳng và đại học riêng cho mình. Tuy nhiên, những cơ sở đào tạo
công lập này vẫn nhận một phần nhỏ tài chính từ chính phủ. Nguồn tài chính
do bang cấp cho giáo dục đại học chiếm khoảng 20-30% trong suốt thế kỷ 20.
Đến cuối thế kỷ thứ 20 thì các cơ sở giáo dục đại học công lập nhận được
36% vốn từ quỹ của bang, cùng với đó là khoảng 11% và 4% từ liên bang và
chính quyền địa phương. Bước sang thế kỷ 21, các cơ sở công lập này chỉ
nhận phần ít khoảng 10% từ bang. Phần còn lại đến từ các nguồn khác như:
thu nhập từ nghiên cứu, đầu tư, dịch vụ, được tài trợ và học phí. Tất cả các
nguồn thu nhập khác này đều hoàn toàn không chịu sự quản lý của bang, và
việc sử dụng nó giống như một doanh nghiệp sử dụng vào thị trường giáo
Tham khảo Ths. Đoàn Thị Thu Hương, Kinh nghiệm mở rộng quyền tự chủ đại học tại Hoa kỳ và
hàm ý cho Việt Nam, Châu Mỹ ngày nay, Số 02-2012.
16
10
dục. Các cơ sở giáo dục công lập chỉ phụ thuộc vào kiểm soát của bang đối
với phần nhỏ nguồn tài chính nhận từ ngân sách nhà nước này (điều này sẽ
không xảy ra với đại học tư thục) khi những trường này mong muốn có thể
dành một phần học phí trao cho các sinh viên để tăng tính cạnh tranh17. Như
vậy, tính tự chủ đối với tài chính của các cơ sở giáo dục đại học ở Hoa Kỳ là
rất cao. Việc hoàn toàn được chủ động sử dụng nguồn ngân sách cũng như thu
lợi từ việc bán các kết quả nghiên cứu, liên kết với các doanh nghiệp, ngành
nghề có nhu cầu để tạo ra nguồn thu nhập được thực hiện rất tốt ở Hoa Kỳ.
Kinh phí hoạt động của các trường đại học và cao đẳng ở Hoa Kỳ vì thế mà
ngày một tăng. Thậm chí, các trường còn có thể tùy thuộc vào kinh phí của
mình mà đưa ra mức hỗ trợ cho sinh viên (ở điểm này, các trường tư thục có
mức hỗ trợ cao hơn). Điều đó cho thấy rằng, việc nhận nguồn kinh phí cố
định từ Chính phủ không còn hấp dẫn với các trường đại học ở Hoa Kỳ. Với
Qua phân tích những trường hợp cụ thể nêu trên, chúng tôi nhận thấy
một số bài học có thể rút ra trong quá trình tự chủ tài chính và tự chủ nguồn
nhân lực ở các trường đại học đó là:
Thứ nhất, tự chủ về tài chính và nguồn nhân lực gắn liền với sự thay
đổi về địa vị pháp lý của các cơ sở giáo dục đại học. Việc các trường đại học
không còn thuộc quản lý của Chính phủ sẽ giúp cho quá trình tự chủ về tài
chính và nguồn nhân lực dễ dàng và hiệu quả hơn;
Thứ hai, giảm kiểm soát của Chính phủ đối với các cơ sở giáo dục đại
học phải đi đôi với việc tăng trách nhiệm giải trình của các cơ sở này, đồng
nghĩa với việc phát triển hiệu quả hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục;
Thứ ba, tách bạch giữa nguồn kinh phí do Chính phủ cấp và nguồn kinh
phí thu được từ các hoạt động theo chức năng của trường đại học để quy định
về phạm vi và cách thức quản lý. Việc quyết định mức học phí có thể cho các
trường tự quyết định nhưng tuân theo khung chung của cả nước (đối với các
trường công lập);
Thứ tư, về công tác nhân sự, đặc điểm chung của hầu hết các quốc gia
có sự tự chủ về nhân sự cao đó là: Trường đại học không còn là một đơn vị
trực thuộc Bộ chuyên ngành quản lý, các giảng viên không phải là công chức.
Việc quản lý một trường giống như quản lý một công ty mà ở đó người đứng
đầu có toàn quyền quyết định đối với việc tuyển dụng, thăng hạng hay sa thải
người lao động. Kết quả đào tạo phản ảnh chất lượng của giáo viên cũng như
các hoạt động đào tạo khác của nhà nước và nhà nước không có bất kỳ can
12
thiệp nào vào hoạt động liên quan đến nhân sự của các trường đại học là đặc
điểm của các trường đại học có vị trí pháp lý độc lập.
Trước thực trạng và vấn đề được nêu ra ở phiên họp của UBTVQH vừa
qua, chúng tôi đề xuất một số gợi ý cho việc quy định tự chủ về tài chính và
về trách nhiệm cho các trường đại học và chế tài cụ thể trong trường hợp vi
phạm.
Ba là, Luật cần xây dựng hệ thống kiểm định, đánh giá và nguyên tắc
hoạt động cho hệ thống này. Cụ thể, hệ thống kiểm bao gồm: Kiểm định, đánh
giá trong các trường đại học (kiểm định nội bộ), giao cơ quan có thẩm quyền
nhà nước tiến hành kiểm định, đánh giá các trường đại học và công nhận, cho
phép thành lập các tổ chức kiểm định độc lập bên ngoài cùng tham gia. Cơ
chế phối hợp hoạt động và đánh giá kết quả của 03 loại cơ quan trong hệ
thống này cũng cần được luật làm rõ.
KẾT LUẬN
Theo đánh giá của tổ chức quốc tế thì so với các quốc gia trong khu
vực, Việt Nam đang ở giai đoạn khá sớm của quá trình tăng cường tự chủ
nhưng những bước đi của Chính phủ Việt Nam là khá rõ ràng và thể hiện
quyết tâm cao19. Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia được đánh giá có chỉ số
tự chủ cao trên thế giới cho thấy rằng càng ít sự kiểm soát của nhà nước đối
với trường đại học, càng có nhiều cơ hội cho các trường này phát huy năng
lực đào tạo, tính cạnh tranh. Mặc dù chiến lược tổng thể phát triển giáo dục
đại học ở Việt Nam đã xác định rõ: Nhà nước nên chuyển dần từ sang kiến
tạo, giám sát, đẩy mạnh cơ chế tự chủ, trách nhiệm giải trình cao đối với cơ sở
giáo dục đại học, đổi mới quản trị đại học theo hướng hội nhập với thế giới 20 ,
nhưng thực tế là chúng ta vẫn đang loay hoay đối với tự chủ tài chính và
nguồn nhân lực. Lý do cơ bản hiện nay là các trường đại học công lập ở Việt
Nam vẫn còn trực thuộc quản lý của Bộ chuyên ngành và Bộ Giáo dục và đào
tạo. Với địa vị pháp lý như vậy, mặc dù được trao tự chủ nhưng việc quản lý
19
Tham khảo Unesco, Increased autonomy for universities in Asia: How to make it work?, 2013.
Theo />20
14
trends in the world of higher education, internationalization and institutional
autonomy , 2010;
9. European Universities Association, University autonomy in Europe
III- Country Profile, 2017;
10. Shingo Hanada, Japan’s Higher Education incorporation policy: A
comparative analysis of three stages of national university governance, trên
Journal of Higher Education Policy and Management, tập 35, số 5, 2013;
11. Kiyoshy YAMAMOTO, Corporatization of National Universities
in Japan: An analysis the impact on governance and finance;
12. United Nations Education, Scientific and Culture Organization và
International Institute for Educational Planning, Governance reforms and
University autonomy in Asia, 2013;
13. European Universities Association, University autonomy in Europe
III- Country Profile, 2017;
14. David F.Labaree, Understanding the rise of American Higher
Education: How complexity breeds autonomy, 2010;
15. Peter D.Eckel và Jacqueline E.King, An overview of Higher
Education in the United State: Diversity, Access and the role of the
marketplace, American Council on Education.
16