Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng cuộc sống ở Việt Nam - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
---------------

NGUYỄN THỊ XUÂN MAI

PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VÀ TÍNH CHỈ SỐ
TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH KINH TẾ HỌC

HÀ NỘI - 2018


iii

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.................................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG ...............................................................................................viii
DANH MỤC HÌNH .................................................................................................. ix
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 8
4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 8
5. Những đóng góp mới của luận án ..................................................................... 9
6. Kết cấu của luận án ......................................................................................... 10
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG ................... 11

2.1.4. Qui trình xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc
sống ........................................................................................................ 54
2.2. Đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc sống ở Việt Nam . 55
2.2.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế................................................ 55
2.2.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện nhà ở và cơ sở hạ tầng căn bản ......... 58
2.2.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh giáo dục............................................................ 60
2.2.4. Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện chăm sóc y tế và sức khỏe .................. 63
2.2.5. Nhóm chỉ tiêu phản ánh quan hệ gia đình ............................................... 66
2.2.6. Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự tham gia sinh hoạt cộng đồng và các hoạt động
văn hóa, giải trí ...................................................................................... 68
2.2.7. Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện môi trường tự nhiên ........................... 70
2.2.8. Nhóm chỉ tiêu phản ánh môi trường xã hội ............................................. 72
2.2.9. Nhóm chỉ tiêu phản ánh quản trị............................................................. 74
2.2.10. Nhóm chỉ tiêu phản ánh quyền chính trị................................................ 76
2.2.11. Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự hài lòng với cuộc sống ............................... 78
2.2.12. Nhóm chỉ tiêu đánh giá tổng hợp về chất lượng cuộc sống ................... 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................... 84


v

CHƯƠNG 3. XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH CHỈ SỐ TỔNG HỢP CHẤT
LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở VIỆT NAM ................................................................... 86
3.1. Tổng quan về các phương pháp xây dựng chỉ số tổng hợp ....................... 86
3.1.1. Khái niệm và ưu, nhược điểm của chỉ số tổng hợp .................................. 86
3.1.2. Phương pháp tính chỉ số tổng hợp .......................................................... 88
3.1.3. Lựa chọn phương pháp tính chỉ số tổng hợp ........................................... 89
3.2. Đề xuất phương pháp tính chỉ số tổng hợp chất lượng cuộc sống ở Việt Nam ... 93
3.2.1. Chuẩn hóa dữ liệu .................................................................................. 93
3.2.2. Xác định trọng số.................................................................................... 97

Quy trình phân bổ ngân sách

CECODES

Center for Community Support Trung tâm nghiên cứu phát
triển hỗ trợ cộng đồng
Development Studies
Chất lượng cuộc sống

CLCS
EIU

Economist Intelligence Unit

Cơ quan Tình báo Kinh tế

FA

Factor Analysis

Phân tích nhân tố

GDP

Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội

GHI



Kinh tế xã hội

MCA

Multi-Criteria Analysis

Phân tích đa tiêu chí

MQL

Malaysia Quality of Life

Chỉ số chất lượng cuộc sống
của Malaysia

NEF

New Economics Foundation

Quỹ Kinh tế mới

OECD

Organisation for
Co-operation
Development

Economic Tổ chức hợp tác và phát triển
and kinh tế

UNDP

United Nation Development Chương trình Phát triển Liên
hợp quốc
Programme

VSDGI

Vietnam
Sustainable Danh mục chỉ tiêu thống kê
Development Goal Indicators phát triển bền vững của Việt
Nam

WHI

World Happiness index

Chỉ số Hạnh phúc thế giới

WHO

World Health Organisation

Tổ chức Y tế Thế giới

Development Mục tiêu phát triển bền vững


viii



1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề chất lượng cuộc sống (CLCS) (tiếng anh là Quality of Life) và nâng cao
chất lượng cuộc sống của người dân là nội dung chủ yếu trong chiến lược phát triển con
người. Đây là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội (KTXH) của
mọi quốc gia, là vấn đề được nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam hết sức quan
tâm. Năm 2009, Ủy ban Đo lường hiệu quả kinh tế và tiến bộ xã hội bao gồm 22 chuyên
gia kinh tế và khoa học xã hội dưới sự điều hành của giáo sư Joseph Stiglitz, Nobel kinh
tế 2001, đã trình lên tổng thống Pháp một bản báo cáo hơn 300 trang về “Đo lường hiệu
quả kinh tế và tiến bộ xã hội”, được gọi tắt là báo cáo Stiglitz. Theo báo cáo này, mọi
người trong xã hội không được hưởng những thành tựu kinh tế như nhau. Do đó song
song với chỉ số tăng trưởng GDP, vốn được sử dụng để đo lường của cải mà một quốc
gia tạo ra trong năm, Ủy ban Stiglitz đề nghị một vài chỉ số khác chú trọng nhiều hơn
đến chất lượng đời sống và hạnh phúc con người, cũng như đến khả năng một nền kinh
tế duy trì được mức hạnh phúc đó một cách lâu dài. Theo đó, một chính phủ nên có hai
loại chỉ số, một chỉ số thuần túy kinh tế và bên cạnh đó là chỉ số chất lượng cuộc sống.
Tuy nhiên, không phải đến lúc này, vấn đề CLCS mới được đặt ra. Trên thực tế,
đây là vấn đề đã được thảo luận từ rất lâu. Theo Hagerty và cộng sự (2001), Plato và
Aristotle (384-322 trước Công nguyên) đã từng đề cập tới “good life - cuộc sống tốt” và
các chính sách công nhằm nuôi dưỡng nó. Theo Massam (2002), vào những năm 1930,
các nhà nghiên cứu bắt đầu có mối quan tâm thực sự đến chủ đề này. Các khái niệm, các
phép đo lường hay các cuộc điều tra liên quan đến CLCS được đưa ra. CLCS cũng đã
đi vào chương trình nghị sự mang tính chính trị. Năm 1933, nhà xã hội học William
Ogburns đã đưa ra một báo cáo hai tập “Recent Social Trends” trình bày về các xu hướng
xã hội thời bấy giờ - trong đó có vấn đề về CLCS. Đây là một sự kiện đóng vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy phong trào các chỉ tiêu xã hội (The Social Indicators
Movement) mà CLCS là một mối quan tâm lớn. Phong trào này đã phát triển ở Mỹ và

cuộc sống ở châu Âu” (Quality of Life in Europe) nhằm cung cấp các số liệu thống kê
mới nhất về CLCS của các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu. Cơ quan Tình báo Kinh
tế (The Economist Intelligence Unit - EIU) đã xây dựng chỉ số CLCS (Quality of life
index) dựa trên phương pháp kết nối kết quả các cuộc điều tra sự hài lòng mang tính chủ
quan với cuộc sống và các yếu tố mang tính khách quan về CLCS ở các quốc gia. Đến
năm 2013, chỉ số này được đổi tên thành Nơi được sinh ra (Where-to-be-born index),
cho biết liệu quốc gia nào sẽ cung cấp những cơ hội tốt nhất cho một cuộc sống lành
mạnh, an toàn và thịnh vượng trong những năm tới. Quỹ Kinh tế mới (New Economics
Foundation - NEF) sử dụng chỉ số Hành tinh hạnh phúc (The Happy Planet Index - HPI)
nhằm đo lường sự hạnh phúc bền vững và tác động của môi trường. Trong bối cảnh
hạnh phúc ngày càng được coi là một thước đo thích hợp của tiến bộ xã hội và mục tiêu
của chính sách công, Liên hợp quốc đã tính chỉ số Hạnh phúc thế giới (World Happiness
index - WHI). Đây mới chỉ là một số ít kết quả nghiên cứu về CLCS của các tổ chức
quốc tế.


3

Không chỉ các tổ chức quốc tế mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng nghiên cứu,
xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo lường CLCS và tính chỉ số tổng hợp phản ánh CLCS hay
những khái niệm tương tự như thế. Có những chỉ số khá nổi tiếng trên thế giới như chỉ
số Tổng hạnh phúc quốc gia (Gross National Happiness - GNH), đang được sử dụng bởi
chính phủ Bhutan, là một chỉ số đo lường CLCS hay tiến bộ xã hội dưới giác độ tâm lý
học và triết học. Nhiều quốc gia khác như Anh, Pháp, New Zealand, Canada… đều thực
hiện các cuộc điều tra định kỳ nhằm thu thập thông tin phục vụ cho nghiên cứu về CLCS
ở quốc gia. Một số quốc gia lân cận với Việt Nam cũng đã nhiều năm nghiên cứu về
lĩnh vực này như chỉ số CLCS của Malaysia (Malaysia Quality of Life - MQL), chỉ số
Hạnh phúc và Xanh (Green and Happiness Index - GHI) của Thái Lan…
Sau nhiều năm theo đuổi mục tiêu phát triển kinh tế, càng ngày chúng ta càng nhận
thấy sự phát triển xã hội, phát triển con người phải được đặt lên hàng đầu. Chính vì thế,

so sánh, đánh giá CLCS. Tuy nhiên, ở Việt Nam, những nghiên cứu mang tính học thuật
về vấn đề này còn tương đối ít.
Liên quan đến khái niệm CLCS, đã có một số nghiên cứu, bài viết đề cập đến vấn
đề này. Nguyễn Thị Kim Thoa (2003) có bàn luận về khái niệm CLCS dựa trên cơ sở
tổng hợp nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau của các học giả trên thế giới. Tác giả đã
kết luận: “CLCS thể hiện ở mức sung túc về kinh tế, con người có giáo dục, sống khỏe
mạnh và trường thọ, được sống trong môi trường tự nhiên, xã hội, nhân tạo an toàn, bình
đẳng và được tôn trọng”. Vũ Mạnh Cường (2011) quan niệm CLCS được thể hiện trên
bốn nội dung: (1) Phát triển con người, (2) Phát triển văn hóa, (3) Công bằng xã hội và
(4) Xóa đói giảm nghèo. Như vậy, nâng cao CLCS chính là xây dựng con người toàn
diện có đời sống văn hoá và tinh thần cao, phát huy những giá trị sống và đạo đức tốt
đẹp trong xã hội; là tăng chỉ số Phát triển con người (Human Development Index - HDI);
là giảm dần tình trạng đói nghèo; và thực hành công bằng xã hội. Năm 2012, hội thảo
khoa học “Chất lượng cuộc sống của người dân thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh
kinh tế hiện nay” được tổ chức. Trình bày tại hội thảo, tác giả Nguyễn Hữu Nguyên
(2012) cho rằng, CLCS là tổng hòa của nhiều yếu tố trong đời sống vật chất và tinh thần
của con người, với ba nhóm chính gồm: (1) mức sống vật chất: ăn, ở, mặc, đi lại, điều
kiện và cường độ lao động… (2) mức sống tinh thần: trật tự, an toàn xã hội, bình đẳng,
công bằng xã hội, hưởng thụ văn hóa, hưởng thụ giáo dục… và (3) môi trường sinh thái
tự nhiên: khí hậu, thời tiết, mức độ ô nhiễm không khí, nguồn nước, mặt đất, tiếng ồn…
Theo tác giả, cần khảo sát tất cả các nội dung trên mới đủ cơ sở để đánh giá về CLCS.
Tác giả Hồ Bá Thâm (2012) cũng đưa ra một số bàn luận về khái niệm CLCS, các tiêu
chí để đánh giá và kết luận có 11 nhân tố tác động đến CLCS. Tuy nhiên, những bài viết
trên mới chỉ dừng lại ở mức độ gợi mở vấn đề chứ chưa bàn luận sâu vào cơ sở lý thuyết
và bối cảnh thực tế hình thành nên khái niệm.
Liên quan đến việc đo lường CLCS, ở Việt Nam hiện mới chỉ có một vài nghiên
cứu về CLCS của người cao tuổi và trẻ em.
Lê Hải Hà và cộng sự (2012) đã thực hiện một nghiên cứu nhằm xây dựng và
chuẩn hóa thang đo CLCS của người cao tuổi ở Việt Nam trong lĩnh vực y tế công cộng.
Nghiên cứu cho thấy, CLCS là một khái niệm trừu tượng, đa chiều trong đó tổng hợp

cứu kinh tế phát triển thuộc trường Đại học Tổng hợp Copenhagen đã thực hiện một
nghiên cứu về “Đặc điểm kinh tế nông thôn Việt Nam”, trong đó vấn đề hạnh phúc, sự
hài lòng của người dân nông thôn với CLCS đã được đề cập tới. Nghiên cứu này bắt đầu
từ năm 2002 và từ 2006 trở lại đây được thực hiện cứ 2 năm 1 lần. Trong lần gần nhất,
năm 2014, nghiên cứu thực hiện điều tra tại 3648 hộ gia đình ở nông thôn tại 12 tỉnh
trong cả nước. Kết quả điều tra cho thấy, 43,9% người được hỏi trả lời là có hạnh phúc
trong cuộc sống (năm 2012 tỷ lệ này là 49,3%). Bên cạnh đó, có mối quan hệ rõ ràng
giữa tình trạng nghèo đói và mức độ hạnh phúc, hài lòng với cuộc sống vì những hộ giàu
thường có mức hài lòng cao hơn trong khi phần lớn hộ nghèo lại không hài lòng. Các
yếu tố tác động tới sự hài lòng của người dân nông thôn về cuộc sống được sắp xếp theo


6

trình tự từ cao đến thấp là (1) sức khỏe, (2) thu nhập, (3) cuộc sống ổn định, (4) kết hôn,
(5) có con, (6) nghề nghiệp, (7) có hàng xóm và bạn bè tốt và (8) tự do (CIEM, 2014).
Kết quả này cho thấy, quan niệm của người dân nông thôn Việt Nam về hạnh phúc khá
đơn giản. Điều này cũng xuất phát từ đặc điểm của người dân nông thôn là rất coi trọng
gia đình, cuộc sống gắn chặt với làng xã, ít va chạm với bên ngoài, có trình độ học vấn
thấp, thu nhập thấp, ít được bảo đảm an sinh xã hội. Đây là một nghiên cứu khá toàn
diện về đặc điểm của nông thôn cũng như cuộc sống của người dân nông thôn Việt Nam
trong những năm qua. Tuy nhiên, nghiên cứu đã không xem xét tới một bộ phận dân cư
thành thị đang ngày càng tăng. Mặt khác, việc đánh giá mức độ hạnh phúc hay hài lòng
với cuộc sống được thực hiện rất đơn giản, chỉ bằng câu hỏi có/không và yêu cầu xếp
hạng các yếu tố ảnh hưởng đến hạnh phúc chứ chưa được thực hiện qua một thang đo
hoàn chỉnh.
Một trong những công trình nghiên cứu có qui mô lớn khác là đề án “Sự hài lòng
về cuộc sống” do nhóm nghiên cứu thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
- Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện vào năm 2011. Nghiên cứu đã tiến hành điều tra
2400 đối tượng tại 8 xã và 6 phường của 4 tỉnh/thành phố là Hải Dương, Hà Nội, thành

sống chưa được nghiên cứu làm rõ. Các khía cạnh của sự hài lòng mới chỉ tập trung vào
các vấn đề hết sức cơ bản, có liên quan mật thiết đến cuộc sống hàng ngày của người
dân và được đo lường đơn chiều qua một chỉ báo. Đây là một nhược điểm lớn của nghiên
cứu này.
Mặc dù những nghiên cứu về CLCS trên thế giới là rất phong phú và đa dạng,
nhưng những nghiên cứu về CLCS ở nước ta hiện còn rất hạn chế. CLCS của Việt Nam
mới chỉ được quốc tế đánh giá và so sánh trên bình diện thế giới. Ở tầm quốc gia, chúng
ta mới dừng lại ở những cuộc luận bàn, trao đổi về khái niệm. Một số nghiên cứu khác
mới chỉ xem xét một phần của CLCS như sự hài lòng với cuộc sống hay đo lường CLCS
của từng nhóm người riêng biệt như trẻ em, người cao tuổi dưới góc độ tâm lý học, y
tế... Bản thân khái niệm và nội hàm của khái niệm CLCS ở Việt Nam hiện chưa được
làm rõ. Chính vì khái niệm chưa rõ ràng nên việc đo lường và đánh giá CLCS ở Việt
Nam cũng mơ hồ, tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của người đánh giá. Các chỉ tiêu đo
lường CLCS nằm rải rác và không có hệ thống nên không cho phép đánh giá một cách
toàn diện về CLCS. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu về CLCS ở Việt Nam.
Xuất phát từ cơ sở thực tiễn về mặt chính sách và khoảng trống nghiên cứu, việc
thực hiện luận án “Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng
cuộc sống ở Việt Nam” là hoàn toàn cần thiết. Luận án sẽ đáp ứng được về mặt lý luận
khi đề xuất được phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá CLCS ở Việt
Nam, đồng thời đáp ứng về mặt thực tiễn, khi là cơ sở thực hiện so sánh, đánh giá để
thấy được sự thay đổi, phát triển CLCS của người dân qua thời gian và không gian.

2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở xác định khung khái niệm về CLCS,
xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường CLCS và phương pháp tính chỉ số tổng
hợp CLCS nhằm phục vụ cho công tác quản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội và hoạt động
so sánh, đánh giá CLCS ở Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận án phải trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau:



Tuy nhiên, do CLCS là một chủ đề nghiên cứu lớn trong khi nguồn số liệu còn
nhiều hạn chế nên luận án chỉ giới hạn trong đo lường khía cạnh khách quan mà tạm
thời chưa xem xét đến việc đo lường khía cạnh chủ quan của CLCS.
Số liệu năm 2016 sẽ được thu thập nhằm phục vụ cho việc tính thử nghiệm chỉ số
tổng hợp CLCS ở cấp quốc gia.

4. Phương pháp nghiên cứu
Do đây là một trong những vấn đề mới, chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam
nên phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm tổng quan tài liệu và phỏng vấn chuyên
gia được sử dụng xuyên suốt nhằm tìm hiểu, khám phá vấn đề.
Phương pháp tổng quan tài liệu được sử dụng nhằm tìm hiểu các lý luận cơ bản về
CLCS ở trong nước và trên thế giới, cụ thể: các cách tiếp cận nghiên cứu CLCS; các
quan điểm và các tranh luận xung quanh khái niệm CLCS; các thành phần của CLCS;
cách thức đo lường CLCS; hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường CLCS; phương pháp
tính chỉ số tổng hợp; …
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia được thực hiện thành hai giai đoạn.


9

Giai đoạn 1, song song với quá trình tổng quan tài liệu, tác giả thực hiện phỏng vấn
sâu 10 chuyên gia trong trong các lĩnh vực xã hội, dân số và phát triển, thống kê, nghiên
cứu chính sách… nhằm xác định hướng tiếp cận nghiên cứu CLCS; khái niệm CLCS cũng
như cấu trúc của khái niệm này ở Việt Nam. Ngoài ra, các vấn đề cơ bản liên quan đến đo
lường CLCS, xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường CLCS và phương pháp tính
chỉ số tổng hợp CLCS ở Việt Nam cũng được tham vấn ý kiến chuyên gia.
Giai đoạn 2, áp dụng trong quá trình xây dựng và tính chỉ số tổng hợp CLCS ở
Việt Nam. Phương pháp phỏng vấn chuyên gia được thực hiện nhằm xác định trọng số
cho các chỉ số thành phần của chỉ số tổng hợp CLCS. Do CLCS là vấn đề rộng, có liên
quan đến nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực nên tác giả đã gửi bảng hỏi (qua phiếu giấy

bao gồm khái niệm và cấu trúc của khái niệm đó.
Thứ hai, hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường CLCS ở Việt Nam. Hệ thống này
được phân tổ theo các thành phần của khái niệm CLCS.
Thứ ba, phương pháp luận xây dựng và tính chỉ số tổng hợp CLCS ở Việt Nam.
Ngoài ra, luận án còn có đóng góp về mặt thực tiễn khi tính thử nghiệm chỉ số tổng
hợp CLCS ở Việt Nam năm 2016. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho việc hoạch định
chính sách nhằm nâng cao CLCS của người dân.

6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống
Chương 2. Hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc sống ở Việt Nam
Chương 3. Xây dựng phương pháp tính chỉ số tổng hợp chất lượng cuộc sống ở
Việt Nam.


11

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

Chất lượng cuộc sống là vấn đề đã được nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới. Tuy
nhiên, quan niệm thế nào là một cuộc sống có chất lượng tốt giữa các cá nhân, các xã
hội hay các nền văn hóa khác nhau là khác nhau. Điều này dẫn đến sự tồn tại của nhiều
khái niệm CLCS và khiến cho việc xác định các thành phần hay đặc tính cốt lõi của
CLCS thiếu thống nhất.
Chương này đi vào nghiên cứu cơ sở lý luận về CLCS thể hiện qua việc xem xét
các cách tiếp cận nghiên cứu CLCS ở trên thế giới, các tranh luận chủ yếu xoay quanh
khái niệm CLCS. Đây là cơ sở để lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu CLCS ở Việt Nam
nhằm xác định khái niệm cũng như các thành phần của khái niệm CLCS phù hợp với
đặc điểm KTXH của nước ta.

Một nhận thức mới được hình thành, đó là: sự giàu có là một chỉ tiêu rất không đầy đủ
để phản ánh toàn bộ điều kiện sống của con người (Bognar, 2005). Trên thực tế, nếu
CLCS được xác định về mặt hình thành tài sản, chẳng hạn để tạo ra mức sống và các cơ
hội giáo dục thì quan điểm ban đầu có vẻ hợp lý. Tuy nhiên, nếu CLCS được xác định
một cách chủ quan, liên quan đến cảm giác chung về sự tốt đẹp của cuộc sống thì sự
giàu có là chưa đủ để đánh giá.
Từ phong trào các chỉ tiêu xã hội trong những năm 1960, có hai cách tiếp cận
truyền thống trái ngược nhau về CLCS, đó là cách tiếp cận mức sống của người
Scandinavi hay còn gọi là cách tiếp cận khách quan và cách tiếp cận CLCS của người
Mỹ hay còn gọi là cách tiếp cận chủ quan.
Cách tiếp cận của người Scandinavi dựa trên các nguồn lực và điều kiện sống
khách quan. Trong đó, những đo lường nguồn lực thông dụng nhất là các chỉ tiêu tiền tệ
như thu nhập, chi tiêu. Các nguồn lực phi tiền tệ khác bao gồm các loại tài sản, khả năng
tiếp cận các dịch vụ công như y tế, giáo dục, điện, nước, đường bộ... Cách tiếp cận dựa
trên nguồn lực đối với các đo lường CLCS có thể phù hợp vì nó tôn trọng sự riêng tư,
để cho mỗi người được tự do sắp xếp nguồn lực của mình theo cách tốt nhất với họ. Tuy
nhiên, theo Alkire (2008), nhà kinh tế học Amartya Kumar Sen đã đưa ra một số lý do
giải thích việc xem xét CLCS chỉ dựa trên các nguồn lực có thể là không đủ vì nhiều
nguồn lực không thể đánh giá được về bản chất, chúng là công cụ cho các mục tiêu khác.
Tuy nhiên CLCS không chỉ phụ thuộc vào sự tồn tại của nguồn lực mà còn vào những
gì chúng cho phép con người làm và được làm. Ngoài ra, mỗi người tùy thuộc vào đặc
điểm riêng có của họ mà có những cách trải nghiệm cuộc sống, tận hưởng cuộc sống,
nhận ra giá trị của cuộc sống là khác nhau cho dù nguồn lực mà họ có tương tự nhau.
Cách tiếp cận CLCS của người Mỹ nhấn mạnh đến sự hạnh phúc chủ quan của cá
nhân như một kết quả cuối cùng của các điều kiện và quá trình. Trong những năm 1990,
các đo lường hạnh phúc chủ quan bắt nguồn từ khoa học hành vi ngày càng được chấp
nhận như một cách tiếp cận thay thế để giải thích về CLCS (Diener & Suh, 1997). Những
nghiên cứu về hạnh phúc chủ quan có nguồn gốc triết học từ chủ nghĩa vị lợi truyền



nhau, nhiều nhu cầu được bổ sung và các nhu cầu khác nhau có thể được theo đuổi đồng
thời. Farley và cộng sự (2002) cho rằng, hệ thống này phản ánh thực tế tốt hơn so với
hệ thống phân cấp của Maslow, trong đó chúng ta chỉ theo đuổi những nhu cầu cao hơn
sau khi đáp ứng được những nhu cầu thấp hơn. Tuy nhiên, theo quan điểm của MaxNeef, các nhu cầu là ít và hữu hạn. Điều này trái ngược với niềm tin thống trị ở các quốc
gia và các ý thức hệ rằng sự không ngừng tăng trưởng kinh tế là cách tốt nhất để đáp
ứng các nhu cầu của con người. Ma trận các nhu cầu cơ bản của Max-Neef đã được


14

Costanza và cộng sự (2007) áp dụng khi xây dựng khái niệm CLCS và xác định các
thành phần của CLCS.
Cách tiếp cận năng lực của Amartya Sen tới CLCS được hình thành từ những năm
1980 và trở nên phổ biến từ những năm 1990. Theo Stigliz và cộng sự (2009), cách tiếp
cận này nhận thức cuộc sống của mỗi người là sự kết hợp giữa những gì con người coi
trọng có thể làm được và được làm (chức năng - functionings) và sự tự do lựa chọn các
chức năng đó (năng lực - capabilities). Các chức năng có thể đạt được thông qua những
thành tựu có thể quan sát được như tình trạng sức khoẻ, mức độ học vấn và tình trạng
việc làm hiện tại… Các năng lực, có thể khá cơ bản như được ăn uống đầy đủ nhưng có
thể phức tạp hơn như được học hành để có kiến thức cần thiết tham gia tích cực vào đời
sống chính trị. Vì thế, Noll (2010) cho rằng, cách tiếp cận này có sự tương đồng lớn với
cách tiếp cận khách quan dựa trên nguồn lực ở trên.
Với gốc rễ từ các khái niệm triết học về công bằng xã hội, nền tảng của cách tiếp
cận năng lực phản ánh sự tập trung vào các mục đích của con người và tôn trọng khả
năng của cá nhân trong việc theo đuổi và nhận ra các mục tiêu mà họ coi trọng, bác bỏ
mô hình kinh tế của các cá nhân hành động để tối đa hóa lợi ích riêng của mình mà
không quan tâm đến các mối quan hệ và cảm xúc; nhấn mạnh sự bổ sung giữa các năng
lực khác nhau; công nhận sự đa dạng của con người. Cobb (2000) đã nhận xét về một
xã hội tốt được nhìn nhận theo cách tiếp cận này là một xã hội cho phép công dân của
mình khao khát sự vĩ đại, phát triển các đức tính và lòng trung thành, trở nên có kỹ năng

phụ thuộc vào mức độ hạnh phúc chủ quan của cá nhân, CLCS cũng phụ thuộc vào các
điều kiện khách quan và cơ hội sẵn có cho người dân. Những năng lực này được một số
nhà phân tích xem là có ý nghĩa không chỉ thông qua ảnh hưởng của chúng đến trạng
thái chủ quan của con người và được xem là những điều kiện cơ bản về sự tự do của
người dân. Với quan điểm đó, Stiglitz và cộng sự (2009) đã đưa ra một danh sách các
thành phần phản ánh điều kiện khách quan của CLCS bao gồm: sức khỏe, giáo dục, các
hoạt động cá nhân (bao gồm đi lại và giải trí), tiếng nói chính trị và quản trị, kết nối xã
hội, điều kiện môi trường, sự bất ổn cá nhân và sự bất ổn kinh tế.
Có thể thấy, trong các cách tiếp cận khác nhau tới CLCS, cách tiếp cận năng lực
là một quan điểm hiện đại và đã bao trùm cả cách tiếp cận khách quan dựa trên nguồn
lực và cách tiếp cận nhu cầu cơ bản. Chính vì vậy, nếu xem xét CLCS theo cách tiếp
cận này thì sẽ phản ánh đầy đủ các khía cạnh cần thiết để tạo nên một cuộc sống có chất
lượng tốt.

1.1.2. Một số tranh luận xung quanh khái niệm chất lượng cuộc sống
Từ các cách tiếp cận lý thuyết khác nhau, các học giả trên toàn thế giới đã nghiên
cứu xây dựng khái niệm CLCS cũng như cách thức đo lường khái niệm này. Do sự đa
dạng về cách tiếp cận cũng như quan điểm riêng của các cá nhân, nhiều khái niệm khác
nhau về CLCS đã được đưa ra nhưng không có khái niệm nào được chấp nhận một cách
rộng rãi. Điều này đã dẫn đến nhiều cuộc tranh luận xung quanh khái niệm CLCS và
cách thức đo lường CLCS.
Raphael (1996) đã đưa ra 11 vấn đề gây tranh luận chính liên quan đến cách thức
đo lường CLCS, đó là: (1) quan điểm xã hội học hay tâm lý học; (2) cách tiếp cận thực
chứng, duy tâm hay hiện thực; (3) cách tiếp cận tự nhiên hay thực chứng; (4) cách tiếp


16

cận định tính hay định lượng; (5) cách tiếp cận dựa trên giá trị hay không dựa trên giá
trị; (6) định hướng chính sách xã hội hay nghiên cứu cơ bản; (7) thu thập dữ liệu hệ

Quan điểm thứ hai đại diện cho cách tiếp cận chủ quan. Khi đó CLCS được định
nghĩa là sự hài lòng với cuộc sống. Theo Kerce (1992), Dalkey và Rourke nói rằng
CLCS là cảm giác của một người về sự thoải mái, sự thỏa mãn hay không thỏa mãn với


17

cuộc sống. Andrews (1974) đã cho rằng, trạng thái thoải mái, khỏe mạnh hay hạnh phúc
được cảm nhận một cách rộng rãi để chỉ “cấp độ” của CLCS. Trong những định nghĩa
này, “hạnh phúc” và “sự hài lòng” được sử dụng. Điều này không có gì là bất hợp lý vì
trong nhiều trường hợp, CLCS, sự hạnh phúc và sự hài lòng có thể được sử dụng thay
thế cho nhau. Tuy nhiên, theo Felce & Perry (1995), đây là một vấn đề phức tạp. Để sử
dụng sự hài lòng cá nhân như một từ đồng nghĩa với CLCS sẽ không phù hợp, đặc biệt
nếu không xem xét đến điều kiện sống của con người vì cách biểu hiện sự hài lòng đó
còn tùy vào tính khí của từng cá nhân, hoàn cảnh và kinh nghiệm mà họ đã trải qua.
Trong khi đó, Andrews & Withey (1976) đã bác bỏ sự phân biệt giữa các đo lường
khách quan và chủ quan vì cho rằng, nó không rõ ràng và không hữu ích. Họ cho rằng
cách duy nhất để trải nghiệm thế giới là thông qua các giác quan của mình và vì thế cái
gọi là đo lường khách quan thực chất chỉ giống như chủ quan.
Quan điểm thứ ba là sự kết hợp của hai quan điểm trên dựa trên sự thừa nhận về
điểm mạnh và điểm yếu của mỗi cách tiếp cận chủ quan hay khách quan trong đo lường
CLCS. Khi đó, CLCS được định nghĩa là sự kết hợp giữa điều kiện sống và sự hài lòng
với cuộc sống. Điều này là hoàn toàn hợp lý vì những yếu tố của điều kiện sống bên
ngoài như thu nhập, việc làm, tình hình tội phạm… sẽ ảnh hưởng đến thái độ của mỗi
người với CLCS. Theo Cummins (2000), Hagerty và cộng sự (2001), Costanza và cộng
sự (2007), Stiglitz và cộng sự (2009)…, nhiều mô hình nghiên cứu đã kết hợp cả khía
cạnh chủ quan và khách quan trong đo lường CLCS.
Những điểm mạnh và điểm yếu của các đo lường khách quan và đo lường chủ quan
về CLCS được rút ra từ nghiên cứu của Diener & Suh (1997) và được trình bày trong
bảng 1.1 dưới đây.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status