tiểu luân bộ luật dân sự 2015: Một số vấn đề về áp dụng tập quán, quy định tương tự của pháp luật theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành. - Pdf 52

ĐỀ TÀI
Câu 3: Một số vấn đề về áp dụng tập quán, quy định tương t ự
của pháp luật theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hi ện
hành.

PHẦN MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn đẩy mạnh thực hiện công cuộc cải cách tư pháp
nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay,
vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đ ược xác đ ịnh là m ột
trong những nhiệm vụ trọng tâm phục vụ cho công cuộc đổi m ới đất n ước.
Thật vậy, luật dân sự điều chỉnh các quan hệ đa dạng, ph ức tạp về chủ
thể, khách thể, nội dung, hơn nữa những quan hệ này không ngừng phát
triển cùng với sự phát triển của xã hội nói chung và khoa h ọc kĩ thu ật nói
riêng. Vì vậy khi ban hành các văn bản pháp luật, nhà lập pháp không d ự
liệu hết được các quan hệ xã hội cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp lu ật,
tạo lỗ hổng trong pháp luật dân sự.
Thực tế cho thấy, các quan hệ trong xã hội về cơ bản đều chịu sự
điều chỉnh của các quy phạm pháp luật. Do đó, m ột quy ph ạm pháp lu ật
phải chứa đựng quy tắc xử sự chung, thế nhưng việc áp dụng các quy t ắc
xử sự chung này cho mọi trường hợp, kể cả các trường h ợp đ ặc biệt là
điều không thế. Văn bản quy phạm pháp luật ph ải có tính khái quát cao.
Song chính sự khái quát cao đó lại khiến cho văn bản quy ph ạm pháp lu ật
dễ dàng bộc lộ khuyết điểm. Ngoài ra, văn bản quy phạm pháp lu ật
thường dễ bị lạc hậu so với cuộc sống, làm cho văn bản quy ph ạm pháp
1


luật chưa đáp ứng yêu cầu điều chỉnh toàn bộ hành vi con người, đi ều
chỉnh quan hệ xã hội. Và một trong những giải pháp quan trọng được đặt
ra là đa dạng hóa hình thức pháp luật.
Ap dụng tập quán và tương tự pháp luật là một điều hết sức cần thiết

điều chỉnh các quan hệ dân sự, nếu chúng không trái với nh ững nguyên t ắc
quy định trong BLDS. Như vậy, việc áp dụng tập quán chỉ thực hiện khi
thỏa mãn hai điều kiện: Thứ nhất, pháp luật không có quy đ ịnh; th ứ hai,
các bên không có thỏa thuận.

II- Vấn đề áp dụng tập quán trong pháp luật dân sự Việt Nam
hiện hành.
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về
chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010
và định hướng đến 2020 được xác định là phải “xuất phát t ừ th ực ti ễn Vi ệt
Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về xây d ựng và
tổ chức thi hành pháp luật; kết hợp hài hòa bản sắc văn hóa, truy ền thống
tốt đẹp của dân tộc và tính hiện đại của hệ thống pháp luật”. Trong đó, khi
đề cập đến vấn đề thừa nhận và áp dụng tập quán pháp tại Việt Nam,
Nghị quyết đã chỉ rõ yêu cầu: “Nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng
án lệ, áp dụng tập quán (kể cả tập quán, thông lệ th ương mại quốc tế) và
quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện
pháp luật” (Phần III Mục I).
1.Tập quán và tập quán pháp
a. Tâp quan

3


Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau v ề t ập
quán được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Theo từ điển Luật của Black (Black’s Law Dictionary) tập quán là
“thực tế mà bằng sự thừa nhận chung và lâu dài đối v ới nó, thói quen
không thay đổi đã trở thành có hiệu lực như pháp luật”.
Xét về mặt dân tộc và văn hoá - xã hội thì tập quán được hiểu dựa

Tập quán có đặc điểm là bất biến, bền vững, do vậy rất khó thay
đổi. Trong những quan hệ xã hội nhất định, tập quán được biểu hiện và
định hình một cách tự phát hoặc được hình thành và tồn tại ổn đ ịnh , được
bảo tồn từ thực tiễn cuộc sống, từ những thói quen ứng xử hằng ngày nên
rất gần gũi với nhân dân và thường được nhân dân tự giác th ực hiện. Việt
NamViệt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên lãnh th ổ v ới
tổng dân số khoảng 90 triệu người (tính đến ngày 01/11/2013). V ới s ố
lượng các dân tộc phong phú như vậy, phong tục, tập quán cũng song song
trường tồn và có những nét riêng đa dạng, phản ánh bản s ắc dân t ộc khá
rõ. Câu ngạn ngữ: “Phép vua thua lệ làng” đã phản ánh đúng thực trạng về
tập quán của mỗi dân tộc ở Việt Nam.
b. Tâp quan phap
Trong bất cứ xã hội nào, để xã hội tồn tại và phát triển thì các quan
hệ giữa các cá nhân với nhau và với xã hội, ph ải tuân theo các quy t ắc
chung nhất định. Những quy tắc đó tồn tại trong tất cả các lĩnh v ực c ủa đ ời
sống xã hội. Tập quán pháp là một trong các loại quy tắc chung đó.
Tập quán pháp là những quy tắc xử sự được nhà n ước th ừa nhận
thành pháp luật, được bảo đảm thực hiện bằng nhà n ước. Tập quán pháp
là những chuẩn mực xử sự trong cộng đồng được hình thành, tạo thành hệ
thống các quy tắc mà hạt nhân của nó là các tập quán được nhà n ước th ừa
nhận để nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nh ư vậy, tập quán pháp
được xem là hình thức pháp luật xuất hiện sớm nh ất và đ ược s ử dụng
5


nhiều trong nhà nước có chế độ chủ nô. Nh ư một sự kế thừa lịch sử, tập
quán pháp cũng được lưu truyền và tồn tại trong nhà n ước th ời kỳ phong
kiến, nhà nước tư sản theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ.
Khi tập quán trở thành tập quán pháp chỉ thay đổi giá trị pháp lý,
tức là được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà n ước. T ập quán pháp

lượng cầm quyền trong xã hội,là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã h ội.
Cùng với pháp luật, phong tục tập quán cũng là công c ụ h ữu hi ệu
,quan trọng trong việc điều chỉnh , tổ chức, quản lí nh ững hành động chung
của con người. Pháp luật và phong tục, tập quán có mối quan hệ mật thiết
với nhau bởi chính phong tục tập quán là nguồn hình thành pháp lu ật,
pháp luật không thể tách rời phong tục tập quán. Tuy nhiên ở m ột ch ừng
mực nào đó thì pháp luật cũng có sự tác động tr ở lại đối v ới phong t ục t ập
quán.
a. Tác động của phong tục tập quán với pháp luật:
Phong tục, tập quán vừa có thể là nguồn nôi dung, vừa có th ể là
nguồn hình thức của pháp luật. Những phong tục tập quán tiến bộ, t ốt
đẹp, phù hợp với ý chí của Nhà nước, được Nhà nước th ừa nh ận sẽ tr ở
thành nguồn nội dung của pháp luật. Ví dụ, việc Nhà n ước th ừa nh ận
phong tục ăn Tết Nguyên đán, phong tục Giỗ tổ Hùng Vương ngày mùng 10
tháng 3 âm lịch đã dẫn đến quy định trong Bộ luật lao đ ộng cho phép
người lao động, cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên.. được nghỉ làm việc,
học tập trong ngày này. Ngoài ra, trong một số lĩnh vực, các quy tắc và quan
niệm đạo đức chính thống tốt đẹp của dân tộc cũng có trở thành nguồn
nội dung của pháp luật.

7


Ngược lại có những phong tục, tập quán cổ hủ, lạc hậu, phản ti ến
bộ khiến Nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật nh ằm xóa bỏ,
loai trừ dần chúng khỏi đời sống xã hội. Ví dụ sự tồn tại của phong tục đ ốt
pháo gây lãng phí tiền bạc, tai nạn thương tâm dẫn đến việc Nhà n ước ban
hành quy định cấm sản xuất và đốt pháo trái phép đ ể lo ại tr ừ phong t ục
này. Đó có thể là những phong tục tập quán hạn chế và gây ảnh h ưởng đến
việc sử dụng pháp luật như: tảo hôn, cúng ma, n ổi dậy, mê tín dị đoan,

đời sống xã hội. Với bề dày lịch sử hàng ngàn năm, các dân tộc Việt Nam có
hệ thống tập quán rất đa dạng, phong phú và nhiều tập quán hàm ch ứa
yếu tố hiện đại, văn minh.
Hơn nữa, ở nông thôn đang tồn tại rất nhiều “hương ước” của mỗi
xã, mỗi làng. Những hương ước này đều có nội dung và m ục đích c ủng c ố
tình làng, nghĩa xóm và có tính giáo dục cao trong cộng đồng, ch ứa đ ựng r ất
nhiều tập quán tốt đẹp trong cộng đồng dân cư, nên ở Việt Nam hệ thống
các tập quán được hình thành và phát triển từ rất sớm và rất đa d ạng. V ới
mỗi thời kí phát triển khác nhau, tập quán pháp ở Việt Nam l ại có nh ững
đặc trưng, thể hiện những nếp sống, những thói quen, nhưng quy tắc ứng
xử riêng của con người.
Ra đời cùng với sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên th ủy, tập
quán được sử dụng phổ biến trong các nhà nước chủ nô và nhà nước
phong kiến.
Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, tập quán pháp là nguồn luật
chính trong giai đoạn từ trước năm 1945, ngay từ khi hình thành Nhà n ước
Văn Lang – nhà nước đầu tiên của chúng ta. Mỗi làng, xã đều có h ương ước,
phong tục, tập quán riêng. Sự phát triển lớn mạnh của hệ th ống phong t ục,
tập quán ở mỗi địa phương đã làm cho nó có vai trò quan tr ọng trong đ ời
sống xã hội, và được thừa nhận, áp dụng triệt để. Khi B ộ lu ật H ồng Đ ức
9


dưới triều Lê và bộ luật Gia Long dưới triều Nguyễn được ban hành đều
thừa nhận những quy tắc xử sự tồn tại dưới dạng tập quán, ch ủ y ếu là các
tục lệ, lệ làng. Ví dụ, điều 134 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Người kết hôn
mà không đủ sính lễ đến nhà cha mẹ (người con gái) (nếu cha m ẹ chết c ả,
thì đem đến nhà người trưởng học, hay nhà người tr ưởng làng đ ể xin, mà
thành hôn với nhau một cách cẩu thả thì phải biếm một tư và theo lệ sang
hèn, bắt phải nộp tiền tạ cho cha mẹ (nếu cha mẹ chết cả thì nộp cho

quán pháp có vị trí, vai trò khác nhau trong hệ thống pháp luật. T ập quán
pháp có thể là một nguồn luật hoặc không phải là một nguồn lu ật nh ưng
có giá trị pháp lý trong điều chỉnh quan hệ dân s ự.
2.3. Tâp quan trong phap luât dân sư Việt Nam hiện hanh.
Cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân ch ủ Cộng hòa, nay là
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là s ự ra đời của h ệ th ống pháp
luật mới. Với bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân, nh ững giá tr ị
đạo đức nghề nghiệp hướng tới xây dựng một nền công vụ m ới, ph ục v ụ
nhân dân được chú trọng, hình thành và phát triển trên nền t ư t ưởng đ ạo
đức mới, pháp luật mới.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, tập quán được thừa
nhận trong các văn bản có giá trị pháp lý. Có th ể nói đến Hiến pháp 2013
tại khoản 3 điều 5: ”Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quy ền
dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong t ục, t ập
quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.
Mặc dù trong Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản h ướng d ẫn thi
hành không đưa ra nguyên tắc á p dụng tập quán, song tại Điều 82 và 83
của Bộ luật này cho phép xác định nguồn của ch ứng c ứ là t ập quán, "t ập
quán được coi là chứng cứ nếu được cộng đồng nơi có tập quán đó th ừa
nhận”. Quy định này được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
giải thích rõ thêm qua Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005
11


hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về
"chứng minh và chứng cứ”. Tại tiểu mục 2.7 mục 2 Phần II Ngh ị quy ết quy
định:nguồn của chứng cứ là tập quán nếu được cộng đồng nơi có tập quán
đó thừa nhận."Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đ ời s ống xã h ội,
trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng n ơi có t ập quán
đó thừa nhận và làm theo như một quy ước chung của cộng đồng;

điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh đó;
- Với các quy phạm và chế định hiện có không th ể giải quy ết tranh chấp đó;
- Có tập quán được cộng đồng thừa nhận như chuẩn m ực ứng x ử trong các
trường hợp đó;
- Việc áp dụng phong tục tập quán không được trái v ới pháp lu ật và các
nguyên tắc quy định trong BLDS 2005, chỉ áp dụng tập quán đã tr ở thành
thông dụng, được cộng đồng thừa nhận.
Ngoài ra còn một số điều kiện khác như: các bên trong giao d ịch
không có thỏa thuận; giải quyết theo trình tụ áp dụng tập quán trước, nếu
không có tập quán mới áp dụng quy định t ương t ự pháp lu ật…Vi ệc áp
dụng tập quán để giải quyết các tranh chấp xảy ra cần lưu ý m ột s ố
trường hợp sau đây:
- Nếu các bên tranh chấp là người ở các địa phương khác nhau mà m ỗi đ ịa
phương đều có tập quán về vấn đề đang tranh chấp trong khi tranh ch ấp
đó lại xảy ra tại một địa phương khác không có tập quán thì không đ ược áp
dụng tập quán; nếu xảy ra tranh chấp ở địa phương khác mà có t ập quán
thì áp dụng tập quán tại nơi xảy ra tranh chấp để giải quy ết.
- Nếu các bên tranh chấp là người của các dân tộc khác nhau mà mỗi dân t ộc
đều có tập quán về vấn đề đang tranh chấp thì không áp d ụng t ập quán
nếu nơi xảy ra tranh chấp không có tập quán địa ph ương; nếu nơi x ảy ra
tranh chấp cũng có tập quán thì áp dụng tập quán địa ph ương đ ể gi ải
quyết.
- Nếu các bên tranh chấp là cùng một dân tộc mà dân tộc ở đã có t ập quán
về vấn đề đang tranh chấp thì áp dụng tập quán của dân tộc đó đ ể gi ả
quyết cho dù nơi xảy ra tranh chấp chưa có tập quán địa ph ương.
3. Liên hệ thực tiễn và đánh giá chung
Ở Việt Nam hiện nay, việc coi tập quán pháp như nguồn bổ trợ c ủa
pháp luật đã trở nên hết sức rõ ràng. Tuy nhiên, dù có c ơ sở pháp lý c ụ th ể,
14




Có thể thấy rằng ở hai ví dụ vừa nêu, việc áp dụng tập quán đã
được Tòa án áp dụng vào xét xử nhưng việc giải quyết lại ph ức tạp, r ắc
rối khi một vụ án dân sự đã phải nhờ đến sự giải quy ết c ủa Tòa án nhân
dân tối cao và vụ việc thứ hai cũng là qua Tòa án cấp phúc th ẩm m ới có th ể
toàn vẹn. Do đó cho đến nay ở nước ta không có nh ều v ụ án đ ược xét x ử
trên cơ sở áp dụng tập quán. Thực tế khảo sát ở một số tỉnh miền núi
thường xuyên áp dụng tập quán cho thấy, có đến một nửa số bản án, quy ết
định viện dẫn tập quán để giải quyết tranh chấp không đ ược Viện ki ểm
sát , Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận. Ngay đối với các đoàn th ể xã h ội
cũng chỉ chấp nhận, đồng tình với 58,3% các bản án, quy ết đ ịnh có áp
dụng tập quán. Vậy lý do vì đâu mà khi đã có c ơ s ở pháp lý đ ược quy đ ịnh
mà các Tòa án vẫn bối rối, e ngại khi áp dụng tập quán?
Qúa trình tổng kết việc thi hành Bộ luật dân sự cho thấy, việc áp
dụng tập quán trong giải quyết quan hệ dân sự còn gặp nhiều vướng mắc.
Mà lý do chủ yếu đó là quy định về áp dụng tập quán còn có n ội dung ch ưa
rõ ràng,cụ thể. Hầu hết các quy định về áp dụng tập quán trong Bộ lu ật
dân sự 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật khác chỉ th ừa nhận áp
dụng tập quán mà không đề cập đến nội dung của tập quán đó, điều kiện
để áp dụng tập quán đó. Do đó, gây khó khăn và thiếu s ự th ống nh ất cho
các Tòa án trong quá trình áp dụng và xét xử. việc đào tạo, nâng cao trình
độ cán bộ pháp luật và công tác nghiên cứu lý luận về pháp lu ật ch ưa theo
kịp đòi hỏi của thực tiễn; việc tổ chức thi hành pháp luật còn thi ếu ch ặt
chẽ; ý thức pháp luật của một bộ phận không nh ỏ cán bộ, công ch ức và
nhân dân còn nhiều hạn chế.
Khi đã liên hệ thực tiễn hiện nay, ta có thể rút ra một vài ưu đi ểm
cũng như hạn chế của việc áp dụng tập quán tại Việt Nam hiện nay.
Ưu điểm: tập quán pháp có khả năng thay thế sự điều chỉnh của
pháp luật trong những phạm vi nhất định và ở một số lĩnh v ực quan h ệ xã

từ ba mươi năm trở lên mà không có tranh chấp.”Vậy nếu vừa thỏa mãn cả
17


điều kiện có tập quán và cả điều kiện trên ba mươi năm tr ở lên mà không
có tranh chấp thì sẽ áp dụng theo căn cứ nào, vì mỗi căn c ứ sẽ cho nh ững
kết quả hoàn toàn khác nhau. Bộ luật Dân sự năm 2005 và các văn bản
thường đưa ra nguyên tắc áp dụng tập quán là “giữ gìn bản sắc dân tộc và
phát huy những phong tục, tập quán, truyền th ống và văn hóa t ốt đ ẹp c ủa
mỗi dân tộc” nhưng không trái với các nguyên tắc cơ bản c ủa pháp lu ật.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có quy định th ế nào đ ược coi là gi ữ gìn b ản
sắc văn hóa của mỗi dân tộc và những nguyên tắc cơ bản c ủa pháp lu ật
nào được coi là tiêu chí đánh giá tính đúng đắn hay phù h ợp c ủa các phong
tục tập quán. Đây cũng là điều khó khăn trong việc áp d ụng các t ập quán
vào giải quyết các quan hệ phát sinh trên thực tế.
Vì vậy, tập quán phải do cơ quan nhà nước quy định và c ần làm rõ
tập quán nào được pháp luật thừa nhận, tập quán nào không. Đồng th ời
khái niệm về tập quán cần khái quát, đầy đủ, cần làm rõ là khi có xung đột
về nội dung thì áp dụng tập quán nào. Có như vậy thì tòa m ới áp d ụng m ột
cách chính xác, dễ dàng, tránh tùy tiện.
III- Áp dụng quy định tương tự theo quy định pháp luật dân sự
Việt Nam hiện hành
Pháp luật không thể bao quát được tất cả các quan hệ xã hội. Khi có
nhu cầu cần áp dụng pháp luật đối với những quan hệ xã h ội ch ưa đ ược
quy phạm pháp luật nào điều chỉnh thì các cơ quan nhà n ước có th ẩm
quyền có thể áp dụng những quy phạm pháp luật đang có hiệu lực đ ối v ới
những quan hệ pháp luật tương tự với quan hệ xã hội cần xử lý. Trong
trường hợp không tìm ra được quan hệ pháp luật tương t ự, t ức là không
xác định được quy phạm pháp luật cần áp dụng, các c ơ quan nhà n ước có
thẩm quyền có thể vận dụng những nguyên tắc chung của pháp luật để

vay.

Nhu cầu đời sống xã hội đòi hỏi phải giải quyết các tranh ch ấp đó,

cho nên phải áp dụng tương tự pháp luật linh hoạt, phù h ợp v ới l ề thói c ủa
cư dân từng vùng, miền của đất nước. Việc áp dụng pháp luật t ương t ư
nhằm giúp các nhà lập pháp vận dụng, góp phần hoàn thiện và bổ sung h ệ
thống pháp luật thực định. Việc áp dụng này cũng sẽ tạo tiền đề để các
nhà lập pháp hoàn thiện và bổ sung hệ thống pháp luật.
Cho tới nay, pháp luật thực định về dân sự của Nhà nước ta ch ưa có
quy định vận hành pháp luật tương tự. Cũng do đó nên khi xảy ra tranh
19


chấp về dân sự ở vùng sâu vùng xa, nơi có nh ững dân t ộc ng ười thi ểu s ố
sinh sống, Tòa án gặp khó khăn, thậm chí bị bế tắc vì ch ưa có “mô hình”
pháp luật tương tự để vận dụng giải quyết. Vì vậy, việc giải quy ết tranh
chấp dân sự gặp không ít khó khăn do khiếm khuy ết quy đ ịnh về áp d ụng
pháp luật tương tự.
IV- Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi (17/6/2014)
Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi tới đây quy định về áp dụng tập
quán, quy định tương tự của pháp luật tại Điều 3 Bộ luật Dân s ự hiện hành
đã được tách thành 2 điều. Theo đó, Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi dành
Điều 5 để quy định về áp dụng tập quán, quy định: “Trong tr ường h ợp
pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có th ể áp
dụng tập quán. Tập quán không được trái với những nguyên tắc c ơ bản
quy định tại Điều 2 của Bộ luật này và không vi ph ạm điều cấm của lu ật”.
Dự thảo Bộ luật cũng dành 1 điều (Điều 6) để quy định về áp dụng
quy định tương tự của pháp luật, nêu rõ: “Trong trường h ợp pháp lu ật
không quy định, các bên không có th ỏa thuận và không có t ập quán thì áp

điểm hạn chế cơ bản.
Muốn pháp luật là cơ sở để hướng dẫn hành vi, thống nh ất hành vi
của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, tạo lập tr ật tự, h ệ
thống pháp luật của một quốc gia nói chung, pháp luật phải bảo đ ảm tính
21


thống nhất. Tính thống nhất của hệ thống pháp luật phản ánh tính th ống
nhất của hệ thống khách thể mà chúng điều chỉnh, rộng h ơn là ph ản ánh
sự thống nhất của thị trường, sự thống nhất của một quốc gia. Ngay từ giai
đoạn soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, mà trước hết là
các đạo luật, pháp lệnh, tính hợp hiến, hợp pháp và tính th ống nh ất c ủa h ệ
thống pháp luật đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
phải được bảo đảm. Đây phải được coi là một yêu cầu quan trọng trong
quy trình lập pháp, lập quy. Hơn nữa, việc bảo đảm tính hợp hiến, h ợp
pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật sẽ hạn chế tối đa kh ả
năng gây thiệt hại cho Nhà nước và xã hội, xâm hại các quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân để BLDS thực sự là công cụ pháp lý bảo vệ quy ền,
lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà n ước, l ợi ích công
cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân s ự góp
phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh th ần c ủa nhân dân,
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
-

Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 1 - Trường Đại học Ki ểm Sát Hà N ội

– NXB Chính trị Quốc gia
- Bộ luật dân sự 2005 – NXB Chính trị Quốc gia




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status