Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đại Dương Chi nhánh Quảng Ninh (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 52

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN


Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Thương mại trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đại Dương Chi nhánh Quảng
Ninh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Tất cả những tham khảo đều được
trích dẫn và tham chiếu đầy đủ.
Quảng Ninh, ngày 05 tháng 09 năm 2018
Học viên

Vũ Thị Kim Oanh

LỜI CẢM ƠN


Để có thể hoàn thành đề tài Luận văn thạc sĩ này, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng
của bản thân còn có sự hướng dẫn chỉ bảo của các thầy cô cũng như sự động viên
ủng hộ của người thân và gia đình.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau Đại học, Khoa Quản trị
kinh doanh Trường Đại học Ngoại Thương, các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản
lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn cô PGS.TS Đào Thị Thu Giang – Giảng viên, Phó
hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại Thương, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ
để tôi hoàn thành Luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên
và giúp đỡ tôi trong thời gian qua.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng có thể Luận văn còn có những hạn chế và
thiếu sót. Tôi rất mong nhận sự nhận xét và góp ý của các thầy cô.


12
13
14
15
16

QTRRTD
RRTD
TCTD
TGĐ
TP TĐTD DN/KHBL

17
18

TSBĐ
XHTD

Viết đầy đủ
Dự phòng rủi ro
Khách hàng doanh nghiệp
Giám đốc/Phó giám đốc
Giới hạn tín dụng
Hội đồng thẩm định
Hội đồng thành viên
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng thương mại
Nợ quá hạn
Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu
hạn Một thành viên Đại Dương

Những hạng mục và biểu điểm được sử dụng tại các ngân
hàng của Mỹ trong mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Quy đổi điểm sang hạn mức cho vay
Xếp hạng doanh nghiệp của Moody’s
Kết quả hoạt động kinh doanh của Oceanbank Quảng Ninh
giai đoạn 2015-2017
Chỉ tiêu hệ số sử dụng vốn của Oceanbank Quảng Ninh
giai đoạn 2015-2017
Chỉ tiêu hệ số NQH của Oceanbank Quảng Ninh giai đoạn
2015-2017
Tỷ lệ trích lập dự phòng và bù đắp RRTD
Các giới hạn cấp tín dụng và tỷ lệ nợ xấu tối đa

Trang
14
24
28
30
31
39
40
41
42
46


Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8



TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đại Dương là
Ngân hàng 100% vốn chủ sở hữu Nhà nước do Ngân hàng Công thương Việt Nam
hỗ trợ quản trị điều hành. Sau giai đoạn khủng hoảng tổ chức và hoạt động, định
hướng tín dụng của Ngân hàng trong giai đoạn 2015-2017 là đẩy mạnh thu hồi và
xử lý nợ có vấn đề đồng thời từng bước phát triển các hoạt động kinh doanh, tiếp
tục tăng trưởng các chỉ tiêu kinh tế như tổng tài sản, huy động vốn, dư nợ tín dụng,
đầu tư, lợi nhuận và bước đầu đã có những kết quả khả quan.
Tuy nhiên, việc đẩy mạnh dư nợ tín dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất là trong
điều kiện Oceanbank đang ở trong giai đoạn tái cơ cấu tổ chức và hoạt động trong
khi nguồn lực thiếu và yếu. Vì vậy việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng đi đôi với
nâng cao chất lượng tín dụng, bảm đảm an toàn trong hệ thống là việc rất quan
trọng.
Thông qua đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên Đại Dương Chi nhánh Quảng Ninh” người viết
đã làm rõ những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng, phân tích thực trạng hoạt
động Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại trách nhiệm hữu hạn Một
thành viên Đại Dương chi nhánh Quảng Ninh, chỉ ra những kết quả đạt được và
những hạn chế cần khắc phục, qua đó đề xuất những giải pháp để tăng cường công
tác Quản trị rủi ro tín dụng tại Oceanbank.



8

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ với hoạt động chủ yếu và

2. Mục tiêu của đề tài

- Làm rõ những vấn đề cơ bản về Quản trị rủi ro tín dụng (QTRRTD).
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Thương mại trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đại Dương Chi nhánh Quảng
Ninh (Oceanbank Quảng Ninh)
- Đề xuất những biện pháp tăng cường Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Thương mại trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đại Dương Chi nhánh Quảng
Ninh.
3. Tình hình nghiên cứu

Quản trị rủi ro tín dụng được hiểu là quá trình nhận diện, phân tích các nhân tố
gây rủi ro, đo lường mức độ rủi ro, áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế và loại trừ
rủi ro trong quá trình cấp tín dụng. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản trị
rủi ro tín dụng:
- Nguyễn Văn Tiến, 2010, “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng”,
NXB Thống Kê, Hà Nội. Tác phẩm đã giới thiệu tổng quan về tín dụng ngân hàng,
cung cấp kiến thức về phân tích tín dụng và đưa ra cá phương pháp phân tích định
lượng theo các mô hình hiện đại như: mô hình điểm số Z, mô hình điểm số tín dụng
tiêu dùng, mô hình cấu trúc kỳ hạn RRTD. Tác phẩm cũng chỉ ra những biểu hiện
và các bước để xử lý nợ có vấn đề.
- Lê Thị Huyền Diệu, 2010, “Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý
rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”, luận án tiến sĩ kinh
tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội. Nội dung đề tài chủ yếu xem xét những lý thuyết
cơ bản về rủi ro và quản lý rủi ro tín dụng dưới góc độ rủi ro giao dịch, chưa đi sâu
vào góc độ rủi ro tín dụng cũng như đề ra các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng. Đề
tài tập trung nghiên cứu trong giai đoạn trước và sau năm 2010 khi hệ thống văn


10

11

- Nguyễn Chí Trung (2017), “Về quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM”,
/>
Bài

viết đưa ra những giải pháp tăng cường quản lý và giám sát trước và sau giải ngân,
nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ ngân hàng…, sẽ giúp cho quy trình quản trị
RRTD được thực hiện hiệu quả, chặt chẽ hơn.
Các nghiên cứu trên đã tập trung làm rõ và hệ thống hóa lý luận về rủi ro tín
dụng và quản trị rủi ro tín dụng trên cơ sở ứng dụng nguyên tắc Basel trong xây
dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Tuy nhiên do sự biến đổi không ngừng của nền kinh tế và các yếu tố rủi ro khách
quan cũng như chủ quan và đặc thù của nền kinh tế mỗi quốc gia, việc áp dụng các
mô hình, phương pháp kinh tế trên thế giới ứng dụng tại Việt Nam cần có sự chuyển
hóa, thay đổi phù hơp riêng với các nền kinh tế khác nhau.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tín dụng, rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
của Ngân hàng thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu giữa lý luận và thực tế nguyên nhân dẫn
đến rủi ro tín dụng, thực trạng quản trị rủi ro tín dụng giai đoạn 2015 - 2017 tại
Ngân hàng TM TNHH MTV Đại Dương Chi nhánh Quảng Ninh
5. Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài gồm:
- Phương pháp lịch sử: kế thừa những thành quả nghiên cứu đã được công bố
của các tác giả đã thực hiện trước đây, các tài liệu khoa học, các văn bản pháp quy
liên quan đến đề tài.
- Phương pháp tổng hợp, thống kê: xử lý các nguồn dữ liệu thu thập từ các báo

1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay
(ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và
các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng
trong một thời gian nhất định theo thỏa thuân, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô
điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. (Hồ Diệu, 2011,
tr.20)
“Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một
tài sản (bằng tiền, tài sản thực huy uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các
nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ khác” (Nguyễn Văn Tiến, 2010, tr.350).
Có thể nói, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa
ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế mà ngân hàng giữ vai trò vừa là
người đi vay (con nợ) và vừa là người cho vay (chủ nợ).
Tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và
cho thuê tài chính. Vì vậy, tín dụng là một khái nhiệm rộng hơn cho vay bởi nó bao
hàm cả cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng thì nghiệp vụ cho vay lại là
nghiệp vụ quan trọng nhất, cơ bản nhất và chiếm tỉ trọng lớn ở hầu hết các ngân
hàng thương mại. Do đó thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được dùng để thay
thế cho nhau.


14

1.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú với
nhiều hình thức khác nhau. Để sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả ngân hàng
phải tiến hành phân loại tín dụng. Có nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng, thông
thường tín dụng ngân hàng được phân loại theo các tiêu thức sau:
1.1.2.1 Căn cứ vào đối tượng tín dụng

Tín dụng không có bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp
hay không có bảo lãnh của người thứ ba. Loại tín dụng này áp dụng cho khách hàng
truyền thống, khả năng tài chính mạnh và có hệ số tín nhiệm cao.
Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng được cấp có thế chấp, cầm cố bằng tài
sản (của bên vay hoặc bên thứ ba). Sự bảo đảm này là biện pháp đảm bảo cho ngân
hàng có được nguồn thu nợ thứ hai khi khách hàng không có hoặc không đủ khả
năng hoàn trả nợ đúng hạn.
1.1.2.5 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng
thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
Tín dụng gián tiếp: Là khoản cấp vốn thông qua việc mua lại các khế ước
hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và trong thời hạn thanh toán. (Tô Ngọc
Hưng,2009,tr.119)
1.1.3 Đặc trưng tín dụng ngân hàng
- Cung cấp một lượng giá trị trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng tin tưởng người đi
vay sửa dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và có khả năng trả
nợ.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Để đảm bảo thu
hồi nợ đúng hạn, người cho vay thường xác định rõ thời gian vay. Việc xác định
thời gian vay dựa vào:
+ Quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Có nghĩa là thời hạn cho vay
phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì lúc đó người vay


16

mới có điều kiện để trả nợ. Nếu thời hạn cho vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn
của đối tượng vay thì khi đến hạn khách hàng chưa có nguồn để trả nợ sẽ gây khó
khăn cho khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay dài hơn chu kỳ luân chuyển
vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích và sẽ dẫn

Như vậy, có thể hiểu RRTD là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong
quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ
trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như đã
cam kết trong hợp đồng. Đây là rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, dẫn đến tổn
thất tài chính như giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn.
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng

RỦI RO TÍN DỤNG

Khả năng
Nguyên nhân phát sinh

trả nợ

Rủi ro giao

Rủi ro tác

Rủi ro danh

dịch

nghiệp

mục
RRTD

Rủi ro
không hoàn
trả nợ đúng

vay

Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng
(Nguyễn Văn Tiến,2010)
1.2.2.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro
Rủi ro giao dịch: một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có ba bộ phận:


18

- Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng
khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
- Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay, các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và
mức cho vay trên giá trị của TSĐB.
- Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý
các khoản vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh
mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
- Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng
biệt trong mỗi chủ thẻ đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc
điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay.
- Rủi ro tập trung: Khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một
số khách hàng; cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một nganh,
lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất đinh, cùng một loại hình cho
vay có rủi ro cao.
Rủi ro tác nghiệp: Là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân

Tỷ lệ NQH

Nếu tỷ lệ NQH cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp và ngược lại, tỷ lệ NQH
thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao.


Tỷ lệ tổng dư nợ có NQH

Chỉ tiêu “Tổng dư nợ có NQH” chính là toàn bộ dư nợ của khách hàng (kể cả
đến hạn và chưa đến hạn) tính từ khi xuất hiện món nợ quá hạn đầu tiên, nên nó
phản ánh chính xác hơn độ rủi ro tín dụng của ngân hàng.


Chỉ tiêu “Khách hàng có NQH”


20

Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ chính sách tín dụng của ngân hàng không hiệu quả.
Ngoài ra, nếu chỉ tiêu này còn thấp hơn chỉ tiêu “Nợ quá hạn” thì có thể NQH tập
trung vào những khách hàng lớn; ngược lại nghĩa là tập trung vào khách hàng nhỏ.


Chỉ tiêu “Cơ cấu NQH”



Khả năng thu hồi nợ quá hạn

1.2.3.2 Nợ xấu

tiêu
chuẩn
Nợ
cần
chú ý

Nợ
3 dưới
3
tiêu
chuẩn

4
4

Nợ
nghi
ngờ

Nợ có
khả
5
năng
5
mất
vốn

Nợ trong hạn và nợ quá hạn dưới 10 ngày
được đánh gái là có khả năng thu hồi đầy
đủ nợ gốc và nợ lãi đúng hạn.

lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời vốn.
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ
lần thứ hai bị quá hạn theo thời hạn trả nợ
được cơ cấu lại lần thứ hai.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ
lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn
hoặc đã quá hạn.
- Các khoản nợ khoanh, nợ cần xử lý.
(Văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014)

1.2.3.3 Trích lập dự phòng RRTD
Theo Văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014, dự phòng rủi
ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do
khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng
rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín
dụng. Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và dự phòng chung.


22

Dự phòng cụ thể - là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ

(i)

thể các khoản nợ quy định tại Điều 6 và Điều 7 Quy định này để dự
phòng cho những tổn thất có thể xảy ra.
Dự phòng chung – là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những

(ii)


Dự phòng RRTD được trích lập

x 100%


23

Tổng dư nợ cho kỳ báo cáo
Hệ số khả năng bù đắp
Dự phòng RRTD được trích lập
=
các khoản cho vay bị mất
Dư nợ bị xóa
Dự phòng RRTD được trích lập
Hệ số bù đắp RRTD
=
NQH khó đòi
1.2.4 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng
1.2.4.1

RRTD do nguyên nhân khách quan
Các yếu tố về môi trường kinh tế
Chu kỳ phát triển kinh tế: Khi nền kinh tế tăng trưởng và ổn định thì hoạt động

tín dụng cũng sẽ tăng trưởng theo và ít rủi ro hơn. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào
suy thoái thì sản xuất kinh doanh của khách hàng bị thu hẹp hoặc đình trệ, dẫn tới
thua lỗ và bị phá sản. Nếu ngân hàng vẫn mạo hiểm tăng trưởng tín dụng ở mức cao
thì khả năng rủi ro không thu được nợ sẽ tăng lên.
Rủi ro do quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế: Xu hướng toàn cầu

hàng sau khi vay lại sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trả nợ sẽ làm cho
các ngân hàng bị tổn thất và rủi ro trong vấn đề thu hồi nợ.
Khả năng quản lý hoạch định chiến lược kinh doanh kém: Nếu chiến lược
kinh doanh không được quản lý hoạch định tốt sẽ ảnh hưởng đến nguồn trả nợ.
Ngân hàng cho vay dựa trên kế hoạch, chiến lược kinh doanh vì đấy là nguồn trả nợ
tốt nhất, tuy nhiên nếu sự quản lý hoạch định ấy yếu kém, sẽ làm cho phương án
kinh doanh có thể đi vào phá sản, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Rủi ro tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Hiện nay các Báo
cáo tài chính của doanh nghiệp cung cấp vẫn chưa phải là nguồn thông tin xác thực,
bởi chúng được “phù phép” sao cho đẹp để dễ tiếp cận vốn vay. Mặc dù có những
báo cáo tốt, có lợi nhuận nhưng bên trong lại tiềm ẩn, chứa đựng nhiều vấn đề rủi
ro. Do đó ngân hàng không có căn cứ chính xác đáng tin cậy dựa vào thông tin
doanh nghiệp cung cấp mà phải dùng Tài sản thế chấp làm chỗ dựa để phòng chống
RRTD.
1.2.4.2 RRTD do nguyên nhân chủ quan
Rủi ro do chính sách tín dụng của ngân hàng


25

Chính sách tín dụng không rõ ràng làm cho hoạt động tín dụng trở nên lệch
lạc, dẫn đến việc cấp tín dụng sai lầm, tạo ra những kẽ hở cho người sử dụng vốn
lách luật và cuối cùng thì ngân hàng lại phải chịu thiệt thòi.
Do những yếu kém và thiếu sót của cán bộ tín dụng
Các cán bộ tín dụng không nắm vững nghiệp vụ có thể tính toán không chính
xác hoặc bỏ lỡ các dự án đầu tư hiệu quả. Hoặc các cán bộ tín dụng do bị áp doanh
số cho vay, cần hoành thành chỉ tiêu nên đã bất chấp mà cấp vốn cho các dự án
không hiệu quả, điều này sẽ gây ra rủi ro lớn cho ngân hàng.
Nhiều vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ ngân
hàng đã cho thấy sự xuống cấp đạo đức của họ. Một số cán bộ ngân hàng cùng với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status