Sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh yên bái (tt) - Pdf 52

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển kinh tế nhiều nơi trên thế giới đã gây ra hậu quả suy
thoái và cạn kiệt tài nguyên, đồng thời chất lượng môi trường sinh thái tiếp
tục suy giảm. Đặc biệt đối với cộng đồng các dân tộc sống chủ yếu dựa vào
việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì đây là một thách thức
không nhỏ. Vậy vấn đề đặt ra là cần phải giải quyết hài hoà giữa lợi ích KTXH với khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên và nằm trong giới hạn
cho phép của tự nhiên. Để đạt được những mục tiêu này cần phải có những
nghiên cứu mang tính tổng hợp về các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là vấn đề
sử dụng tài nguyên đất và rừng của cộng đồng các dân tộc trong hoạt động
sản xuất nông, lâm nghiệp, từ đó xây dựng cơ sở khoa học cho việc sử dụng
hợp lí tài nguyên đối với từng lãnh thổ sản xuất.
Yên Bái có nhiều tiềm năng to lớn cho phát triển KT-XH. Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế thì nhiều nguồn tài nguyên lại có
nguy cơ bị cạn kiệt và suy thoái, điều này đã có ảnh hưởng rất lớn đến
đời sống của của cộng đồng các dân tộc. Trong sinh kế lâu đời của mình,
cộng đồng các dân tộc gắn bó mật thiết với tài nguyên thiên nhiên, đặc
biệt là với tài nguyên đất và rừng, xong do trình độ dân trí chưa cao nên
khả năng khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung, tài
nguyên đất và rừng nói riêng phục vụ sản xuất còn hạn chế.
Bên cạnh đó, Yên Bái là một tỉnh miền núi, có vị trí địa lí, vị thế
địa chính trị, địa kinh tế qua trọng. Với vị trí chiến lược quan trọng của
mình, trong chiến lược phát triển kinh tế chung của toàn khu TDMNPB,
tỉnh Yên Bái đã xác định mục tiêu xây dựng chiến lược, quy hoạch thành
một khu vực kinh tế phát triển, trong đó trọng tâm là phát triển hai ngành
sản xuất truyền thống, có ý nghĩa quan trọng là các ngành sản xuất nông
và lâm nghiệp. Tuy vậy để đạt được mục tiêu đề ra, rõ ràng có rất nhiều
vấn đề, nhiều những nhiệm vụ cần được quan tâm giải quyết, trong đó
một trong những nhiệm vụ quan trọng, có tính cấp thiết cần được làm
ngay là đánh giá được một cách tổng thể tiềm năng tự nhiên, KT-XH, rà

nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các
dân tộc ở tỉnh Yên Bái.
- Đánh giá thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản
xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Yên Bái.
- Xây dựng hệ thống bản đồ hành chính; bản đồ địa hình; bản đồ
thổ nhưỡng tỉnh Yên Bái; bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng tỉnh Yên
Bái; bản đồ phân bố dân cư và dân tộc tỉnh Yên Bái; bản đồ hiện trạng
phát triển nông, lâm nghiệp theo các vùng độ cao của tỉnh Yên Bái; bản
đồ định hướng không gian phân bố nông, lâm nghiệp tỉnh Yên Bái…
- Đề xuất một số giải pháp và mô hình nhằm sử dụng có hiệu quả, bền
vững tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng
các dân tộc tại tỉnh Yên Bái.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Nội dung nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng, thực trạng
nguồn tài nguyên đất và rừng. Phân tích, đánh giá việc sử dụng tài nguyên đất
và rừng của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Yên Bái thông qua hoạt động sản
xuất NLN trên các địa bàn vùng thấp, vùng giữa và vùng cao.
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá tài nguyên đất và rừng, việc sử dụng
tài nguyên đất và rừng của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái, đề xuất một


3
số giải pháp và mô hình nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng
tài nguyên đất và rừng theo hướng phát triển bền vững.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Dựa trên cơ sở nội dung nghiên cứu thì đề tài sẽ nghiên cứu tập trung
vào 2 đối tượng: Việc sử dụng tài nguyên đất và rừng; Vấn đề phát triển nông,
lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái.
3.3. Không gian nghiên cứu

6. Các luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: Sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông,
lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái bị quyết định bởi các


4
điều kiện về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên; các điều kiện về kinh tế - xã
hội; đặc điểm cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái.
- Luận điểm 2: Tiếp cận phương pháp phân tích, đánh giá hiện
trạng tài nguyên để đánh giá mức độ sử dụng tài nguyên đất và rừng
trong sản xuất nông, lâm nghiệp của đồng bào dân tộc tỉnh Yên Bái. Kết
quả đánh giá tổng hợp là cơ sở phục vụ cho định hướng sử dụng tài
nguyên đất và rừng bền vững có hiệu quả trong sản xuất nông, lâm
nghiệp trên địa bàn nghiên cứu.
7. Những điểm mới của luận án
- Làm sáng tỏ được các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng tài
nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân
tộc trên địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá được thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng trong
sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái theo
các vùng (vùng thấp, vùng giữa và vùng cao).
- Việc phân tích, đánh giá tài nguyên đất và rừng trong sản xuất
nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái đã thiết lập
được cơ sở khoa học tin cậy để định hướng phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Yên Bái. Trên cơ sở đó, đề xuất được một số giải pháp, mô hình
nhằm sử dụng có hiệu quả và bền vững tài nguyên đất và rừng trong sản
xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc trên địa bàn nghiên cứu.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
8.1. Ý nghĩa khoa học: Kế thừa những tư tưởng, những thành tựu của các
học giả tiêu biểu trong và ngoài nước, luận án sẽ làm phong phú thêm cơ sở lý

cộng đồng các dân tộc
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.1. Về tài nguyên thiên
Vấn đề sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên trong hoạt động sản
xuất, đặc biệt là trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, đảm bảo cho
sản xuất phát triển bền vững đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ lâu
đời, trong đó nổi bật có các tác giả. Robert Goodland, George Ledec; Frank
Ellis; Ernst Lutz; Sudhir Anand và Amartya Sen; Mankin.
1.1.1.2. Những nghiên cứu về phát triển nông nghiệp
Nền kinh tế của các nước trên thế giới đều đi lên từ nông nghiệp,
hoặc nông nghiệp có vị trí đặc biệt đối với sự phát triển của một quốc gia
nào đó, vì thế đã có không ít các công trình nghiên cứu nước ngoài liên
quan đến luận án và các nghiên cứu này sẽ là những tài liệu bổ ích cho
nghiên cứu của luận án và gợi mở những bài học kinh nghiệm quý giá
đối với Việt Nam như Ngân hàng thế giới với tài liệu báo cáo "Tăng
cường nông nghiệp cho phát triển".
1.1.1.3. Những nghiên cứu về cộng đồng các dân tộc trong sử dụng TNTN
Qua việc phân tích những thành tựu và thất bại của nhiều dự án
phát triển nông thôn và miền núi tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ La
tinh họ nhận thấy rằng: Các kỹ thuật truyền thống có khả năng thích ứng
cao với điều kiện môi trường tự nhiên cũng như tập quán xã hội, nên
việc kết hợp kiến thức bản địa với kỹ thuật hiện đại là phương pháp tốt
nhất để ứng dựng khoa học kỹ thuật mới vào nông thôn và miền núi…
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
1.1.2.1. Những nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên
Vấn đề quản lí sử dụng TNTN được nghiên cứu khá chi tiết trong
các công trình nghiên cứu của Lê Đức An, Uông Đình Khanh, Nguyễn


6

1.2.2.1. Khái niệm: Theo từ điển Tiếng Việt: Nông nghiệp “là ngành sản
xuất vật chất chủ yếu của xã hội, có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm ngành
trồng trọt và chăn nuôi”; theo từ điển kinh tế học: “Nông nghiệp là quá
trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ sợi và những
sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn
nuôi đàn gia súc”.
1.2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp: bao gồm
nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên và nhóm nhân tố điều kiện KT-XH.
1.2.2.3. Nông lâm kết hợp
Định nghĩa về nông lâm kết hợp đã được thừa nhận rộng rãi hiện
nay trên thế giới là: “Nông lâm kết hợp bao gồm các hệ canh tác và sử
dụng đất khác nhau; trong đó các loài cây thân gỗ sống lâu năm (bao
gồm cả cây bụi thân gỗ, các loài cây trong họ dừa và họ tre, nứa) được
trồng kết hợp với các loài cây nông nghiệp hoặc vật nuôi trên cùng một
đơn vị diện tích đất canh tác, đã được quy hoạch trong sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi hoặc thủy sản. Chúng được kết hợp với
nhau hợp lý trong không gian, hoặc theo trình tự về thời gian. Giữa chúng
luôn có tác động lẫn nhau cả về phương diện sinh thái, kinh tế theo hướng
có lợi” (King 1979); Lundgren và Raintree (1983); Hurley (1983); Nair
(1989); Chun - Lai (1991).


8
1.2.3. Hiệu quả và tiêu chuẩn đánh giá việc sử dụng tài nguyên đất và
rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp
Theo tổ chức Lương Thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc
(FAO - 1990), có ba tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng tài nguyên đất
và rừng bền vững: bền vững về mặt kinh tế; bền vững về mặt xã hội; bền
vững về mặt môi trường.
1.2.4. Cộng đồng các dân tộc và kiến thức bản địa trong sản xuất nông,

một vùng địa lí xác định.


9
1.2.4.2. Kiến thức bản địa của các dân tộc
a. Kiến thức bản địa trong nông nghiệp: kinh nghiệm lựa chọn đất
canh tác, kinh nghiệm trong lịch nông vụ, kinh nghiệm lựa chọn giống
cây trồng, kinh nghiệm trong chăn nuôi.
b. Kiến thức bản địa trong lâm nghiệp: kiến thức bảo vệ và phát
triển rừng.
1.3. Cơ sở thực tiễn
1.3.1. Khái quát về cộng đồng các dân tộc khu vực miền núi phía Bắc
Trung du và miền núi Bắc Bộ bao gồm 15 tỉnh phân theo đơn vị
hành chính là: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình (thuộc vùng Tây
Bắc) và các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang,
Tuyên Quang, Bắc Giang, Phú Thọ, Lào Cao, Yên Bái, Quảng Ninh
(thuộc vùng Đông Bắc). Đây là vùng đất rộng, người không đông, Năm
2016, số dân của vùng đạt 11.984.300 người chiếm 12,9% dân số cả nước.
Miền núi phía Bắc có cơ cấu dân tộc đa dạng nhất cả nước với
khoảng 40 dân tộc thuộc 7 nhóm ngôn ngữ.
1.3.2. Thực trạng phát triển nông, lâm nghiệp và những tác động của
cộng đồng các dân tộc khu vực miền núi phía Bắc đến nguồn tài
nguyên đất và rừng
Trong cơ cấu giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản, nông nghiệp
là hoạt động kinh tế chủ đạo luôn chiếm khoảng gần 80,0% tỉ trọng và
tương đối ổn định. Lâm nghiệp ở vị trí thứ hai nhưng đang có xu hướng
tăng lên. Thủy sản chiếm tỉ trọng không đáng kể nhưng đang có xu
hướng tăng lên. Nền nông nghiệp của vùng đang có sự chuyển biến từ
chủ yếu trồng lúa sang sản xuất hàng hóa.
Chương 2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN

đất chưa sử dụng là 46.233,0 ha chiếm 6,7%.
2.2.3. Khí hậu
Yên Bái có đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với một mùa
đông lạnh. Nhiệt độ trung bình năm từ 22 - 23ºC, có tới 3 tháng nhiệt độ
dưới 18ºC, lượng mưa trung bình năm đạt từ 1.500 - 2.200 mm/năm.
2.2.4. Tài nguyên rừng
Năm 2016, diện tích rừng của tỉnh đạt 454.822,2 ha, độ che phủ
của rừng đạt 62,5%; trong đó diện tích rừng tự nhiên là 245.957,3 ha
chiếm 54,1% tổng diện tích rừng của tỉnh, rừng trồng 208.865,5 ha
chiếm 45,9%.
2.2.5. Tài nguyên nước
a. Nước trên mặt: Chảy trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa
nên nguồn cung cấp nước dồi dào, địa hình chia cắt mạnh nên nguồn
nước trên mặt ở Yên Bái rất phong phú. Ngoài giá trị thủy điện, các sông
trong tỉnh từ xưa đã là nguồn cung cấp nước cho nhu cầu sản xuất nông
nghiệp và sinh hoạt của nhân dân…
b.Nước dưới đất: Nguồn nước dưới đất cũng khá phong phú.
2.3. Các nhân tố về kinh tế - xã hội
2.3.1. Dân cư và nguồn lao động
2.3.1.1. Dân số: năm 2016, tổng số dân của tỉnh có 800.150
người. Trong đó nam 399.700 người, nữ 400.450 người, chiếm 6,09%
dân số toàn vùng miền núi phía.


11
2.3.1.2. Nguồn lao động: nguồn lao động của Yên Bái có xu hướng
tăng qua các năm. Về chất lượng nguồn lao động còn rất thấp, chủ yếu là
lao động không có trình độ chuyên môn.
2.3.2. Cơ sở hạ tầng
Giao thông; Hệ thống điện; Thông tin liên lạc; Thủy lợi; Hoạt

- Cây lúa: tỉnh Yên Bái có diện tích đất trồng lúa không nhiều,
theo số liệu của Thống kê năm 2016 thì toàn tỉnh chỉ có 42.700,0 ha đất
trồng lúa, tăng 1.638 ha so với năm 2005; vượt mục tiêu quy hoạch
1.800 ha. Năng suất lúa tăng từ 39 tạ/ha năm 2005 lên 50 tạ/ha năm


12
2016. Sản lượng lúa ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước. Năm
2016 sản lượng lúa đạt 214.294,0 tấn.
- Cây ngô: Diện tích trồng ngô tăng liên tục qua các năm. Theo số
liệu của Thống kê năm 2016 thì toàn tỉnh có 28.642,0 ha đất trồng ngô.
Năng suất ngô tăng từ 24 tạ/ha năm 2005 lên 33 tạ/ha năm 2016. Sản
lượng ngô ngày càng tăng.
3.1.2. Ngành lâm nghiệp
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2016, tỉnh Yên Bái có
466.681,0 ha đất lâm nghiệp, chiếm 67,7% trong tổng diện tích tự nhiên
toàn tỉnh, cao so với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Trong đó diện
tích có rừng là 454.822,2 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là
245.957,3 ha chiếm 54,1% tổng diện tích rừng của tỉnh, rừng trồng là
208.865,5 ha chiếm 45,9%.
3.2. Thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất
nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái
3.2.1. Khái quát chung về thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng
ở tỉnh Yên Bái
3.2.1.1. Thực trạng sử dụng đất
Theo số liệu thống kê năm 2016, tổng diện tích đất tự nhiên toàn
tỉnh là 688.767,0 ha. Trong đó diện tích nhóm đất nông nghiệp có giá trị
lớn nhất là 588.281,0 ha, chiếm 85,4% diện tích đất tự nhiên; diện tích
nhóm đất phi nông nghiệp là 54.254,0 ha chiếm 7,9 và hiện tại nhóm đất
này đang có xu hướng tăng lên; diện tích đất chưa sử dụng còn khá nhiều

trồng lúa có sự thay đổi đáng kể; cơ cấu giá trị diện tích cây lâu năm
cũng có nhiều biến động.
Hoạt động lâm nghiệp là phương án tối ưu cho việc tận dụng đất
đồi núi chưa sử dụng. Hầu hết đất rừng các loại đều có biến động phức
tạp trong giai đoạn 2005 - 2016.
Loại hình canh tác chính của khu vực vùng thấp là trồng lúa,
trồng sắn, trồng chè, trồng cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản.
- Lúa: Lúa nước được trồng tập trung trên đất ruộng, là loại đất
phù sa cơ giới nhẹ, có mức độ thích nghi trung bình.Từ năm 2005 đến
năm 2016, cây lúa luôn chiếm diện tích lớn nhất và khá ổn định qua các
năm. Cơ cấu mùa vụ đang có sự thay đổi theo hướng đưa vụ xuân lên
làm vụ chính.
- Sắn: Khi nhà máy chế biến tinh bột sắn được đưa vào hoạt động
xây dựng thì từ năm 2005 đến năm 2016 diện tích sắn và đặc biệt là sắn
cao sản liên tục tăng và đến năm 2016 sắn là cây trồng có diện tích lớn
thứ 2 ở khu vực vùng thấp.
- Cây ăn quả: Trong vùng có sự đa dạng về chủng loại cây ăn
quả như cam, quýt, bưởi, xoài… Trong đó, cây ăn quả chủ lực của vùng
là cây bưởi.
- Chè: Cây công nghiệp chính được trồng ở khu vực vùng thấp là
cây chè.
- Thủy sản: Khu vực vùng thấp rất có điều kiện để phát triển thủy
sản. Tuy diện tích nuôi trồng thủy sản có xu hướng giảm, nhưng năng
suất và sản lượng vẫn tăng dần.
Trong các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của khu vực vùng
thấp, xét về tất cả các mặt như giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập
hỗn hợp, giá trị ngày công, hiệu quả sử dụng vốn cũng như một


theo các vùng của tỉnh Yên BáiHình 3.4: Bản đồ biến động sử dụng đất nông, lâm nghiệp

qua các năm và đây là cây trồng có thế mạnh của đai này.
Diện tích đất rừng các loại đều biến động phức tạp trong giai đoạn
2005 - 2016. Cơ cấu đất lâm nghiệp có sự thay đổi mạnh. Diện tích đất
rừng sản xuất tăng mạnh. Đất rừng phòng hộ giảm mạnh.
Năm 2016, diện tích cây lâm nghiệp lớn nhất, sau đó đến lúa, đến
ngô rồi chè. Trong khoảng thời gian 10 năm qua, cây lâm nghiệp là cây
trồng có sự phát triển mạnh nhất, sau đó đến ngô, chè và nuôi trồng thủy
sản. Thực tế này khẳng định hoạt động sử dụng đất nông nghiệp theo các
loại hình canh tác ở vùng giữa đã được đầu tư theo hướng thâm canh.
Về sản lượng của hầu hết các cây trồng chính đều tăng, tăng mạnh
nhất là sản lượng cây lâm nghiệp, cây ngô, cây chè rồi đến cây lúa. Điều
này thể hiện thế mạnh vượt trội của cây lâm nghiệp, cây ngô và cây chè ở
vùng này so với vùng thấp và vùng cao. Đây là khu vực có diện tích và
năng suất chè lớn nhất trong 3 vùng ở Yên Bái.


16
Như vậy, có cùng cơ cấu cây trồng như nhau, nhưng năng suất ở
vùng giữa khác với năng suất ở vùng thấp.
Trong các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của khu vực vùng
giữa, xét về tất cả các mặt như giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập
hỗn hợp, giá trị ngày công, hiệu quả sử dụng vốn cũng như một số chỉ
tiêu hiệu quả kinh tế cho thấy mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất là loại
hình trồng chè; tiếp theo là cây ngô đứng thứ hai; cây lúa có hiệu quả
kinh tế cao thứ ba; khoai tây Atlantic chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao
mặc dù có năng suất, chất lượng tốt do đang trong giai đoạn trồng thử
nghiệm, chi phí đầu tư cao.
b. Kiến thức bản địa của dân tộc Dao trong sản xuất nông, lâm nghiệp
- Trong canh tác nương rẫy:Trong canh tác nương rẫy của người
Dao ở Yên Bái thì việc chọn đất có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của

của cộng đồng các dân tộc ở vùng cao
a. Đánh giá chung
Tại vùng cao trong cơ cấu giá trị đất nông nghiệp thì đất sản xuất
nông nghiệp chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng có sự tăng liên tục qua các năm cả về
giá trị lẫn cơ cấu; trong cơ cấu giá trị diện tích đất sản xuất nông nghiệp
thì diện tích đất trồng cây hàng năm chiếm ưu thế và tăng nhanh qua các
năm; trong cơ cấu giá trị diện tích cây hàng năm cũng có sự thay đổi lớn;
trong cơ cấu giá trị diện tích trồng cây lúa cũng có sự biến đổi. Đất trồng
lúa còn lại chiếm giá trị lớn nhất, đất chuyên trồng lúa có giá trị lớn thứ
hai và cả hai loại diện tích trồng lúa này đều tăng liên tục qua các năm.
Bên cạnh đó diện tích đất trồng lúa nương giảm rất mạnh.
Trong cơ cấu giá trị diện tích cây lâu năm cũng có nhiều biến
động. So với vùng thấp và vùng giữa, sự biến động diện tích cây lâu năm
ở vùng này có sự khác biệt. Trong giai đoạn 2005 - 2016, giảm mạnh
diện tích cây trồng lâu năm do chuyển mục đích sử dụng sang các loại
đất khác.
Tại vùng cao nguồn tài nguyên giá trị mà thiên nhiên đã ban tặng
và cũng là tiềm năng kinh tế to lớn của vùng chính là rừng. Trong giai
đoạn 2005 - 2016 diện tích đất lâm nghiệp của khu vực vùng cao có
nhiều biến động.
Thực tế nghiên cứu cho thấy, tuy năng suất và sản lượng của các
loại cây trồng ở khu vực vùng cao tương đối ổn định và có xu hướng
tăng dần nhưng so với năng suất và sản lượng của các cây trồng cùng
loại ở khu vực vùng giữa và vùng thấp thì vẫn thấp hơn. Trong khoảng
10 năm qua, sản lượng cây lâm nghiệp tăng nhanh do cả chú trọng đầu
tư tăng năng suất và mở rộng diện tích. Thông lá kim và Sơn tra là những
cây lâm nghiệp chủ yếu được người dân trong vùng trồng. Sau 8 năm, hai
loại cây trồng này đem lại năng suất và thu nhập khá cao cho các hộ trồng
rừng, điều đó khác với cây lâm nghiệp của vùng giữa và vùng thấp. So với
vùng giữa và vùng thấp, năng suất nuôi trồng thủy sản ở vùng này thấp

khai thác lâm sản ngoài gỗ cũng như các hoạt động bảo vệ rừng.
3.3. Đánh giá chung về việc sử dụng tài nguyên đất và rừng trong
sản xuất nông nghiệp của cộng đồng các dân tộc
3.3.1. Hạn chế và cách khắc phục của cộng đồng các dân tộc trong
việc sử dụng tài nguyên đất và rừng
Phần lớn cộng đồng các dân tộc ở Yên Bái đã có ý thức về việc sử
dụng và bảo vệ tài nguyên đất và rừng. Tuy nhiên, nhận thức về vấn đề
này đối với một số dân tộc thiểu số sống ở các đai cao như người Mông,
Dao còn thấp.
Hiện tượng đất bị rửa trôi, thoái hóa vẫn diễn ra mạnh. Việc canh
tác nương rẫy, đồng bào đã có nhiều kinh nghiệm trồng trọt, hoàn thiện
một số công cụ sản xuất, nhưng canh tác nương rẫy vẫn phụ thuộc vào
thiên nhiên.
Công tác bảo vệ rừng và Phòng cháy chữa cháy rừng vẫn còn
những điểm nóng, tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép, lấn
chiếm đất rừng để canh tác, trồng cây lâm nghiệp nhất là đối với rừng
tự nhiên vẫn còn xảy ra và diễn biến phức tạp; công tác phòng cháy,
chữa cháy rừng còn nhiều bất cập, diện tích rừng bị thiệt hại do cháy
rừng còn cao.


19
Quy hoạch, bảo vệ, phát triển rừng còn thiếu đồng bộ với quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội; Ranh giới ba
loại rừng, ranh giới quản lý rừng của các chủ rừng vẫn chưa được điều
chỉnh trên bản đồ và ngoài thực địa.
3.3.2. Sự thích ứng của cộng đồng các dân tộc trong môi trường miền núi
vùng cao
Để đảm bảo sinh tồn ở vùng núi cao thì cộng đồng các dân tộc ở
Yên Bái đã có sự thích ứng nhất định với môi trường. Đặc biệt là các


20
4.1.1. Quan điểm
Sử dụng tài nguyên đất và rừng phải đạt hiệu quả KTXH; sử dụng
tài nguyên đất và rừng phải dựa trên quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng ;
sử dụng tài nguyên đất và rừng phải trên cơ sở bảo vệ môi trường sinh
thái; sử dụng tài nguyên đất và rừng phải gắn liền với quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa
- hiện đại hóa; sử dụng tài nguyên đất và rừng phải đảm bảo khai thác tối
đa lợi thế so sánh cũng như tiềm năng của từng vùng; sử dụng tài nguyên
đất và rừng phải dựa trên cơ sở giữ được quỹ đất và rừng tốt phục vụ cho
sản xuất lương thực, thực phẩm. Ưu tiên mục tiêu đảm bảo an toàn
lương thực cho địa phương và cho quốc gia; sử dụng tài nguyên đất và
rừng phải dựa trên cơ sở phát triển kinh tế nông hộ, nông trại và phát
huy kiến thức bản địa của từng dân tộc, từng địa phương.
4.1.2. Mục tiêu
a. Trong sử dụng tài nguyên đất và rừng
Quy hoạch sử dụng tài nguyên đất và rừng trong hoạt động sản
xuất NLN theo hướng sử dụng hợp lí, đúng mục đích, tiết kiệm và bền
vững; chuyển đổi mục đích sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp, mục
đích sử dụng rừng phải dựa trên cơ sở khoa học, nhu cầu thực tiễn và
tính hiệu quả; khai thác sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất, rừng, lao
động, kinh nghiệm sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm
và thu nhập, nâng cao mức sống nông dân, tăng cường khả năng thích
ứng với biến đổi khí hậu.
b. Trong phát triển nông, lâm nghiệp
Phục vụ thực hiện tái cơ cấu NLN theo hướng xác định sản phẩm
chủ lực, có lợi thế để tập trung đầu tư về khoa học - công nghệ, cơ sở hạ
tầng, kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất, hình thành chuỗi giá trị các ngành
hàng để tạo bước đột phá về sức cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng,

trồng trọt trong toàn ngành khoảng 63% vào năm 2030. Hình thành các
vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Xây dựng “cánh đồng lớn”, “cánh đồng liên kết”. Quy hoạch điều chỉnh
và quy hoạch mới các vùng chuyên canh sản xuất...
Định hướng phát triển ngành chăn nuôi: Ưu tiên phát triển đàn gia
súc chính (trâu, bò, lợn), tăng cường công tác cải tạo và đưa các giống
mới có năng suất, chất lượng vào sản xuất, đồng thời phát triển các loại
vật nuôi khác theo lợi thế từng vùng sinh thái, từng địa phương. Đặc biệt
quan tâm đến các giống đặc sản địa phương.
Về quy mô sản xuất, chăn nuôi nông hộ vẫn là chủ yếu, đồng thời
chú trọng phát triển hình thức nuôi trang trại quy mô lớn.
d. Định hướng phát triển lâm nghiệp
Tổng diện tích đất lâm nghiệp: 469.858,0 ha, trong đó cơ bản
ổn định diện tích rừng đặc dụng, giảm diện tích rừng phòng hộ, tăng
diện tích rừng sản xuất.
4.2. Một số giải pháp nhằm sử dụng tài nguyên đất và rừng bền
vững trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng dân tộc tỉnh
Yên Bái
4.2.1. Nhóm giải pháp chung
Tập trung làm tốt công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp,
quy hoạch phát triển rừng và quy hoạch phát triển nông, lâm nghiệp trên
địa bàn toàn tỉnh cũng như ở từng địa phương trong tỉnh; xây dựng các
vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá ở các địa phương dựa trên lợi thế
về tài nguyên đất và rừng; lựa chọn phương thức canh tác phù hợp với


22
điều kiện của tỉnh nói chung, của từng địa phương trong tỉnh nói riêng;
ứng dụng các tiến bộ mới của khoa học và công nghệ vào sản xuất nông,
lâm nghiệp của các địa phương trong tỉnh; đầu tư thoả đáng cho việc đào

lợi, kiên cố hóa kênh mương nội đồng; làm tốt công tác quản lý giám sát
chất lượng đối với mạng lưới dịch vụ cung ứng vật tư như phân bón,
thuốc BVTV, giống cây trồng, vật nuôi,...
b. Đất lâm nghiệp
Tổ chức, chỉ đạo, xử lý kiên quyết và ngăn chặn không còn tình


23
trạng phá rừng, đốt nương làm rẫy; xây dựng kế hoạch quản lý, bảo vệ
và sử dụng nguồn tài nguyên rừng theo chức năng và cần có biện pháp
kinh doanh rừng cho phù hợp với điều kiện địa phương và phù hợp với
từng mục đích kinh doanh cụ thể; tuyên truyền sâu rộng Luật Bảo vệ và
phát triển rừng, các chủ trương, chính sách của Nhà nước liên quan đến
rừng và đất rừng tới từng người dân…
c. Đất nuôi trồng thủy sản
Hoàn thiện và mở rộng mạng lưới sản xuất cá giống; áp dụng
nhiều mô hình nuôi cá.
4.2.2.3. Giải pháp phát triển kinh tế hộ gia đình gắn với các mô hình
canh tác nông - lâm kết hợp
4.2.2.4. Giải pháp phát triển kinh tế - xã hội vùng cao gắn với chương
trình định canh định cư và chương trình xoá đói giảm nghèo
4.2.2.5. Phát huy tri thức bản địa của cộng đồng các dân tộc trong việc
thích ứng với môi trường tự nhiên đầy khó khăn của vùng núi cao
4.2.3. Giải pháp cụ thể ở từng địa bàn cư trú của các dân tộc
4.2.3.1. Đối với các dân tộc ở vùng thấp
Đối với vùng thấp, nơi tập trung chủ yếu đồng bào dân tộc Kinh,
Tày, Nùng… các hoạt động chính trong sản xuất NLN là trồng lúa nước
trên chân ruộng dộc, trồng cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản và phát triển
mô hình kinh tế vườn rừng sản xuất.
4.2.3.2. Đối với các dân tộc ở vùng giữa

Trong nông nghiệp có xu hướng tăng tỉ trọng của chăn nuôi, trồng trọt có
xu hướng giảm nhưng vẫn chiếm tỉ trọng 59,5% vào năm 2016. Trong
lâm nghiệp, giá trị sản xuất còn khiêm tốn.
3. Sự phân hóa lãnh thổ đã được hình thành với 3 đai nông, lâm
nghiệp với những lợi thế khác nhau, trong thời gian tới tỉnh Yên Bái cần
phải khai thác triệt để các thế mạnh của mỗi đai.
4. Luận án đã đưa ra một số giải pháp đóng góp vào sự phát triển
ngành NLN của tỉnh Yên Bái, để tỉnh nhanh chóng có bước phát triển
bền vững và nền ngành NLN sớm bắt kịp nhịp với sự phát triển NLN
chung của cả nước. Trong đó, chú ý nhất là nhóm các giải pháp cụ thể
phù hợp với đặc thù riêng.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status