tác động của cộng đồng các dân tộc đến tài nguyên đất và rừng tỉnh hòa bình - Pdf 23

Ngô Văn Quyền – Địa lý học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Miền núi nước ta là một vùng rộng lớn, với nhiều đặc thù về điều kiện tự
nhiên và kinh tế, xã hội. Đây là địa bàn cư trú của hầu hết các dân tộc thiểu
số. Mỗi dân tộc tuỳ theo trình độ phát triển, tập quán sản xuất, văn hoá, tín
ngưỡng dân gian mà tác động khác nhau tới môi trường và cũng sử dụng tài
nguyên theo cách thức riêng của mình. Một trong những nguyên tắc để xây
dựng xã hội phát triển bền vững là: để cho các cộng đồng dân cư tự quản lý
lấy môi trường của họ. Cho dù ở đâu, các dân tộc ít người đều có một không
gian sinh sống gần gũi với môi trường tự nhiên, hoạt động sống của họ đều
dựa trên việc khai thác tài nguyên địa phương, gắn chặt với vùng núi, vì vậy
khi nguồn tài nguyên thiên nhiên bị phá huỷ có nghĩa là cuộc sống của họ
cũng đang bị đe dọa.
Trong cuộc sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế, nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng của đất nước, trong đó có
nguồn tài nguyên đất và rừng ở vùng miền núi được khai thác với quy mô
ngày càng lớn để đáp ứng với nhu cầu tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất
lượng cuộc sống. Các nguồn tài nguyên này do bị khai thác từ rất sớm đã dần
bị cạn kiệt, hiện nay tới mức báo động. Hậu quả tất yếu đã và đang diễn ra đó
là số lượng tài nguyên cũng như chất lượng môi trường sinh thái tiếp tục suy
giảm. Tình trạng này nếu chậm được khắc phục sẽ làm nảy sinh những khó
khăn mới cho cộng đồng các dân tộc sống chủ yếu dựa vào việc khai thác các
nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Thực tế phát triển kinh tế - xã hội ở Hòa Bình không đứng ngoài thực
trạng nói trên của đất nước. Hòa Bình là một tỉnh có cộng đồng các dân tộc đa
dạng, trong đó người Mường chiếm tỉ lệ lớn nhất; người Kinh, người Thái…
chiếm tỉ lệ khá lớn, hầu hết cư trú tại những địa bàn có điều kiện địa lý khó

môi trường : Một cái nhìn phổ quát” của Ban thư ký Liên hiệp quốc, “Dân số

3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

- môi trường và sự phát triển bền vững” của Uỷ ban các vấn đề kinh tế Châu
Á - Thái Bình Dương…
Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển, Hội nghị môi
trường khu vực được tổ chức định kỳ hoặc thường niên đã đề xuất các hướng
nghiên cứu về chủ đề môi trường, tài nguyên, bảo vệ môi trường trên phạm vi
toàn thế giới. Các hội nghị này đều ra tuyên bố và xuất bản các loại văn bản
quan trọng. Ví dụ như : Tuyên bố Hội nghị Rio de Janeiro (1992), Tuyên bố
Hội nghị Johannesburg (2002)…
Ở Việt Nam, những vấn đề về mối quan hệ giữa con người và tài nguyên,
môi trường đã được nghiên cứu trong vài thập kỷ gần đây, nhất là từ năm
1986, khi Việt Nam bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
Hàng loạt các công trình cả về lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu về vấn đề sử
dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, đặc biệt là vùng miền núi dân tộc
đã được công bố.
Vùng núi Việt Nam chiếm 3/4 diện tích trong cả nước, là nơi cư trú của đại
bộ phận các dân tộc thiểu số, đồng thời cũng là nơi tập trung nhiều nguồn tài
nguyên có giá trị. Đây là vùng có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội. Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu đánh giá về
thực trạng sử dụng tài nguyên và sự biến đổi kinh tế bước đầu của khu vực
miền núi. Điển hình là các công trình nghiên cứu của tác giả Lê Văn Khoa :
"Miền núi và phát triển bền vững", tác giả Bế Văn Đẳng và các cộng tác viên
: "Luận cứ khoa học cho việc xây dựng các chính sách đối với các dân tộc
thiểu số trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội miền núi", tác giả Phạm Văn
Vang : "Kinh tế miền núi và các dân tộc: thực trạng, vấn đề và giải pháp", tác
giả Trần Đức Viên : "Nông nghiệp bền vững, lối đi cho tương lai" và "Hệ

nhiệm cao nhất trong việc bảo vệ và quyết định sử dụng đất, rừng. Công trình
“Một số tri thức dân gian và nghi lễ tín ngưỡng liên quan đến canh tác nương
rẫy của người Mông Trắng ở bản Mô Cổng, xã Phỏng Lái, huyện Thuận

5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Châu, tỉnh Sơn La” của tác giả Trần Thị Thu Thủy (2004) · Nghiên cứu về tri
thức bản địa của một tộc người tại một địa phương cụ thể và đã khẳng định
được trong quá trình đối chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để sinh tồn và phát
triển, các tộc người thiểu số nói chung, tộc người Mông nói riêng không
ngừng thích nghi với môi trường tự nhiên, xã hội và tạo dựng được những
phương thức hoạt động kinh tế hợp lý, hữu hiệu. Trong đó cách khai thác và
sử dụng đất truyền thống đã tiếp thu thêm nhiều kỹ thuật mới vừa hòa nhập
với kinh tế thị trường vừa bảo vệ được đất sản xuất.
Những công trình nêu trên rất có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn, là cơ sở
quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tác động của cộng
đồng các dân tộc đến tài nguyên đất và rừng tỉnh Hòa Bình”.
3. Mục tiêu của đề tài
Đề tài phân tích những tác động của cộng đồng các dân tộc đến nguồn
tài nguyên đất và rừng, đề xuất các quan điểm, giải pháp phát triển kinh tế -
xã hội, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên cho cộng đồng các dân tộc tỉnh
Hòa Bình theo hướng phát triển bền vững.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về cộng đồng các dân tộc với
việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
- Phân tích đặc điểm của cộng đồng các dân tộc và nguồn tài nguyên
đất, rừng ở tỉnh Hòa Bình.
- Phân tích thực trạng sử dụng và đánh giá những tác động đến tài
nguyên đất và rừng của cộng đồng các dân tộc ở Hòa Bình.

các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong những năm tới.

7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tổng hợp và phân tích tư liệu
Tài liệu sơ cấp: sử dụng phương pháp điều tra mẫu điển hình, chọn
thôn, bản, hộ điều tra về các nội dung nghiên cứu của đề tài theo các bộ phiếu
điều tra (lập bảng hệ thống câu hỏi phỏng vấn)
Tài liệu thứ cấp: thu thập các báo cáo khoa học và tài liệu hội thảo, các
báo cáo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh, huyện, xã; các tài
liệu về vấn đề dân tộc, số liệu thống kê của các ban, ngành; sách, báo, tạp chí
đã xuất bản… có liên quan đến nội dung của đề tài.
- Phương pháp phân tích so sánh và tổng hợp:
Phân tích tình hình biến động về kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường của
địa bàn nghiên cứu.
Phân tích các yếu tố tài nguyên ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội
của cộng đồng các dân tộc.
Phân tích tiềm năng và những trở ngại, mối quan hệ giữa cộng đồng các dân
tộc với việc sử dụng tài nguyên và phát triển bền vững.
- Phương pháp điều tra xã hội học
Con người là chủ thể hoạt động của xã hội đồng thời là đối tượng nghiên cứu
của xã hội học. Con người (cá nhân, nhóm, cộng đồng…) luôn là đối tượng
của việc nghiên cứu còn môi trường sống là nền tảng khách quan. Chính vì
vậy, sử dụng phương pháp điều tra xã hội học trong nghiên cứu đề tài nhằm lí
giải mối quan hệ hữu cơ giữa con người, tài nguyên và môi trường. Quan hệ
này biểu hiện trong nhiều lĩnh vực và nhiều cấp độ khác nhau.
Chọn điểm nghiên cứu:
- Phương pháp đánh giá nông thôn tham dự (PRA)

vững 9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CỘNG ĐỒNG CÁC
DÂN TỘC VÀ VIỆC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1.1. Cộng đồng các dân tộc
1.1.1.1. Khái niệm
Thuật ngữ dân tộc (tộc người) được bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ
“ethnos” dung để chỉ những cộng đồng người hình thành và phát triển trong
quá trình tự nhiên – lịch sử. Mỗi cộng đồng người được đặc trưng bởi những
dấu hiệu như: cùng chung tiếng nói, lãnh thổ, đặc điểm lối sống văn hóa và ý
thức tự giác dân tộc. Trong một số trường hợp, những dấu hiệu như cùng
chung lãnh thổ có thể đóng vai trò kém quan trọng hơn [7].
Một số nhà dân tộc học Việt Nam cho rằng, cộng đồng dân tộc hay tộc
người phải được coi là một đơn vị cơ bản để tiến hành xác minh thành phần
các dân tộc. Thông qua nhiều hội thảo khoa học hầu hết ý kiến đều tán thành
các chỉ tiêu xác định thành phần dân tộc là: tiếng nói, đặc điểm văn hóa và ý
thức tự giác dân tộc [2; tr10 – 25].
Phần lớn các nhà dân tộc học Liên Xô (trước đây) cho rằng: cộng đồng
tộc người đồng nghĩa với dân tộc. Về nguyên tắc phân loại cộng đồng các dân
tộc đều thống nhất rằng: các cộng đồng dân tộc khác nhau không phải theo
một đặc trưng nào đó, mà theo tổng thể của một số đặc trưng, đó là [4]:
- Cùng nói một ngôn ngữ hay nói cách khác mỗi một dân tộc đều có
tiếng nói riêng của mình. Có thể nói rằng cộng đồng ít bị phân hóa hơn cả là

nhau, con người thường phải sống gần nhau, thậm chí các nhóm người khác
nhau về ngôn ngữ, về xuất xứ, nếu sinh sống gần nhau trong cùng một lãnh

11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

thổ, họ có thể tạo thành một cộng đồng thống nhất. Điều kiện tự nhiên của
vùng lãnh thổ đó quyết định nhiều đặc điểm của dời sống con người.
Với các đặc trưng trên và một số đặc trưng khác như nguyên tắc gọi tên các
dân tộc, tức là gọi tên các dân tộc cũng phải theo đúng cách của họ, coi đó là sự
thể hiện tính tự tin dân tộc, trong đó đặc biệt là 3 đặc trưng về: ngôn ngữ, đặc điểm
văn hóa và ý thức dân tộc đã hình thành nên các cộng đồng dân tộc.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm cơ bản về cộng đồng
các dân tộc như sau:
Cộng đồng các dân tộc là một khái niệm phát sinh do kết hợp hơn một
đến nhiều dân tộc trên một không gian lãnh thổ nhất định. Mỗi một cộng đồng
dân tộc được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử nhất định,
với những đặc trưng cơ bản: cùng chung ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa, lãnh
thổ cư trú và ý thức tự giác dân tộc. Tất cả hợp thành cộng đồng chính trị xã
hội rộng lớn gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi [7].
1.1.1.2. Bản sắc văn hóa dân tộc và kiến thức bản địa của cộng đồng các
dân tộc
a. Bản sắc văn hóa dân tộc
Thuật ngữ “Bản sắc” (edentate) chỉ tính chất màu sắc riêng tạo thành
phẩm chất đặc biệt của một sự vật [7]. Thuật ngữ “Bản sắc” nhấn mạnh cái
riêng tạo thành phẩm cách, tài năng.
Khái niệm “văn hóa”, theo từ điển tiếng Việt có nghĩa:
- Toàn thể những thành tựu của loài người trong sản xuất, xã hội và tinh
thần.


13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

của những đặc trưng bản sắc đó theo tiêu chí nhân văn. Cái được mọi người
thừa nhận là bản sắc dân tộc thực chất là cái riêng được thẩm thấu vào máu
thịt từng con người của dân tộc đó, trở thành lối sống cộng đồng dân tộc, nó
được phản ánh một cách tự nhiên và đặc sắc.
Bản sắc văn hóa dân tộc đã và đang là một vấn đề rất nhạy cảm, có sự
liên quan mật thiết đến sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Do đó,
để giữ gìn, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc có vai trọ cực kỳ quan
trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia.
Đối với Việt Nam hiện nay, nền văn hóa vẫn đậm nét truyền thống dân
tộc, đồng thời có bản sắc văn hóa đa dạng và phong phú. Các dân tộc trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam có những đặc điểm, phong tục tập quán,
truyền thống sản xuất, tổ chức xã hội, địa bàn cư trú rất khác nhau. Tất cả đã
tạo nên cho mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng. Từ đó đã trở thành
niềm tin sâu sắc, trở thành lối sống của cộng đồng các dân tộc. Điều này có ý
nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Thực chất,
những nét độc đáo và sự phong phú của bản sắc văn hóa dân tộc đang trực
tiếp tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội: những sản phẩm hàng hóa mang
tính dân tộc, văn hóa truyền thống sẽ tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
như các sản phẩm thủ công truyền thống, đan lát, may mặc, phát triển du lịch
văn hóa lễ hội. Đồng thời nền văn hóa truyền thống sẽ có sức giáo dục thế hệ
trẻ ý thức cách mạng trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
b. Kiến thức bản địa của các dân tộc
* Khái niệm:
Kiến thức bản địa (Idigenouse Knowledge), còn được gọi là kiến thức
truyền thống (Traditional Knowledge), hay kiến thức địa phương (Local
Knowledge), một số nhà nghiên cứu đã phân biệt ba thuật ngữ trên, nhưng


15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

từ địa phương, hoặc du nhập sau đó được biến cải nhiều lần để phù hợp với
thiên nhiên và tập quán xã hội, nên kiến thức bản địa có khả năng thích ứng
cao với điều kiện cụ thể ở nơi đang sử dụng chúng.
- KTBĐ do toàn thể cộng đồng sang tạo ra qua lao động trực tiếp. Kiến
thức bản địa được hình thành một cách tự nhiên trong quá trình lao động của
cả cộng đồng bao gồm cả đàn ông, đàn bà, trẻ em, người già… Nhưng mỗi
nhóm người sẽ có những ưu điểm mạnh riêng trong một vài lĩnh vực.
- KTBĐ được lưu giữ bằng trí nhớ và truyền bá từ thế hệ này qua thế hệ
khác bằng truyền miệng, thơ ca, tế lễ và nhiều tập tục khác nhau. Đây là điểm
khác biệt so với kiến thức khoa học và thường gây nhiều khó khăn cho người
nghiên cứu kiến thức bản địa, nhất là người ngoài cộng đồng, người không
cùng ngôn ngữ và văn hóa. Có thể tìm thấy kiến thức bản địa trong cao dao,
tục ngữ truyền khẩu ở hầu hết các dân tộc Việt ở miền xuôi cũng như miền
ngược. Ví dụ: để bảo vệ rừng cộng đồng, rừng đầu nguồn trong sử thi M’nông
nói rõ luật tục có tính thần linh “Rừng nơi đây là rừng cấm. Con suối này là
suối thần. Cây đa kia linh thiêng lắm nhé. Ai phát rẫy cũng bị thần phạt. Phát
một lần Dớt chặt chân, phát một lần Deng bị chặt chân”.
- KTBĐ luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn hóa, tập tục địa phương.
Vì vậy, khả năng tiếp thu, ứng dụng trong cộng đồng là rất dễ dàng. Trong
thực tế chúng ta đã từng thấy rằng có những kỹ thuật mới, đưa lại hiệu quả
cao hơn nhưng không được dân chúng chấp nhận vì trái với tập tục văn hóa
của địa phương.
- KTBĐ có giá trị cao trong việc xây dựng các mô hình phát triển nông
thôn bền vững. Một số nhà nghiên cứu đã coi kiến thức bản địa là cơ sở quyết
định trong các lĩnh vực như nông nghiệp, giáo dục… Hệ thống kiến thức bản
địa còn là một kho thông tin quý giá để gợi ý các giải pháp kỹ thuật mới cho


17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

phân biệt dựa theo các dạng vật chất, đó là các vật thể và các lực của tự nhiên
mà nguồn gốc phát sinh các thuộc tính và sự phân bố của chúng bị quy định
bởi các quy luật tự nhiên. Các tài nguyên cũng có thể phân biệt theo giá trị sử
dụng mà điều này lại bị quy định bởi mức độ nghiên cứu, khả năng kỹ thuật,
tính hợp lý về mặt kinh tế và về mặt xã hội.
Hiện nay có nhiều cách phân loại TNTN khác nhau, người ta có thể dựa
vào tính chất sử dụng như : các phương tiện lao động, nguồn năng lượng,
nguồn nguyên vật liệu, các đối tượng tiêu dùng trực tiếp, hay dựa vào tính
chất tự nhiên để chia thành tài nguyên : khoáng sản, nước, khí hậu, đất, sinh
vật hoặc dựa vào mục đích kinh tế thì lại chia thành các loại tài nguyên :
công nghiệp, nông nghiệp, du lịch Nhưng các phân loại tài nguyên thông
dụng nhất hiện nay là người ta dựa vào khả năng khai thác và phục hồi của
TNTN. Phân loại theo cách này gồm có : Tài nguyên cạn kiệt không có khả
năng phục hồi, tài nguyên có khả năng phục hồi và tài nguyên vô tận.
Vấn đề sử dụng TNTN đã được con người biết đến từ lâu. Ngay từ thời
xa xưa khi con người còn tồn tại trong nền kinh tế tự nhiên, người ta cũng đã
biết sử dụng những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên, đó là các động thực vật
hoang dại trên cạn và dưới nước để làm thức ăn. Dần dần khi con người biết
làm nông nghiệp thì đất trở thành nguồn tài nguyên quan trọng. Đặc biệt là
khi có mặt của các ngành công nghiệp dẫn tới việc khai thác và sử dụng mạnh
mẽ các nguồn tài nguyên, trong đó nhiều nhất vẫn là nguồn tài nguyên
khoáng sản. Hiện nay, quá trình khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên trên
thế giới diễn ra rất mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế và
sự hiện đại của khoa học kỹ thuật con người đang tìm cách khai thác triệt để
những gì mà tự nhiên ban tặng. Bên cạnh những lợi ích của nó chúng ta cũng
phải thừa nhận rằng những mặt hạn chế mà quá trình khai thác và sử dụng tài
nguyên để lại là rất nặng nề.


19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

thiết với nhau. Chính họ là những người trực tiếp khai thác các nguồn tài
nguyên này vì mục đích kinh tế và thoả mãn nhu cầu của mình. Nên họ chính
là những người có thể bảo vệ tài nguyên có hiệu quả nhất. Ví dụ như đối với
rừng, đa số người dân hầu như không nhận được sự đầu tư của Nhà nước.
Cộng đồng dân cư tự tổ chức quản lý, bảo vệ và khai thác các lợi ích của rừng
để trang trải các chi phí cho việc bảo vệ rừng, thậm chí ở một số nơi hàng
năm các thành viên phải đóng góp một phần chi phí cho việc bảo vệ rừng
cộng đồng. Họ quan niệm rằng rừng là của chính họ, các gia đình được hưởng
lợi ích từ rừng nên họ tự giác bảo vệ rừng, nhất là những khu rừng “thiêng”.
Nhưng ngược lại cũng xảy ra trường hợp là : Mặc dù có sự quản lý của Nhà
nước, bằng nhiều quy định pháp lý nghiêm cấm việc khai thác tài nguyên
nhưng người dân vẫn tiến hành khai thác bằng nhiều hình thức khác nhau.
Qua ví dụ trên cho chúng ta thấy một điều là giữa các dân tộc có cách khai
thác, sử dụng nguồn tài nguyên rất khác nhau và cũng nói lên mối quan hệ
hữu cơ giữa cộng đồng các dân tộc đối với việc sử dụng tài nguyên.
1.1.2.3. Vai trò của kiến thức bản địa trong việc quản lý và sử dụng tài
nguyên thiên nhiên
- KTBĐ đã hỗ trợ cho công tác nghiên cứu khoa học, có một phần vai trò
trong các sáng kiến phát triển. Việc ứng dụng nó trong phát triển được xem là
giải pháp cho những vấn đề công nghệ. Người dân địa phương rất quen thuộc
với những thói quen và công nghệ của địa phương. Họ có thể hiểu, nắm bắt
và nhớ được kiến thức đó dễ hơn các kinh nghiệm và công nghệ hiện đại. Ví
dụ : người dân Eskimô đã đưa ra nhiều sáng kiến để buộc thẻ có ghi địa chỉ
vào lưng cá voi ở Bắc cực. Nhờ vậy mà các nhà khoa học giảm được nhiều
công sức trong việc kiểm soát số lượng và sự di chuyển của loại động vật này.



21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VÀ VIỆC
SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN ĐẤT, RỪNG Ở VIỆT NAM
1.2.1. Một số vấn đề chung về cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Cho đến nay việc lí giải nguồn gốc các dân tộc từ đâu đến, hình thành
như thế nào vẫn là một vấn đề phức tạp. Trong những thập niên gần đây, cùng
với những thành tựu của các ngành khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ, lịch
sử, nhân học, nhiều vấn đề đã được làm sang tỏ, nhưng ngược lại nhiều vấn
đề khác lại nảy sinh phức tạp hơn. Điều đáng chú ý là hầu hết các dân tộc ở
Việt Nam tuy rất đa dạng nhưng lại có chung một cội nguồn cùng sinh thành
trong một khu vực – lịch sử văn hóa. Tuy nhiên việc xác định các cuộc thiên
di và chuyển cư của từng tộc người, từng nhóm địa phương vô cùng phức tạp
và khó đoán định được niên đại [8; tr58 – 65].
Qua nghiên cứu của các nhà dân tộc học, khảo cổ học cho thấy: về lịch
sử hình thành của các dân tộc Việt Nam có 2 nguồn gốc: đó là nguồn gốc bản
địa và nguồn gốc di cư. Dân tộc bản địa là những cư dân đã ở Việt Nam, hay
ở một địa phương nào đó, trước các cư dân thuộc ngôn ngữ khác. Trong đó
tiêu biểu là các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường và Môn – Khơ
Me. Các công trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Khoa đã chứng minh cho
sức thuyết phục về loại hình nhân chủng nhóm Việt - Mường và nhóm Môn –
Khơ Me được hình thành tại chỗ. Hơn nữa, nhiều nhà khoa học khi nhiên cứu
vấn đề này đã thống nhất một điểm là: ngôn ngữ Việt – Mường có những mối
quan hệ cổ xưa với các ngôn ngữ Đông – Nam Á và Nam Đảo [8; tr 94 –
135].
Theo các tài liệu khảo cổ, sử học, dân tộc học, văn hóa dân gian thì vùng
Đông Bắc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngay từ thời kỳ đồ đá đã có con người cư
trú. Người Lạc Việt – tổ tiên của nhóm người cư dân Việt – Mường đầu thế

Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, những dân tộc có dân số đông,
có lịch sử định cư rõ ràng và liên tục thì thường thống nhất, ít chia thành các

23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

nhóm địa phương. Còn những dân tộc có lịch sử chuyển cư phức tạp, họ đến
Việt Nam bằng những con đường và những khoảng thời gian khác nhau, cho
dù dân số không nhiều nhưng cũng chia thành các nhóm địa phương với
những sắc thái văn hóa, có tính địa phương và tên gọi khác nhau.
Lịch sử hình thành cộng đồng các dân tộc Việt nam với những thang bậc
phát triển lịch sử khác nhau nên giữa các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế
- xã hội không đồng đều. Dân tộc có trình độ phát triển cao nhất và luôn là lực
lượng trụ cột trong mọi thời kỳ lịch sử đó là dân tộc Kinh. Các dân tộc thiểu
số, đa phần có xuất phát điểm thấp, cuộc sống quá phụ thuộc vào tự nhiên nên
trình độ phát triển kinh tế còn ở mức thấp, đời sống còn nhiều khó khăn [8; tr
134 – 140]. Trong giai đoạn hiện nay, việc quan tâm đầu tư cho vấn đề dân
tộc và miền núi là vô cùng cần thiết. Nếu được giải quyết một cách đúng đắn
và kịp thời thì sẽ là một trong những yếu tố quyết định của sự nghiệp đổi mới
đưa đất nước tiến lên, ngày một phát triển.
1.2.2. Thực trạng nguồn tài nguyên đất và rừng ở Việt Nam
1.2.2.1. Thực trạng tài nguyên đất ở Việt Nam
Đất là một bộ phận của môi trường bao quanh chúng ta, có
nguồn gốc phát sinh do sự tác động của khí quyển và của các sinh vật quần
đến thạch quyển trong suốt một khoảng thời gian nhất định. Sự hình thành đất
là kết quả tác động qua lại của các quá trình phân huỷ và thay đổi thành phần
của các chất ở trình độ phức tạp khác nhau, thực tế là của các quá trình tổ
chức lại thường xuyên của chúng. Các quá trình này là kết quả của sự trao đổi
hoặc hấp thụ năng lượng nhận được từ mặt trời cũng như từ các yếu tố khí
quyển, chủ yếu là khí quyển quyết định độ ẩm của đất.

thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, đất chua, nghèo.

25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Nhóm đất đỏ vàng được hình thành trong quá trình phong hoá nhiệt đới
tạo thành nhiều loại đất đỏ vàng khác nhau: Đất bazan phong hoá từ đá bazan,
đất đỏ vùng núi đá phong hoá từ đá vôi, đất đỏ vàng ở miền núi, trung du
phong hoá từ nhiều loại đá mẹ khác nhau. Nhóm đất đỏ vàng nhiệt đới là cơ
sở quan trọng để phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm và phát triển lâm
nghiệp, đặc biệt trên 2 triệu ha đất bazan phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên và
Đông Nam Bộ - cơ sở tốt cho việc phát triển, phân bố các cây công nghiệp
nhiệt đới có giá trị.
- Về tình hình sử dụng đất: hiện nay nước ta chia ra 5 loại đất theo mục
đích sử dụng, đó là: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở
và đất chưa sử dụng.
Bảng 1.1. Cơ cấu sử dụng đất năm 2008 phân theo vùng

Tổng
diện
tích
đất tự
nhiên
(%)
Đất
sản
xuất
nông
nghiệp
(%)

21,1
Trung du và miền núi Bắc Bộ
100
14,9
54,2
2,7
1,1
27,4
Bắc Trung Bộ và DHMT
100
18,3
52,9
4,7
1,8
22,3
Tây Nguyên
100
29,8
57,1
2,6
0,8
9,7
Đông Nam Bộ
100
52,9
28,3
8,0
2,6
8,2
Đồng bằng sông Cửu Long


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status