BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG XUÂN BÍNH
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SIÊU NHẬN THỨC
NHẰM BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC PHÁT HIỆN
VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC KHÔNG GIAN
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và Phƣơng pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 9.14.01.11
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2019
Công trình đƣợc hoàn thành tại: TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. TRẦN LUẬN
2. TS. NGUYỄN THỊ CHÂU GIANG
Phản biện 1. GS.TS BÙI VĂN NGHỊ
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phản biện 2. PSG. TS VŨ DƢƠNG THỤY
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Siêu nhận thức (metacognition) ho c tư duy về tư duy (thinking about
thinking) được giải th ch là năng lực kiểm soát quá tr nh suy nghĩ của cá nhân, đ c
biệt là nhận thức về việc lựa chọn và s dụng các chiến lược giải toán. SNT là tự
phân t ch quá tr nh suy nghĩ của một người nào đó trong khi GQVĐ. R n luyện kĩ
năng SNT (metacognitive skills) cho HS trong quá tr nh dạy học Toán ở trường phổ
thông là một xu hướng DH mới đang được chú trọng trên thế giới hiện nay. Việc r n
luyện kĩ năng SNT cho HS nhằm giúp HS hiểu được quá tr nh suy nghĩ của bản thân
trong quá trình giải bài toán và ý nghĩa của bài toán mang lại, từ đó tạo cho các em
niềm say mê hứng thú học tập.
1.3. Tính cấp bách của đề tài
Ở nước ta, trong chương tr nh giảng dạy môn Toán chưa đề cập một cách
tường minh về kĩ năng SNT, m c dù đã có một số tài liệu về PPDH đề cập đến vấn đề
này. Ở một góc độ nào đó và một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến cách thức
điều khiển quá trình học tập, tiếp thu nhận thức của HS theo hướng phát huy tính
sáng tạo. DH SNT thực sự là một xu hướng DH mới của thế giới. Vì vậy, chúng tôi
mong muốn tập trung nghiên cứu để làm rõ vai trò của SNT trong trong học tập, các
kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ và các biện pháp nhằm
rèn luyện các kĩ năng SNT ấy. Ngoài ra, chúng tôi cũng mong muốn làm rõ những ưu
điểm của việc rèn luyện các kĩ năng SNT, từ đó xác định và đề xuất các biện pháp r n
luyện kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ trong DH Toán ở
trường THPT.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Rèn
luyện kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho
học sinh trong dạy học HHKG ở trường THPT’’.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đ ch nghiên cứu của luận án là xác định các kĩ năng SNT, ý nghĩa và vai trò
của các kĩ năng SNT. Từ đó, đề xuất các biện pháp rèn luyện các kĩ năng SNT nhằm bồi
dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ cho HS trong DH HHKG ở trường THPT.
tích và tổng hợp các quan điểm triết học, tâm lý học, giáo dục học về DH tích cực, về
tư duy, về năng lực, về nhận thức, về SNT. Từ đó, có cơ sở lý luận cho việc đánh giá
kết quả điều tra, nghiên cứu, vận dụng vào việc dạy và học môn Toán.
- Tài liệu nghiên cứu: Các văn kiện của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, tài liệu triết học, tâm lý học, lý luận và PPDH bộ môn Toán, các bài báo và tạp
chí có liên quan.
6.2. Phương pháp quan sát và điều tra
- Mục đ ch: Quan sát điều tra đối với HS THPT, GV THPT về thái độ tích cực
học tập, các phương pháp DH giúp HS tích cực, sáng tạo, về thực tế s dụng các kĩ
năng SNT trong dạy và học.
3
- Cách thức: Tiến hành dự giờ quan sát GV dạy, HS học tập; S dụng bảng hỏi,
thảo luận với các nhà sư phạm, với từng nhóm GV, nhóm HS về thái độ, động cơ dạy
và học, về các PPDH tích cực, về phát triển tư duy và SNT. S dụng các phương
pháp định t nh và định lượng trong nghiên cứu. Kết quả điều tra, khảo sát sẽ được
tổng kết và phân tích cụ thể.
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Mục đ ch: Kiểm định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp sư phạm
nhằm rèn luyện kĩ năng SNT cho HS trong DH HHKG ở trường THPT.
- Cách thức: Tập huấn cho GV; dạy mẫu, dạy th nghiệm để so sánh kết quả
giữa nhóm TN và nhóm ĐC.
7. Những đóng góp của luận án
Các kết quả nghiên cứu của đề tài hướng tới những đóng góp sau đây:
7.1.Về mặt lý luận
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của SNT.
- Nghiên cứu một cách có hệ thống, xác định được luận cứ khoa học về việc
h nh thành và phát triển kĩ năng SNT cho HS trong DH HHKG ở trường THPT.
- Hệ thống và phân tích các quan niệm, mô hình khác nhau trên thế giới về SNT.
1.1.2.1. Phát hiện vấn đề
1.1.2.2. Giải quyết vấn đề
1.1.3. Mối liên hệ giữa tư duy và giải quyết vấn đề
1.1.4. Vai trò của hoạt động phát hiện và giải quyết vấn đề trong môn Toán
1.2. Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong Toán học
1.2.1. Năng lực
1.2.2. Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
1.2.3. Phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học Hình
học không gian ở trường trung học phổ thông
1.3. Tổng quan lịch sử nghiên cứu về siêu nhận thức
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.3.1.1. SNT là gì?
Khái niệm siêu nhận thức được đưa ra lần đầu vào năm 1976 bởi nhà tâm lý
học người Mỹ J.H.Flavell. Theo ông, siêu nhận thức là: Sự hiểu biết của cá nhân
liên quan đến quá trình nhận thức của bản thân, các sản phẩm và những yếu tố khác
có liên quan trong đó còn đề cập đến việc theo dõi tích cực, điều chỉnh kết quả và sắp
xếp các quá trình này để luôn hướng tới mục tiêu đặt ra [94].
1.3.1.2. Nguồn gốc của khái niệm SNT
Khái niệm Siêu nhận thức bắt đầu được s dụng từ những nghiên cứu của
Flavell từ năm 1976, tuy nhiên trước đó, đã có một số nghiên cứu về những khía cạnh
khác nhau của SNT, chẳng hạn như:
Nhà tâm lý học Xô viết L.X. Vưgôtxki (1896 - 1934) [80] dù không đề cập đến
khái niệm SNT nhưng các nghiên cứu của ông đã hướng tới việc giúp HS GQVĐ,
cách x lý khi đứng trước một tình huống mới. Thuyết văn hóa xã hội của L.X.
Vưgôtski cho rằng sự tương tác xã hội làm cho tư duy và hành vi con người thay đổi
một cách liên tục. Sự thay đổi đó tùy thuộc vào hoàn cảnh văn hóa, lịch s xác định.
Hoàn cảnh văn hóa xã hội cung cấp các công cụ tư duy để con người hình thành quan
niệm riêng về thế giới. Thành phần quan trọng trong tâm lý học văn hóa xã hội là
khái niệm vùng phát triển gần . Đó là khoảng nằm giữa tr nh độ phát triển hiện tại
và tr nh độ phát triển có thể đạt được. Tr nh độ phát triển hiện tại được xác định bằng
Sự điều chỉnh nhận thức
Đ c điểm:
+ Có thể nói
+ Ổn định
+ Có thể sai lầm
+ Phụ thuộc vào độ tuổi
Đ c điểm:
+ Không thường được
nói ra
+ Không ổn định
+ Phụ thuộc vào nhiệm
vụ và t nh huống
Sơ đồ 1.2. Mô hình siêu nhận thức của Ann.Brown [88]
c. Mô hình của Tobias & Everson
Sơ đồ 1.3. Mô hình phân cấp quá trình siêu nhận thức
của Tobias và Everson [127]
6
1.3.1.4. Một số nghiên cứu về siêu nhận thức trong giáo dục
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Phải nói rằng nghiên cứu sâu về SNT ở Việt Nam là chưa nhiều. Trước tiên, là
khái niệm "Siêu nhận thức chưa được đề cập rõ mà chỉ mang tính giới thiệu dưới các
các thuật ngữ như tự nhận thức hay tư duy về tư duy trong Giáo tr nh tâm lý học
7
1.4.3. Sự khác nhau giữa nhận thức và siêu nhận thức
Tóm lại, từ những nghiên cứu Sơ đồ 1.5 về mô hình siêu nhận thức và nhận
thức, từ phân t ch hành động của P.Ia. Galperin và khung nhận thức - SNT của Artzt
và Armour - Thomas có thể thấy sự khác nhau giữa nhận thức và SNT thể hiện rõ nét
ở những điểm sau đây:
- Về đối tượng: Đối tượng của nhận thức là thế giới vật chất xung quanh và
những h nh ảnh trong đầu còn đối tượng của SNT ch nh là quá tr nh nhận thức.
- Về sản phẩm: Quá tr nh nhận thức thường đi đến những sản phẩm nhất định
như lời giải của bài toán, khái niệm, t nh chất… trong khi đó quá tr nh SNT không đi
đến sản phẩm cụ thể mà chỉ có tác động cải tiến/ cải thiện quá tr nh nhận thức.
- Về quá tr nh: Trong quá tr nh giải quyết một vấn đề nào đó (quá tr nh nhận
thức) thường k m theo các hoạt động SNT song hành, các hoạt động này không trực
tiếp giải quyết vấn đề trên mà có chức năng giám sát, điều chỉnh HĐ giải quyết vấn đề.
1.4.4. Thành phần, đặc điểm và chức năng của siêu nhận thức
1.4.4.1. Thành phần của SNT
Tóm lại, qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng SNT có ba thành phần ch nh đó là:
+ Lập kế hoạch
+ Theo dõi, điều chỉnh quá tr nh GQVĐ
+ Đánh giá quá tr nh GQVĐ (Đánh giá kết quả và đánh giá quá tr nh dẫn đến
kết quả đó).
1.4.4.2. Đặc điểm của siêu nhận thức
Đ c điểm của SNT là:
- Nhận thức về quá tr nh tư duy của bản thân.
- Theo dõi t ch cực và chủ động quá tr nh nhận thức trong mối quan hệ với các
nhiệm vụ học tập.
- Người học tự t m tòi phương pháp GQVĐ.
- Giám sát và điều chỉnh quá tr nh nhận thức của bản thân.
- Cách thức nhận thức về chiến lược tư duy của một người trong tiến trình phản
ánh các sự vật hiện tượng;
- Từ cách hiểu trên th đối tượng của HĐ SNT trong DH môn Toán là cách
thức nhận thức về chiến lược tư duy của chủ thể trong tiến tr nh lĩnh hội tri thức Toán
học;
- Với cách hiểu trên th HĐ SNT cần phải làm bộc lộ đối tượng SNT nói trên
bao gồm:
+ Đánh giá được tiến tr nh tư duy phù hợp với quy luật;
+ Đánh giá được tiến trình nhận thức theo một lôgic khoa học: Lựa chọn đúng
các tiền đề và giải quyết đúng đắn các vấn đề;
+ HĐ giám sát, điều chỉnh quá trình nhận thức;
+ Phản biện được các con đường nhận thức (cách thức tư duy).
1.4.5. Vai trò của siêu nhận thức trong học môn Toán
1.5. Rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức theo hƣớng bồi dƣỡng năng lực phát
hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học Hình học không gian ở
trƣờng trung học phổ thông
1.5.1. Kĩ năng
1.5.2. Một số kĩ năng siêu nhận thức có ảnh hưởng mạnh/rõ đến năng lực
phát hiện và giải quyết vấn đề trong học Hình học không gian ở trường trung học
phổ thông
1.5.2.1. Kĩ năng lập kế hoạch
Kĩ năng lập kế hoạch có các kĩ năng thành phần sau đây:
9
a. Kĩ năng định hướng
b. Kĩ năng xác định mục tiêu
c. Kĩ năng lựa chọn chiến lược GQVĐ
d. Kĩ năng lựa chọn tri thức phương pháp
e. Kĩ năng lựa chọn KT tiền đề để GQVĐ
sau đây:
- Hoạt động tìm hiểu vấn đề;
- Hoạt động liên tưởng nhằm huy động kiến thức;
- Hoạt động phát hiện và s a chữa sai lầm;
10
- Hoạt động so sánh, đánh giá;
- Hoạt động toán học hóa các tình huống thực tiễn;
- Hoạt động sáng tạo, tìm kiếm giải pháp khác;
- Hoạt động biến đổi ngôn ngữ;
- Hoạt động biến đổi đối tượng;
- Hoạt động quy lạ về quen.
1.5.5. Các biểu hiện của học sinh có kĩ năng siêu nhận thức
SNT là một HĐ rất khó đo lường, nhận biết. Để phát hiện ra HĐ này, người ta
thường s dụng hai hình thức: quan sát và phỏng vấn. Quan sát các đối tượng nghiên
cứu trong một hoàn cảnh cụ thể để xem các phản ứng. Tuy nhiên, việc này không thể
chỉ ra một cách rõ ràng các HĐ SNT bởi quan sát chỉ thấy được những biểu hiện ra
bên ngoài mà không thấy được quá tr nh suy nghĩ của đối tượng. Phỏng vấn làm rõ
hơn quá tr nh suy nghĩ để cho ra kết quả của đối tượng được nghiên cứu, tuy nhiên
phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người được phỏng vấn bởi họ có thể thay đổi
những suy nghĩ đang, đã diễn ra trong đầu mình cho phù hợp với ý muốn của mình
mà người phỏng vấn không biết được.
HS có kĩ năng SNT được biểu hiện qua các cấp độ sau:
Biểu hiện 1: Về nhận biết vấn đề
Biểu hiện 2: Về hiểu biết vấn đề
Biểu hiện 3: Về theo dõi và điều chỉnh
Biểu hiện 4: Về tự đánh giá
Biểu hiện 5: Về hiểu biết về bản thân
1.6. Thực trạng rèn luyện các kĩ năng siêu nhận thức cho học sinh trung
Qua khảo sát thực tiễn: với các phương pháp nêu trên có thể nhận định tóm tắt
về thực trạng về việc r n luyện kĩ năng SNT cho HS THPT nhằm bồi dưỡng năng lực
phát hiện và GQVĐ trong DH HHKG ở trường THPT ở Việt Nam hiện nay như sau:
Hầu hết các nhà quản lý, các GV và HS chưa có sự hiểu biết về các kĩ năng SNT. Do
đó, việc r n luyện kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ cho
HS trong DH HHKG là chưa có trong các trường THPT hiện nay. Về vấn đề này,
thực tế hiện nay, GV ở các trường THPT mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn cho HS
giải một bài toán với nhiều cách giải khác nhau và kiểm tra lại lời giải sau khi HS giải
xong bài toán.
1.6.2. Phân tích nguyên nhân của thực trạng
1.7. Kết luận chƣơng 1
Trong chương 1 của luân án chúng tôi đã nghiên cứu được những vấn đề sau đây:
- T nh h nh nghiên cứu về SNT ngoài nước và trong nước.
- Nghiên cứu các mô h nh khác nhau về SNT.
- Xác định được thành phần, đ c điểm và chức năng của SNT.
- Xác định được đối tượng của HĐ SNT
- Phân biệt được giữa nhận thức và SNT.
-Nghiên cứu về vai trò của SNT trong việc dạy và học.
- Đưa ra được cơ sở lý luận về các kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát
hiện và GQVĐ.
- Đưa ra được mối quan hệ giữa kĩ năng SNT và năng lực phát hiện và GQVĐ.
- Đưa ra được các HĐ tương th ch để r n luyện kĩ năng SNT
- Đưa ra được những biểu hiện của HS có kĩ năng SNT.
- Khảo sát thực trạng về việc r n luyện kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực
phát hiện và GQVĐ cho HS trong DH HHKG ở trường THPT hiện nay.
12
Chƣơng 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN CÁC KĨ NĂNG SIÊU NHẬN THỨC
bốn bƣớc của G. Polya khi tiếp cận tìm tòi lời giải các bài toán
Nhóm biện pháp này được thực hiện thông qua các biện pháp cụ thể sau:
13
2.3.1. Biện pháp 1: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc hiểu vấn đề trong
các tình huống dạy học Hình học không gian và vẽ hình đúng làm điểm tựa trực
quan khi cần thiết.
Mục đích và ý nghĩa của biện pháp
Để giải quyết được vấn đề, HS phải hiểu được vấn đề m nh đang phải giải
quyết. Do đó, mục đ ch và ý nghĩa của biện pháp này nhằm giúp HS biết:
+ Những g đã cho, những gì phải tìm?
+ Các tri thức liên quan đến vấn đề là gì?
+ Liệu có thể tách vấn đề thành các vấn đề nhỏ để giải quyết được hay không?
+ Những mâu thuẫn khó khăn cần khắc phục?
+ Đây là vấn đề khái quát của vấn đề nào?
+ Trong lĩnh vực này, có thể dựa vào hình vẽ và hình biểu diễn để trực quan
cho việc tìm hiểu vấn đề được hay không?
Cơ sở khoa học của biện pháp
Biện pháp này đề ra dựa trên các cơ sở khoa học sau:
+ Một tình huống được gọi là có vấn đề nếu nó chứa đựng những khó khăn,
mâu thuẫn, chướng ngại;
+ Theo triết học duy vật biện chứng, việc giải quyết một mâu thuẫn đó là nguồn
gốc của sự phát triển, của việc tìm tòi phát hiện tri thức mới. Nói như vậy có nghĩa là
việc hiểu vấn đề là xác định các khó khăn, các mâu thuẫn trong tình huống đã cho khi
DH HHKG.
+ Quá tr nh tư duy chỉ xuất hiện khi chủ thể HS đứng trước một vấn đề, một
nhiệm vụ nhận thức;
+ Để rèn luyện kĩ năng SNT, trước hết cần phải đánh giá được khả năng phát
hiện các mâu thuẫn của HS, đó là động lực chủ yếu của HĐ SNT.
Mục đích và ý nghĩa của biện pháp
Thực hiện biện pháp này sẽ góp phần phát triển tư duy bậc cao, thông qua việc
duyệt lại các bước lập luận và việc thực hiện các chức năng của tư duy logic, chúng
được cụ thể hóa trong tiến tr nh GQVĐ. Ngoài việc đánh giá kĩ năng tư duy bậc cao
nói trên, việc thực hiện biện pháp này còn có ý nghĩa tự phát triển năng lực tự đánh
giá của HS.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của biện pháp
Trong thực tế, khi HS GQVĐ nói chung và giải toán nói riêng thường mò mẫm
t m tòi hướng giải, do đó việc giải sai hay giải đúng cũng là lẽ b nh thường. Song KT,
kinh nghiệm thu được sau lời giải cũng như hiểu rõ được quá tr nh suy nghĩ để dẫn
đến kết quả đó mới là điều quan trọng. G. Polya cho rằng, nhìn lại cách giải được lợi:
Anh có thể tìm thấy một cách giải khác tốt hơn, phát hiện ra những sự kiện mới và
bổ ích. Trong mọi trường hợp, nếu anh có thói quen xem lại kỹ càng các cách giải,
anh sẽ thu được kiến thức rất có hệ thống và sẵn sàng để đem ứng dụng, và anh sẽ
phát triển được khả năng giải toán của mình [50, tr.53]
Việc duyệt lại các bước lập luận trong GQVĐ là cơ sở của HĐ chứng minh. Do
các quy tắc suy luận trong Toán học là các quy tắc suy diễn, chúng thực hiện được
theo quy tắc hằng đúng, chỉ cần một bước suy luận sai là kết quả cũng sai.
Cách thức thực hiện biện pháp
Cách luyện tập cho HS tự đánh giá theo tiến tr nh sau đây:
a) Đánh giá cách lựa chọn tiền đề, lựa chọn công cụ để GQVĐ. Thực hiện bước
này do đòi hỏi của chức năng tư duy logic trong dạy học Toán. Tiền đề trong một
15
chứng minh Toán học bao gồm các mệnh đề được chứng minh đúng đắn, các quy tắc
đã biết, các khái niệm Toán học đúng đắn;
b) Rèn luyện kĩ năng tự đánh giá các bước lập luận bao gồm: lựa chọn quy tắc
s dụng có đúng không, huy động KT có đúng không, tự đánh giá kết quả của từng
bước có đúng không;
chứng minh. V lý do nêu trên, các suy luận bằng tương tự hóa, khai quát hóa đều
thuộc phạm trù suy luận quy nạp.
16
HĐ nhận thức mà thành phần cốt lõi của nó là HĐ tư duy chỉ nảy sinh khi chủ
thể nhận thức đứng trước một t nh huống có vấn đề, một nhiệm vụ nhận thức. V vậy,
việc tạo t nh huống tạo động cơ cho HĐ phát hiện vấn đề là cần thiết trong quá tr nh
tổ chức HĐ DH.
Cách thức thực hiện biện pháp
GV thiết kế các t nh huống có dụng ý bồi dưỡng các kĩ năng tư duy, để HS thực
hành kiểm soát các kĩ năng SNT thông qua việc tổ chức DH. Để đảm bảo HĐ tư duy
đi từ ngoài vào trong cần tiến hành phối hợp DH hợp tác với DH phát hiện và
GQVĐ. Thông qua việc tổ chức theo nhóm ở lớp ho c tổ chức tự học theo nhóm ở
nhà tùy theo mức độ khó khăn của nội dung cần dạy.
2.3.5. Biện pháp 5: Tạo các tình huống và tổ chức dạy học nhằm để học sinh
luyện tập và kiểm soát các thao tác tư duy trong hoạt động Toán học hóa các tình
huống thực tiễn
Mục đích và ý nghĩa của biện pháp:
Mục đ ch của biện pháp này nhằm giúp HS luyện tập và kiểm soát các thao tác
tư duy trong HĐ Toán học hóa các t nh huống. Ngoài ra, còn làm rõ thêm vai trò
quan trọng của việc r n luyện cho HS kĩ năng vận dụng KT Toán học để giải quyết
một số bài toán có nội dung thực tiễn.
Cơ sở khoa học của biện pháp:
Toán học có liên hệ mật thiết với thực tiễn và có ứng dụng rộng rãi trong rất
nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, công nghệ cũng như trong sản xuất và đời
sống. Với vai trò đ c biệt, Toán học trở nên thiết yếu đối với mọi ngành khoa học,
góp phần làm cho đời sống xã hội ngày càng hiện đại và văn minh hơn. Bởi vậy, việc
r n luyện cho HS năng lực vận dụng KT Toán học vào thực tiễn là điều cần thiết đối
với sự phát triển của xã hội và phù hợp với mục tiêu của giáo dục Toán học. Với vị tr
GQVĐ, kiểm định giả thuyết th cần phải s dụng tư duy logic. Tư duy logic đ c
trưng bởi các khả năng sau:
- Lựa chọn đúng đắn các tiền đề và rút ra hệ quả logic từ các tiền đề đã chọn;
- Khả năng dự đoán bằng con đường lý thuyết;
- Khả năng tách vấn đề thành các trường hợp riêng một cách triệt để;
- Khả năng mở rộng và khái quát các kết quả nhận được.
Cách thức thực hiện biện pháp:
Đứng trước một t nh huống có vấn đề cần tổ chức cho HS HĐ theo nhóm
hướng vào việc luyện tập, kiểm soát các kĩ năng.
- Rút ra các hệ quả logic từ các tiền đề thông qua thực hiện các bước lập luận,
luyện tập.
- Kĩ năng phân chia các trường hợp riêng một cách triệt để.
- Kĩ năng phát triển mở rộng các kết quả.
- Có thể mô tả thông qua việc giải quyết t nh huống có vấn đề sau.
2.4. Kết luận chƣơng 2
Chương 2 của luận án đã nghiên cứu được các vấn đề sau đây:
- Đưa ra được tổng quan về chương tr nh toán THPT;
- Đưa ra được các định hướng cho việc xây dựng các biện pháp sư phạm;
- Xây dựng được các biện pháp sư phạm phù hợp và khả thi để rèn luyện các kĩ
năng SNT;
- Xây dựng được hệ thống bài tập đa dạng, phong phú, phù hợp với các biện
pháp đưa ra và th ch hợp với từng đối tượng HS THPT trên các miền, vùng khác
nhau trên toàn quốc.
18
Chƣơng 3
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung thực nghiệm sƣ phạm
3.1.1. Mục đích
có tr nh độ đại học và thạc sĩ có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy.
3.2.3. Quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm
3.2.4. Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
19
3.3. Tiến trình thực nghiệm sƣ phạm
3.3.1. Thực nghiệm sư phạm vòng 1
a) Phân tích chất lượng HS trước khi tiến hành TN sư phạm (vòng 1)
b) Nội dung TN sư phạm vòng 1
c) Kết quả TN sư phạm vòng 1
Về định tính:
Về định lượng:
3.3.2. Thực nghiệm sư phạm vòng 2
a) Phân tích chất lượng HS trước khi tiến hành TN sư phạm (vòng 2)
b) Nội dung TN sư phạm vòng 2
c) Kết quả TN sư phạm vòng 2
Về định tính:
Tiến hành quan sát tất cả các tiết học TN sư phạm của lớp TN và ĐC, thông
qua quan sát, ghi chép các HĐ ch nh của GV và HS, trao đổi với GV sau mỗi tiết dạy
để rút kinh nghiệm và quan sát, trao đổi và phỏng vấn HS để kiểm tra sự hứng thú,
khả năng tiếp thu bài và chuyển biến của HS sau mỗi bài giảng được thực hiện theo
các biện pháp đã đề xuất trong luận án, chúng tôi nhận thấy như sau:
• Đối với GV:
Trước khi tiến hành TN, chúng tôi đã trao đổi, phỏng vấn GV về việc r n luyện
kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và GQVĐ cho HS và trao đổi với
GV về kiến thức SNT, kĩ năng SNT và biện pháp r n luyện các kĩ năng này cũng như
các tài liệu liên quan đến TN, sau đó nhờ GV biên soạn giáo án và thực hiện giáo án
TN và cho ý kiến nhận xét về quá tr nh TN. Đa số GV đề cho nhận xét qua quá tr nh
TN, các tiến tr nh DH được soạn thảo phù hợp với thực tế DH. HS lớp TN tiếp thu
cho HS tiếp thu bài một cách t ch cực, tự giác và chủ động hơn nhiều so với lớp
không được r n luyện kĩ năng SNT. Khả năng phát hiện vấn đề của các em HS được
cải thiện đáng kể, từ đó giúp cho việc giải quyết bài toán được nhanh hơn.
Về định lƣợng:
Cũng như TN sư phạm vòng 1, chúng tôi tiến hành cho HS làm bài kiểm tra 45
phút (có phụ lục k m theo) để đánh giá chất lượng học tập của 2 lớp, kết quả như sau:
Bảng 3.5. Bảng phân phối tần số điểm (X) của lớp TN và ĐC
sau TN sƣ phạm vòng 2
X
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10 Tổng số HS
ni (TN) 0
2
5
17 28 31 30 23 17
8
161
ni (ĐC) 5
7
13 20 30 30 28 13 12
3
161
30
23
17
8
n1 161
ĐC 5 7 13
20
30
30
28
13
12
3
n2 161
TN 0 2
1627
773,87
TN2
-2852,5
2852,5
835,29
2,16 > 1,97 Bác bỏ H0
3,415 >
Bác bỏ H0
1,97
Kết quả tính toán từ Bảng 3.7 và Bảng 3.8 cho thấy các giá trị kiểm định đều
bác bỏ giả thiết H0, một lần nữa khẳng định về có sự khác nhau về điểm số giữa lớp
TN và lớp ĐC. Điều này chứng tỏ sau khi được rèn luyện kĩ năng SNT th HS lớp
TN có kết quả học môn Toán cao hơn HS lớp ĐC.
Tóm lại, với việc s dụng các phương pháp kiểm định giữa các lớp có học lực
tương đương, kết quả chỉ ra sự hiệu quả của phương pháp TN và phương pháp này có
tính ổn định với các lớp TN khác nhau, ở các thời điểm khác nhau.
3.4. Kết luận chƣơng 3
TN sư phạm diễn ra trong thời gian dài và đối với nhiều HS trên nhiều vùng
miền khác nhau trên toàn quốc.
TN sư phạm đã kiểm chứng được các vấn đề cụ thể sau đây:
Việc xác định và xây dựng một số kĩ năng SNT nói trên là phù hợp giữa lý
và GQVĐ cho HS.
- Nghiên cứu một cách có hệ thống, xác định được luận cứ khoa học về việc
hình thành và phát triển một số kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng năng lực phát hiện và
GQVĐ cho HS trong DH HHKG ở trường THPT.
- Nghiên cứu có cơ sở khoa học về mối quan hệ giữa kĩ năng SNT và năng lực
phát hiện và GQVĐ.
- Đưa ra một số HĐ tương th ch để rèn luyện kĩ năng SNT đồng thời bồi dưỡng
được năng lực phát hiện và GQVĐ.
- Xây dựng một số biện pháp sư phạm rèn luyện kĩ năng SNT phù hợp, hiệu
quả và khả thi.
2. Về mặt thực tiễn
Góp phần đổi mới việc DH Toán theo hướng phát triển năng lực SNT của
người học.
Xác định và đề xuất các biện pháp rèn luyện các kĩ năng SNT nhằm bồi dưỡng
năng lực phát hiện và GQVĐ cho HS trong DH HHKG ở trường THPT.
TN sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã
đề xuất.
Việc rèn luyện kĩ năng SNT cho HS là cần thiết để giúp HS phát triển năng lực
phát hiện và GQVĐ của họ.
Chính vì vậy, việc DH tăng cường rèn luyện kĩ năng SNT cho HS hoàn toàn có
thể triển khai rộng trên cả nước sau năm 2019.