PHáT TRIểN NĂNG LựC Kĩ THUậT
CHO HọC SINH TRONG DạY NGHề SửA CHữA XE MáY TạI
TRUNG TÂM GIáO DụC THƯờNG XUYÊN Và HƯớNG NGHIệP
HUYệN Vũ THƯ, TỉNH THáI BìNH
Chuyờn ngnh !"#$%&'()&*"#+#+',
Mó s: /0120111
3456
Ngi hng dn khoa hc:
PGS.TS NGUYN TRNG KHANH
78019
Li cỏm n
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trung tâm Thông tin - Thư viện và
các Thầy, Cô ở khoa Sư phạm kĩ thuật - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã
quan tâm, tạo điều kiện để tác giả học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận
văn của mình.
Đặc biệt, tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS. Nguyễn Trọng
Khanh đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành bản luận văn này.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các Thầy, Cô ở
Trung tâm GDTX-HN huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã quan tâm, tạo điều
kiện, góp ý cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài.
Toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm giúp đỡ, động viên
tác giả !
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
Tác giả
:#++;*<#
thông nêu lên một cách ngắn gọn những tri thức, kĩ năng cơ bản của dạy
nghề, có chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng và thực hành tổng hợp gắn với sản
phẩm cụ thể theo chương trình quy định cho trường trung học cơ sở và trung
học phổ thông.
4
Thực tiễn việc dạy nghề sửa chữa xe máy trong chương trình dạy nghề
phổ thông tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên – Hướng nghiệp (GDTX –
HN) huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình cho thấy, đa số giáo viên chỉ quan tâm tới
truyền thụ kiến thức mà ít chú trọng đến việc phát triển năng lực cho người
học, trong đó có năng lực kĩ thuật (NLKT). Do đó việc hình thành và phát
triển NLKT trong dạy nghề sửa chữa xe máy còn rất nhiều hạn chế, dẫn đến
chất lưọng đào tạo chưa cao. Với đặc thù môn học, ngoài tìm hiểu cấu tạo,
nguyên lí làm việc, điều quan trọng nhất đối với nghề sửa chữa xe máy là
chăm sóc, bảo dưỡng, vận hành, phát hiện hỏng hóc, tìm hiểu nguyên nhân và
thực hiện sửa chữa được các hỏng hóc đó. Có thể coi các hỏng hóc của xe
máy như là các vấn đề, bài toán cần tìm lời giải nên để phát triển năng lực kĩ
thuật cho học sinh trong dạy nghề sửa chữa xe máy thì cần chú trọng hơn đến
phần hướng dẫn các em giải quyết các vấn đề, bài toán đó.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Phát triển năng lực kĩ thuật
cho học sinh trong dạy nghề sửa chữa xe máy tại Trung tâm GDTX-HN
huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình” với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng
dạy nghề phổ thông nói chung và dạy nghề sửa chữa xe máy tại Trung tâm
GDTX- HN huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình nói riêng.
CFGH3
Nghiên cứu đề xuất biện pháp phát triển NLKT cho học sinh khối lớp 8
trong dạy học nghề sửa chữa xe máy tại Trung tâm GDTX- HN huyện Vũ
Thư, tỉnh Thái Bình nhằm giúp học sinh rèn luyện khả năng giải quyết các
vấn đề thực tế của nghề.
C$IJKLJGH3
1C$'M*'&'N#+',O#*P(
CGH3
1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: gồm các phương pháp phân tích,
tổng hợp, khái quát hoá, tổng kết kinh nghiệm
2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: gồm các phương pháp khảo
sát, điều tra thực tiễn, phương pháp chuyên gia.
CY3Z345
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận văn được cấu trúc gồm 3 chương:
Chương I. Cơ sở lí luận và thực tiễn của của việc phát triển năng lực kĩ
thuật cho học sinh học nghề sửa chữa xe máy.
Chương II. Phát triển năng lực kĩ thuật cho học sinh trong dạy nghề sửa
chữa xe máy.
Chương III. Kiểm nghiệm và đánh giá.
7
AF34[\
]=XI5[$634
E^=_=`aW
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC KĨ THUẬT
1C1C1Cb#+c(d#&e#''e#'#+',O#*P(f#g#+hi*j%&'()&k#Rl*#+:,
Người học nói chung và hoạt động học nói riêng là đối tượng nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học. Năng lực của người học là một trong những
đối tượng nghiên cứu chính của tâm lí học, sinh lí học, giáo dục học và lí luận
dạy học. Nghiên cứu năng lực cá nhân của người học là điều không thể thiếu
trong việc hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động và
năng lực giải quyết vấn đề.
Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực của người
học đã và đang là vấn đề thời sự của nhiều quốc gia trên thế giới. Nghiên cứa
của Boyatzis (1995) và các đồng sự về thực trạng giáo dục và đào tạo trên thế
giới và đã chỉ ra những tồn tại: (1) quá nặng về phân tích, không định hướng
Thuật ngữ NLKT được xuất hiện và được nghiên cứu từ những năm
đầu thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và tâm lí học lao
động. Trên thực tế cho thấy: Khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển theo
dòng thời gian, đồng thời những tri thức ấy cũng dần dần được đưa vào giảng
dạy trong nhà trường thì kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, tư duy, năng lực
của người học cũng được biến đổi theo. Như vậy nội dung của NLKT cũng
biến đổi theo và ngày càng được mở rộng và phát triển. Chính vì vậy, việc
nghiên cứu về NLKT là vấn đề còn đang tiếp diễn.
9
Trong các công trình nghiên cứu của tâm lí học về NLKT thì cấu trúc
của NLKT được tập trung nghiên cứu nhiều, trở thành vấn đề trung tâm. Theo
các nhà tâm lí học thì cấu trúc của NLKT gồm các yếu tố sau: Sự khéo tay, kĩ
năng thủ công (Theo X.M Vaxilayxki); tư duy không gian và tư duy thao tác
(theo L.X Iakimanxkaia); biểu tượng không gian, tưởng tượng hứng thú, hứng
thú kĩ thuật (theo PM Iacôpson); tư duy không gian (theo B.P Lomôp, T.V
Cudriasep, N.P Lincova); trí thông minh, khả năng đánh giá, năng lực tính
toán, vận dụng ngôn ngữ (theo Siphenbơc hay Thơctơn); cảm giác cơ, thời
gian phản ứng, nhạy cảm xúc giác, chú ý, óc quan sát. Người ta thường dùng
phương pháp phân tích yếu tố để hiểu biết cấu trúc của NLKT. Từ năm 1928,
J.M.Cox đã tách ra một số yếu tố trong cấu trúc của NLKT là yếu tố (m). Đó
là khả năng hiểu và sử dụng các nguyên tắc và mối quan hệ cơ khí. Năm
1953, E.Koussy đã chứng minh sự có mặt của yếu tố không gian (k) và xác
định đó là yếu tố quan trọng nhất trong cấu trúc của NLKT. Cũng vào năm
này, W.P.Alexander đã tách ra yếu tố gọi là trí thông minh thực hành (f), ông
đã đối lập (f) với ngôn ngữ trừu tượng. NLKT còn gắn với tư duy hình thức,
nhưng yếu tố chỉ có sự hiểu biết thuần tuý dưới dạng lý thuyết, ngôn ngữ và
kiến thức kĩ thuật mà không gắn nó với thực tế thì cũng không giải quyết
được những vấn đề nảy sinh về kĩ thuật khi gặp phải. Trong một số tài liệu,
khi phân nhóm các yếu tố trong NLKT, các nhà tâm lí học Liên Xô đã xác
định NLKT gồm ba yếu tố: Yếu tố chủ đạo là TDKT và tưởng tượng kỹ thuật;
chưa nhiều hơn; các tố chất về sinh lí và tâm lí và tư duy còn đang phát triển
thì chắc chắn biện pháp phát triển tư duy cho học sinh sẽ cũng có những điểm
khác biệt, đặc thù so với các đối tượng khác như sinh viên đại học, cao đẳng
Như vậy không thể áp dụng máy móc các biện pháp phát triển NLKT cho
11
sinh viên để phát triển NLKT cho học sinh THCS. Cần phải có sự đầu tư
nghiên cứu một cách khoa học, thiết thực, cụ thể và khả thi. Đây chính là một
trong những lí do khiến tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là tìm
biện pháp phát triển NLKT cho học sinh học nghề phổ thông trong quá trình
giảng dạy.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1C8C1C$'M,#,-!f#g#+hi*j%&'()&
1.2.1.1. Khái niệm năng lực kĩ thuật
Hiện nay có khá nhiều quan điểm, quan niệm và cách phát biểu khác
nhau về năng lực kĩ thuật.
Theo quan điểm của Tổ tâm lí học lao động- viện KHGDVN: NLKT là
sự tương xứng giữa một bên là tổ hợp những thuộc tính tâm- sinh lí của con
người và bên kia là những yêu cầu của một dạng hoạt động kĩ thuật cụ thể
đang đặt ra cho người sản xuất…. NLKT phải được thể hiện trong kết quả
hoạt động. Tuy nhiên NLKT không chỉ là yêu cầu của một dạng hoạt động,
mà phải là bản thân của hoạt động kĩ thuật với đầy đủ cấu trúc của nó. Sự tổ
hợp ở khái niệm trên là sự kết hợp, phối hợp các thuộc tính tâm lí, sinh lí của
cá nhân thành một NLKT trong hoạt động kĩ thuật.
Khái niệm NLKT trong luận văn được hiểu và cụ thể hóa như sau:
NLKT là tổ hợp những thuộc tính tâm sinh lý của con người, giúp cho con
người có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề trong hoạt động kĩ thuật.
1.2.1.2. Cấu trúc của năng lực kĩ thuật
Năng lực nói chung và NLKT nói riêng đều có cấu trúc phức tạp và việc
xác định nó cũng chưa đồng nhất. Hiện nay, nhiều tài liệu của nước ta chủ yếu
xác định cấu trúc năng lực theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu ở Liên
của các yếu tố thành phần.
13
1.2.1.3. Đặc điểm của năng lực kĩ thuật
Một cách khái quát, NLKT có 8 đặc điểm đặc trưng sau:
(1) Năng lực kĩ thuật mang tính hệ thống, đó là hệ thống của nhiều yếu
tố có liên hệ và quan hệ tương tác chặt chẽ nhau, các yếu tố này còn tương tác
với các yếu tố khác của hệ thống năng lực chung.
(2) Năng lực kĩ thuật mang tính tổng hợp, khái quát, phản ánh đầy đủ,
trọn vẹn hoạt động kỹ thuật của con người về các mặt: hứng thú, động cơ,
mục đích, phương pháp, phương tiện, kết quả, chất lượng, tri thức, kĩ năng,
thái độ.
(3) Năng lực kĩ thuật mang tính tích hợp, mỗi cấp độ của năng lực kỹ
thuật là một mục tiêu tích hợp, đồng thời lại là phương tiện, là nền tảng để
phát triển mức cao hơn của năng lực kĩ thuật.
(4) Năng lực kĩ thuật mang tính thực tiễn: hướng vào giải quyết các vấn
đề cụ thể của thực tiễn, có mục đích rõ ràng, nhằm đem lại các giá trị vật chất,
tinh thần.
(5) Năng lực kĩ thuật vừa ổn định, bền vững, vừa vận động, phát triển,
phản ánh trình độ của khoa học, công nghệ đương đại.
(6) Năng lực kĩ thuật mang tính cá thể, tính độc đáo, phụ thuộc vào đặc
điểm tâm sinh lí và xu hướng cá nhân.
(7) Năng lực kĩ thuật có tính chất chuyên ngành phụ thuộc vào đặc
điểm riêng của từng ngành nghề kĩ thuật, công nghệ và phụ thuộc vào động
cơ nghề nghiệp.
(8) Năng lực kĩ thuật là mục tiêu đạt được ở người học, là cơ sở, là
thước đo đánh giá về trình độ, kiến thức, kĩ năng, khả năng tư duy, phương
pháp và định hướng hành động, khả năng hoạt động, giải quyết vấn đề, chất
lượng và hiệu quả công việc.
14
1C8C8C$'M,#,-!f,&:M#j%&'()&
thường có thêm khâu đánh giá, lựa chọn kết quả tối ưu hoặc hợp lí nhất. Việc
đánh giá không chỉ căn cứ vào chất lượng của kết quả mà cón tính đến các
yếu tố khác như: cách giải, tính kinh tế, tính khả thi,…
Nhờ những đặc điểm này mà BTKT có tác dụng rất lớn trong việc phát
triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho người giải.
Trong dạy học, BTKT góp phần quan trọng trong việc phát triển NLKT cho
người học.
1.2.2.3. Phân loại bài toán kĩ thuật
Dựa vào đặc điểm, vai trò, mục đích sử dụng… của BTKT trong quá trình
dạy học có thể phân loại BTKT theo một số dấu hiệu đặc trưng sau: [12; tr81]:
* Dựa vào đặc điểm của dữ kiện bài toán:
- Bài toán thực tế: Là bài toán xuất hiện trong thực tế nghiên cứu, sản
xuất… thường là không đủ hoặc thiếu hoàn toàn dữ kiện.
- Bài toán lí tưởng: Là bài toán có đủ dữ kiện, điều kiện để có thể giải
quyết được.
* Dựa vào chức năng sư phạm (mục đích lí luận dạy học) của bài toán:
- Bài toán dùng trong khâu nghiên cứu kiến thức mới.
- Bài toán dùng trong khâu củng cố - hoàn thiện – mở rộng kiến thức.
- Bài toán dùng trong khâu kiểm tra – đánh giá.
- Bài toán dùng trong khâu rèn luyện kĩ năng…
* Dựa vào lĩnh vực hoạt động kĩ thuật:
- Bài toán thiết kế kĩ thuật.
- Bài toán công nghệ
- Bài toán nhận dạng kĩ thuật.
- Bài toán chuẩn đoán kĩ thuật.
16
- Bài toán xử lí sự cố kĩ thuật.
- Bài toán phân tích kĩ thuật.
- Bài toán điều khiển…
* Dựa vào đặc điểm và phương pháp nghiên cứu vấn đề:
- Phù hợp với mục đích và nội dung dạy học.
- Có tính khái quát cao, có thể làm cơ sở cho nhiều tình huống, vấn đề
tương tự.
- Đa dạng về cách giải, có thể huy động tối đa tính năng động và sáng
tạo của người học.
- Có thể sử dụng linh hoạt để tổ chức cho người học giải quyết khi
nghiên cứu kiến thức mới, củng cố - hoàn thiện – mở rộng kiến thức, rèn
luyện kĩ năng hoặc kiểm tra – đánh giá.
- Khi giải bài toán, người học nắm được kiến thức mới, được rèn luyện
kĩ năng, kĩ xảo cả về năng lực nhận thức và năng lực hành động thực tiễn.
- Đảm bảo tính khả thi, tính vừa sức, lôi cuốn, hấp dẫn người học.
- Thuận tiện cho việc kiểm tra – đánh giá khả năng nắm vững kiến thức,
mức độ phát triển tư duy của người học.
1.3. PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KĨ THUẬT TRONG DẠY NGHỀ SỬA
CHỮA XE MÁY THÔNG QUA SỬ DỤNG BÀI TOÁN KĨ THUẬT
1CTC1CM*,-#.'M..'M&&m,N##g#+hi*j%&'()&
Để hình thành và phát triển năng lực kĩ thuật cho người học cần thực hiện
đồng bộ một số biện pháp sau:
a) Phát triển năng lực quan sát và trí nhớ :
Năng lực quan sát là khả năng nhìn thấy những vấn đề, hiện tượng,
thuộc tính,… trong đối tượng nghiên cứu. Muốn người học phát triển năng
18
lực quan sát, giáo viên cần hướng dẫn người học xác định rõ mục đích quan
sát, phương pháp quan sát, kết hợp quan sát với tìm tòi các yếu tố, các khía
cạnh, các mặt rồi phân tích, lựa chọn các sự kiện cần thiết để đưa ra kết luận
chính xác, chân thực.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về trí nhớ, giáo viên cần có biện pháp tạo
điều kiện cho người học quan sát đối tượng thông qua thị giác, phát biểu vấn
đề và đặc biệt là thực hiện giải quyết vấn đề. Rõ ràng, trong dạy học, nếu giáo
viên tạo điều kiện cho người học tự làm và giảng giải cách làm của mình, tự
bước, các công đoạn, các phần việc cụ thể để người học hình thành và rèn
luyện kĩ năng.
e) Hướng dẫn người học vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn:
Khoa học kĩ thuật phát triển và ngày càng có mặt ở khắp nơi, trong mọi
lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội. Chính vì thế, ngày càng có nhiều vấn đề
kĩ thuật nảy sinh trong thực tiễn. Trong dạy học, giáo viên nên gợi ý để người
học quan sát và nêu các tình huống, vấn đề trong thực tiễn rồi hướng dẫn
người học tìm cách giải quyết. Mặt khác, chính bản thân giáo viên cũng phải
quan sát và phát hiện ra các vấn đề thực tiễn để đưa vào bài giảng. Đây chính
là những BTKT sinh động có sức hấp dẫn người học cao.
g) Thiết kế bài dạy theo hướng phát triển năng lực kĩ thuật cho người học:
Để thiết kế bài dạy theo hướng phát triển NLKT cho người học, giáo
viên cần nghiên cứu kĩ các yếu tố và cơ chế hình thành NLKT. Từ đó, căn cứ
vào mục tiêu, nội dung, đặc điểm và điều kiện dạy học để thiết kế bài dạy sao
cho tạo điều kiện cho người học rèn luyện năng lực quan sát, ham thích học
tập, rèn luyện tay nghề, phát triển năng lực giải quyết vấn đề v.v…
20
Đề tài này lựa chọn biện pháp thứ 5 để phát triển NLKT cho người học mà cụ
thể là xây dựng các BTKT chủ yếu nảy sinh từ thực tiễn để sử dụng trong dạy
học nghề sửa chữa xe máy.
1CTC8C'M&&m,N##g#+hi*j%&'()&*':';*n,#'&m:#+oUp#+'fnqd*'rd
st!Mp&'"#+c(dnqou#+,&:M#j%&'()&
1.3.2.1. Vai trò của bài toán kĩ thuật
Nhiều nhà nghiên cứu về khoa học giáo dục lao động kĩ thuật và tâm lí
học TDKT đều có chung sự đánh giá về vai trò to lớn của BTKT trong việc
phát triển NLKT cho người học.
Khi giải các BTKT, người học luôn luôn phải tìm tòi, suy nghĩ, tìm mối
liên hệ giữa điều kiện với yêu cầu của bài toán, vận dụng tổng hợp các kiến
thức đã có, các phương pháp hoạt động nhận thức khoa học, phải sử dụng hầu
hết các thao tác và hình thức tư duy, phải sử dụng các kĩ năng thao tác vật
trong đó (đôi khi trong tài liệu không có lời giải mà chỉ nêu vấn đề, hiện
tượng. Trong trường hợp này, người xây dựng phải tự tìm lời giải qua tài liệu
chuyên môn, dựa vào vốn kinh nghiệm thực tiễn hoặc tham khảo ý kiến
chuyên gia như các kĩ sư, các thợ sửa chữa xe máy).
b) Cáchthứ hai: Phỏng vấn, trao đổi với chuyên gia kĩ thuật xe máy như kĩ
sư, thợ lành nghề, thợ sửa chữa xe máy để xác định các vấn đề, các hiện
tượng, diễn biến khi xe máy hoạt động cũng như bị hỏng hóc. Trên cơ sở đó
tập hợp, biên tập lại thành hệ thống các bài toán.
c) Cáchthứ ba: Tổ chức, hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu các hỏng hóc của
xe máy trong thực tiễn (Học sinh có thể hỏi người thân trong gia đình đã và
đang sử dụng xe máy, hỏi các chuyên gia kĩ thuật, thợ sửa chữa xe máy,…).
Với kiểu xây dựng bài toán này thì giáo viên phải lập một mẫu phiếu điều tra,
22
có thể bao gồm các cột: Tên hỏng hóc, nguyên nhân, cách khắc phục. Riêng
nguyên nhân và khắc phục có thể để để trống. Mỗi hỏng hóc có thể nêu tên
gọi, hiện tượng, diễn biến, hậu quả …
Riêng với cách thứ ba, ngoài ưu điểm là sưu tập được nhiều bài toán,
vấn đề trong thực tiễn còn có ưu điểm về dạy học là thông qua đó, chính bản
thân học sinh có hứng thú và hiểu biết về sửa chữa xe máy ngay trong quá
tình đi tìm hiểu thực tế.
1.3.2.3. Sử dụng bài toán kĩ thuậttrong dạy nghề sửa chữa xe máy
Việc sử dụng BTKT trong dạy học nói chung và dạy nghề sửa chữa xe
máy nói riêng tuân theo các quy trình chung và phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Đó là điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đặc điểm tâm sinh lí học sinh,
trình độ kiến thức học sinh, thời lượng dành cho bài học và nghệ thuật sư
phạm của giáo viên.
Mặt khác, trong quá trình dạy học có nhiều khâu như nghiên cứu kiến
thức mới, ôn tập, kiểm tra đánh giá nên khi sử dụng BTKT cũng có thể chia
chúng ra các loại theo các khâu của quá trình dạy học để sử dụng cho phù hợp
và hiệu quả.
khi học lí thuyết và học thực hành. Việc học tập rất thụ động và còn mang
tính đối phó.
- Đa số học sinh còn gặp khó khăn về khả năng tư duy, khả năng quan
sát, phân tích, tổng hợp kiến thức; kĩ năng thực hành còn hạn chế.
- Giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình để truyền thụ
kiến thức, ít sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, chưa chú ý đến việc
hướng dẫn cho học sinh tự học. Việc phát triển NLKT cho học sinh chưa
được quan tâm đúng mức.
24
c) Về cơ sở vật chất phục vụ dạy học:
Nhìn chung cơ sở vật chất, máy móc thiết bị cũng đã đáp ứng được một
phần nào yêu cầu của dạy nghề.
Trung tâm đã có 02 phòng đa phương tiện, nhưng vì số phòng nàyđược
dùng cho tất cả các nghề như Điện dân dụng, Cắt may, Tin học nên việc sử
dụng phương tiện hiện đại còn nhiều hạn chế, có 01 phòng học bộ môn, có
dụng cụ, thiết bị thực hành cho học sinh, tuy nhiên số lượng còn hạn chế,
chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu trang thiết bị dạy và học.
Sách giáo khoa nghề sửa chữa xe máy giảng dạy khối THCS xuất bản
năm 1998, đến nay nhiều nội dung đã lạc hậu so với công nghệ hiện hành,
nhiều nội dung thực hành không có thiết bị cho học sinh thực tập, ví dụ như:
Hệ thống đánh lửa dùng vít lửa, các qui trình tháo lắp viết cho xe Simson, xe
Babeta, xe Honda cup… do những thiết bị này đã quá cũ, quá lạc hậu. Mặt
khác sách hoặc tài liệu tham khảo dành cho học sinh trong thư viện Trung tâm
hầu như không có gây khó khăn cho việc tự nghiên cứu, tìm hiểu của học sinh.
1C2CTC'i*&mU#+f.'M&&m,N##g#+hi*j%&'()&&m:#+oUp#+'fnqd*'rd
st!Mp
Giáo viên gặp khó khăn trong việc vận dụng lí luận và phương pháp
dạy học kĩ thuật vào môn học; nhận thức của giáo viên về NLKT và các biện
pháp hình thành, phát triển NLKT cho học sinh còn hạn chế. Hầu như giáo
viên chưa chủ động xây dựng các tình huốn, các vấn đề để giao cho học sinh