HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRNG NGC TUN
VAI TRò CủA CHíNH QUYềN ĐịA PHƯƠNG
TRONG VIệC THựC HIệN CHíNH SáCH TÔN GIáO
ở THANH HóA HIệN NAY
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S
H NI - 2018
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRNG NGC TUN
VAI TRò CủA CHíNH QUYềN ĐịA PHƯƠNG
TRONG VIệC THựC HIệN CHíNH SáCH TÔN GIáO
ở THANH HóA HIệN NAY
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S
Mó s: 62 22 03 02
Ngi hng dn khoa hc: 1. GS. TS. NGUYN HNG HU
2. TS. NGUYN TH THệY ANH
H NI - 2018
2.3. Vai trò của chính quyền địa phƣơng trong việc thực hiện chính
sách tôn giáo ..................................................................................... 72
CHƢƠNG 3:VAI TRÕ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG TRONG
VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở THANH
HÓA - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA.................. 80
3.1. Tình hình tôn giáo ở tỉnh Thanh Hóa ..................................................... 80
3.2. Thực trạng thực hiện vai trò của chính quyền địa phƣơng trong việc
thực hiện chính sách tôn giáo ở Thanh Hóa ........................................ 99
3.3. Hạn chế và nguyên nhân ...................................................................... 114
1
3.4. Những vấn đề đặt ra đối với chính quyền địa phƣơng trong việc
thực hiện chính sách tôn giáo ở Thanh Hóa hiện nay .................... 118
CHƢƠNG 4: MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG CƠ BẢN VÀ GIẢI
PHÁP CHỦ YẾU PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA CHÍNH
QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở THANH HÓA HIỆN NAY .......... 126
4.1. Phƣơng hƣớng cơ bản .......................................................................... 126
4.2. Một số giải pháp chủ yếu ..................................................................... 127
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 154
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ................................. 165
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ANTQ
: An ninh Tổ quốc
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Có những tôn giáo lớn mang
tính quốc tế du nhập từ bên ngoài nhƣ: Công giáo, Phật giáo, Tin lành; có tôn
giáo nội sinh trong lòng dân tộc nhƣ: Cao Đài, Hòa Hảo...Hiện nƣớc ta có
khoảng 27% dân số sinh hoạt tôn giáo thƣờng xuyên. Ngay sau khi nƣớc nhà
đƣợc độc lập, nhận thức đúng về tầm quan trọng của vấn đề tôn giáo, chính
sách tôn giáo đã đƣợc Nhà nƣớc ban hành, lập tức hòa mình vào đời sống xã
hội, phù hợp đƣờng hƣớng của các tổ chức tôn giáo, đáp ứng sự mong muốn
của một bộ phận nhân dân nên tạo đƣợc sự đoàn kết và đồng thuận cao trong
xã hội, góp phần đƣa sự nghiệp cách mạng nƣớc ta đạt nhiều thành tựu vĩ đại.
Đông đảo chức sắc, tín đồ các tôn giáo phát huy truyền thống yêu nƣớc, gắn
bó, đồng hành cùng dân tộc, đoàn kết lƣơng giáo trong khối đại đoàn kết toàn
dân tộc; hăng hái tham gia phát triển kinh tế - xã hội, củng cố và tăng cƣờng
về quốc phòng an ninh, góp phần quan trọng vào những thành tựu của công
cuộc đổi mới quê hƣơng, đất nƣớc. Hệ thống chính trị nói chung và các
ngành, các cấp quan tâm xây dựng, bổ sung hoàn thiện chính sách cũng nhƣ
không ngừng nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo. Nhƣng ngƣợc lại cũng còn
một số cá nhân, nhóm tín đồ tôn giáo chƣa nhận thức đúng và thực hiện đúng
chính sách tôn giáo. Một số vấn đề nổi lên là: tình trạng khiếu kiện, khiếu nại
về đất đai, cơ sở thờ tự các tôn giáo; hoạt động tôn giáo trái quy định; lợi
dụng tự do tín ngƣỡng, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống đối chính
quyền, gây mất an ninh trật tự. Một số địa phƣơng, nhất là ở cấp cơ sở thiếu
quan tâm, thờ ơ, buông lỏng công tác lãnh đạo, quản lý nhà nƣớc về tôn giáo;
sử dụng cán bộ, đảng viên yếu kém đã vô tình tiếp tay cho hoạt động tôn giáo
trái pháp luật. Thực tế trên đang đòi hỏi Đảng và Nhà nƣớc phải coi trọng và
ngày càng tăng cƣờng công tác tôn giáo. Nghị quyết 25 của Ban chấp hành
2
Bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc, công tác tôn giáo ở Thanh Hoá
còn nhiều hạn chế cần khắc phục nhƣ: chƣa cụ thể hóa chủ trƣơng của Đảng
để xây dựng chủ trƣơng, chính sách đặc thù để lãnh đạo và tổ chức thực hiện
công tác tôn giáo ở địa phƣơng, các cơ quan, tổ chức làm công tác tôn giáo
chƣa đồng bộ, thiếu thống nhất, đặc biệt vai trò quản lý nhà nƣớc đối với tôn
giáo của một số đơn vị địa phƣơng còn bị buông lỏng, chƣa bám sát thực tiễn,
chƣa chú trọng tính khoa học trong quản lý; một số cán bộ làm quản lý nhà
nƣớc về tôn giáo ở cấp tỉnh, huyện làm không đúng chuyên môn đƣợc đào
tạo, không ổn định thƣờng xuyên; cán bộ cấp cơ sở vừa thiếu, vừa yếu, chƣa
đáp ứng đƣợc yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; quan điểm giải quyết các
vấn đề tôn giáo thiếu thống nhất; việc tuyên truyền chính sách tôn giáo đến
với nhân dân chƣa rộng khắp và chƣa đến trực tiếp với đối tƣợng tuyên
truyền. Ngoài ra còn gặp phải một số khó khăn mang tính khách quan là xu
hƣớng du nhập tôn giáo mới, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để hoạt
động chống phá cách mạng; một số chức sắc, bà con nhân dân lách luật, xé
rào các qui định về đất đai, cơ sở thờ tự, công tác từ thiện, nhân đạo để thực
hiện các hành vi trái pháp luật.
Tất cả những vấn đề trên đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới và tăng
cƣờng công tác tôn giáo ở địa phƣơng Thanh Hoá. Việc tổng kết, khái quát
thực tiễn công tác tôn giáo để tìm ra phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm phát
huy vai trò của chính quyền địa phƣơng để tăng cƣờng hiệu quả thực hiện
chính sách tôn giáo là việc làm cần thiết. Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Vai trò
của chính quyền địa phương trong việc thực hiện chính sách tôn giáo ở
Thanh Hoá hiện nay ” làm đề tài nghiên cứu luận án Tiến sỹ của mình. Đây
là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý nhà nƣớc
về tôn giáo ở Thanh Hoá nói riêng và trong phạm vi cả nƣớc nói chung trong
giai đoạn hiện nay.
4
5
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận án đƣợc thực hiện dựa trên quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc
ta về tôn giáo nói chung và chính sách tôn giáo nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng
mối quan hệ biện chứng giữa khách quan - chủ quan, giữa cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thƣợng tầng, giữa lý luận và thực tiễn. Đồng thời sử dụng tổng hợp
các phƣơng pháp: so sánh; lôgic - lịch sử; phân tích - tổng hợp nhằm đạt mục
đích và hoàn thành nhiệm vụ mà Luận án đặt ra.
5. Đóng góp mới của Luận án
- Bƣớc đầu phát hiện một số vấn đề mới đặt ra cần giải quyết trong việc
thực hiện chính sách tôn giáo ở Thanh Hoá hiện nay.
- Phân tích thực trạng để làm rõ bản chất của những nguyên nhân tồn
tại về đất đai có liên quan đến tôn giáo ở Thanh Hóa.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của chính
quyền địa phƣơng trong việc thực hiện chính sách tôn giáo ở Thanh Hoá hiện
nay, nhất là chính sách về đất đai, vấn đề đoàn kết tôn giáo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
- Ý nghĩa lý luận: Làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa chính quyền địa
phƣơng với tƣ cách là nhân tố chủ quan tác động đến các điều kiện khách
quan liên tục vận động biến đổi, đó là các yếu tố mới, các biểu hiện mới của
tôn giáo và hoạt động tôn giáo.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Luận án đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo để xây dựng, bổ sung,
hoàn thiện chính sách tôn giáo; làm rõ và đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai
trò của chính quyền địa phƣơng trong việc thực hiện chính sách tôn giáo và
vận dụng vào thực tiễn công tác tôn giáo ở Thanh Hoá.
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Quá trình thực hiện chính sách tôn
giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc ta qua tổng kết thực tiễn ở Tây Bắc, Tây
nguyên, Tây Nam bộ” [131].
Đề tài đi sâu nghiên cứu các vấn đề về dân tộc, tôn giáo; tình hình thực
hiện chính sách tôn giáo ở 3 khu vực có vị trí địa chính trị rất quan trọng của
đất nƣớc, tổng kết về lý luận, đề xuất các chủ trƣơng, chính sách cho Đảng và
Nhà nƣớc trong hoạch định chiến lƣợc cho các vấn đề nhạy cảm này.
- Đề tài cấp Nhà nước: “Tình hình và xu hƣớng tôn giáo ở Việt Nam
hiện nay - những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý và lãnh đạo” năm 2002
8
do Lê Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm đề tài [98]. Đề tài đã nêu lên thực trạng và
xu hƣớng biến động của tôn giáo thế giới và ở Việt Nam hiện nay. Phân tích
nguyên nhân, các điều kiện chính trị, kinh tế xã hội của sự tồn tại và phát triển
của các tôn giáo. Trên cơ sở đó nêu phƣơng hƣớng và kiến nghị nhằm nâng
cao vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu quả quản lý của Nhà nƣớc đối với
những hoạt động tôn giáo ở nƣớc ta trong thời gian tới.
- Đề tài: “Đổi mới chính sách tôn giáo và quản lý nhà nƣớc về tôn giáo
hiện nay - những bài học kinh nghiệm và kiến nghị cụ thể” do Nguyễn Đức
Lữ làm chủ nhiệm [76]. Đề tài đã khái quát những quan điểm, chủ trƣơng,
chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nƣớc ta trong quá trình cách
mạng Việt Nam. Sau khi tổng kết những kết những kết quả đã đạt đƣợc, tác
giả kiến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tôn
giáo ở Việt Nam.
- Đề tài khoa học cấp bộ: “Xu hƣớng phát triển và những giải pháp giải
quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền ở Tây Nguyên”, do Nguyễn
Quốc Phẩm làm Chủ nhiệm [100].
Công trình đã làm rõ về lí luận và lịch sử, thực chất của vấn đề dân tộc,
tôn giáo và nhân quyền và quan hệ giữa các vấn đề đó nhằm nâng cao nhận
minh Trung Hoa, Ấn Độ và sau này là phƣơng Tây bắt đầu từ tiếp xúc tôn
giáo. Qua đó khẳng định vai trò của tôn giáo đối với văn hoá và phát triển ở
Việt Nam. Tác giả nghiên cứu phần lý luận, giải quyết cơ sở lý luận mối quan
hệ của tôn giáo với văn hoá và phát triển, trong đó đƣa ra định nghĩa tôn giáo
dƣới góc nhìn văn hoá, xem xét tôn giáo nằm trong cơ tầng nào của văn hoá.
Tác giả tập trung vào vai trò của tôn giáo trong cộng đồng dân tộc Kinh, còn
vai trò của tôn giáo trong dân tộc thiểu số chỉ bƣớc đầu đề cập đến Phật giáo
Khơme, Bàlamôn giáo - Ấn giáo, Hồi giáo trong ngƣời Chăm.
- Nguyễn Hồng Dƣơng: “Quan điểm, đƣờng lối của Đảng về tôn giáo và
những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam” [45].
10
Cuốn sách phân tích những quan điểm, đƣờng lối của Đảng về tôn giáo,
phác họa toàn cảnh bức tranh tôn giáo ở Việt Nam hiện nay; đồng thời phân
tích kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam từ cái nhìn so sánh,
đối chiếu với một số nƣớc nhƣ Trung Quốc, Thái Lan, Singapo, trên cơ sở đó,
tác giả phân tích những vấn đề đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị đối với
công tác tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
- “Mác, Ăngghen, Lênin bàn về tôn giáo và chủ nghĩa vô thần”, sách
dịch của Trần Khang và Lê Cự Lộc [72]. Cuốn sách tập hợp những tác phẩm,
những ý kiến chủ yếu của các nhà kinh điển về các vấn đề lý luận tôn giáo,
chính sách tôn giáo, chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa duy vật, quan hệ giữa chủ
nghĩa duy tâm và tôn giáo. Các luận điểm đƣợc tập hợp đã vạch rõ nguyên
nhân xuất hiện và bản chất của tôn giáo, cuộc đấu tranh với tôn giáo phải gắn
liền với việc vũ trang cho quần chúng tri thức khoa học, quan điểm duy vật
biện chứng và kết hợp với cuộc đấu tranh giai cấp. Cuốn sách đã cung cấp
khá đầy đủ và toàn diện quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin về tôn giáo.
- Nguyễn Đức Lữ: “Tôn giáo, quan điểm, chính sách đối với tôn giáo
của Đảng và Nhà nƣớc ta hiện nay” [79].
Tin lành, Hồi giáo, Cao Đài và Hòa Hảo đang tồn tại và hoạt động tại Việt
Nam. Cuốn sách cũng đồng thời cung cấp đến độc giả các văn bản pháp lý
quan trọng trong lĩnh vực quản lý nhà nƣớc về tôn giáo nhƣ: Pháp lệnh tín
ngƣỡng, tôn giáo (2004), Nghị định số 92/NĐ-CP, ngày 08 tháng 11 năm
2012 của Chính phủ Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín
ngƣỡng, tôn giáo.
- Nguyễn Thanh Xuân (Chủ biên): “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở
Việt Nam” [124]. Cuốn sách giới thiệu về chính sách tôn giáo của Đảng,
Nhà nƣớc Việt Nam qua các thời kỳ và việc thực hiện chính sách tôn giáo,
nhất là từ khi đổi mới đến nay. Trong phần kết luận, nhóm tác giả khẳng
định: “Đổi mới tôn giáo ở Việt Nam không phải là ngẫu nhiên, cũng không
phải chịu một áp lực nào từ bên ngoài. Đổi mới tôn giáo ở Việt Nam tƣơng
12
xứng với đổi mới về kinh tế, văn hóa, xã hội. Không những thế, đổi mới đối
với tôn giáo là một trong những nội dung đổi mới lớn nhất với những thành
tựu to lớn trong quá trình đổi mới toàn diện ở Việt Nam.
- Ngô Hữu Thảo: “Công tác tôn giáo. Từ quan điểm Mác -Lênin đến
thực tiễn Việt Nam” [133]. Cuốn sách đã hệ thống hóa và làm rõ những quan
điểm của các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác -Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
về tôn giáo và công tác tôn giáo; phân tích việc vận dụng những quan điểm đó
vào thực tiễn công tác tôn giáo trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, từ đó đề
xuất một số kiến nghị về công tác tôn giáo của hệ thống chính trị ở nƣớc ta
trong giai đoạn tới.
- Đỗ Quang Hƣng: “Chính sách tôn giáo và Nhà nƣớc pháp quyền”
[68]. Công trình đƣợc xác định là sách chuyên khảo dùng làm giáo trình đào
tạo cho học viên cao học và nghiên cứu sinh trong và ngoài nƣớc.. Tác giả tập
trung nghiên cứu sâu về chính sách tôn giáo. Trên cơ sở dẫn chứng, phân tích
và so sánh chính sách tôn giáo của một số quốc gia điển hình nhƣ: Mỹ, Pháp,
ngƣời đọc, là tài liệu để nghiên cứu, tham khảo nhằm hiểu sâu hơn về khoan
dung tôn giáo - khái niệm, lịch sử hình thành và nội dung biểu hiện; cơ sở và
những đặc điểm biểu hiện của tinh thần khoan dung tôn giáo của ngƣời Việt;
khoan dung tôn giáo với dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội ở Việt Nam.
Từ những phân tích logic và khoa học về khoan dung tôn giáo theo các cách
hiểu của phƣơng Tây, phƣơng Đông, ở Việt Nam, khẳng định khoan dung tôn
giáo là một trong những truyền thống văn hóa của ngƣời Việt cần đƣợc phát
huy hơn nữa để góp phần củng cố sự đồng thuận, đoàn kết xã hội ở Việt Nam
hiện nay.
- Nguyễn Ngọc Quỳnh: “Chính sách tôn giáo thời Tự Đức (1848 1883)” [135]. Cuốn sách phác họa nên bức tranh toàn cảnh về một giai đoạn
lịch sử đầy biến động của dân tộc ta trong thời kỳ phong kiến - triều vua Tự
Đức (1848 - 1883). Vua Tự Đức và triều đình đã phải đối diện với những khó
khăn về đối nội và đối ngoại nhƣ: sự đe dọa xâm lƣợc của chủ nghĩa tƣ bản
14
phƣơng Tây, sự “ly tâm” trong hàng ngũ các quan lại triều đình. Với những
chính sách đối với các tôn giáo lớn thời kỳ này nhƣ Phật giáo, Đạo giáo, Nho
giáo và đặc biệt là Công giáo, vua Tự Đức muốn gửi gắm vào đó khát vọng
bảo vệ bản sắc dân tộc và giữ gìn non sông bờ cõi trƣớc âm mƣu xâm lƣợc
của kẻ thù. Song, sự kiệt quệ về kinh tế, khối đại đoàn kết dân tộc bị chia rẽ
giữa dân lƣơng và dân giáo, sự không thống nhất giữa chủ trƣơng chủ chiến
và chủ hòa trong triều đình nhà Nguyễn thời kỳ này. Tất cả đã dẫn đến kết cục
đen tối: nƣớc ta từ một nƣớc phong kiến độc lập trở thành một nƣớc thuộc địa
nửa phong kiến. Cũng từ đây, dân tộc ta bƣớc vào quá trình đấu tranh không
mệt mỏi để giành độc lập suốt nhiều thập kỷ sau đó. Do vậy, những nội dung
trong cuốn sách chuyển tải những kinh nghiệm quý báu cho việc hoạch định
và tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo, nhất là trong điều kiện khách quan
phức tạp nhƣ hiện nay.
- Mai Thanh Hải: “Các tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam” [136]. Bộ
giáo và dân tộc, giữa đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc trong tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh” [137]. Bài viết làm rõ: trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, giữa tôn giáo
và dân tộc luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau, đồng bào tôn giáo cũng
là công dân của nƣớc Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, vì thế hiển nhiên đoàn
kết tôn giáo cũng thống nhất và nằm trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Mục tiêu của đoàn kết tôn giáo là đoàn kết dân tộc. Lợi ích của mỗi tôn giáo
đều gắn liền với lợi ích của cả cộng đồng dân tộc. Để đất nƣớc đƣợc độc lập,
tự do thì phải đoàn kết đƣợc sức mạnh của toàn dân tộc, trong đó, đồng bào
tôn giáo chiếm vị trí rất quan trọng. Đảng ta đã vận dụng, quán triệt quan
điểm này của Hồ Chí Minh vào việc hoạch định chính sách tôn giáo trong
công cuộc đổi mới của đất nƣớc.
- Trần Thị Kim Oanh: “Chức năng xã hội của tôn giáo - nhìn từ góc độ
Triết học” [138]. Bài viết luận giải: với tƣ cách là một hình thái ý thức xã hội,
một tiểu hệ thống kiến trúc thƣợng tầng, ngay từ khi mới ra đời, tôn giáo đã
16
có những chức năng xã hội đặc thù. Thực hiện những chức năng này, tôn giáo
ngày càng có nhiều ảnh hƣởng không nhỏ đến đời sống xã hội trên cả hai
phƣơng diện tích cực và tiêu cực. Mặc dù không để lại một hệ thống lý luận
hoàn chỉnh về tôn giáo, song các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt
nền móng và tạo cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu tôn giáo và chức năng
xã hội của nó. Nhìn từ góc độ Triết học, tác giả tập trung làm rõ những chức
năng xã hội đặc trƣng nhất của tôn giáo. Đó là chức năng “bù đắp tinh thần”,
chức năng liên kết, chức năng thế giới quan và chức năng điều chỉnh - kiểm
tra.
- Bài viết: “Quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo trong các văn bản pháp
luật quốc tế và sự tƣơng thích của pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Thị Diệu Thúy đăng trên Website của Ban Tôn giáo Chính phủ.
Tác giả dẫn giải nội dung một số văn bản pháp luật quốc tế đề cập đến
khoan dung tôn giáo và ngoài ra còn đề cao chức năng xã hội của nó.
Nhiều kết luận khẳng định: nghiên cứu, tổng kết thực tiễn tình hình
thực hiện chính sách tôn giáo là việc làm thƣờng xuyên của Đảng, Nhà nƣớc
và các tổ chức chính trị - xã hội ở nƣớc ta. Thông qua hoạt động đó, rút ra
những vấn đề mới về lý luận, bổ sung tài liệu, những luận cứ nhằm phát triển,
hoàn thiện chính sách tôn giáo.
- Các đề tài khoa học cấp Nhà nƣớc, cấp Bộ do Tập thể, nhóm các nhà
khoa học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện, đã đƣợc
công bố là những tài liệu khoa học vô cùng quý giá, nhất là trang bị phƣơng
hƣớng và giải pháp giải quyết những vụ việc phức tạp, điểm nóng về tôn giáo ở
các khu vực nhạy cảm nhƣ Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ của nƣớc ta.
- Các công trình của các nhà khoa học hàng đầu nghiên cứu về chính
sách tôn giáo của hai tác giả Đỗ Quang Hƣng và Nguyễn Thanh Xuân đã nêu
một cách tỷ mỷ, toàn diện và phân tích sâu sắc về chính sách tôn giáo, xây
dựng nội hàm của chính sách tôn giáo; vẽ ra bức tranh toàn cảnh, chi tiết về
18
tình hình thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam và đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo.
- Một số công trình nghiên cứu chính sách, pháp luật quốc tế, một số
quốc gia đối với tôn giáo trong quan hệ so sánh với chính sách tôn giáo của
nƣớc ta; những kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo của một số quốc gia
trong khu vực. Nhóm tác giả Nguyễn Hồng Dƣơng, Nguyễn Thị Diệu Thúy,
Nguyễn Thanh Xuân, Đỗ Quang Hƣng, Mai Thanh Hải.
- Một số công trình của các tác giả Nguyễn Đức Lữ, Nguyễn Thanh Xuân
và Đỗ Quang Hƣng đã nghiên cứu vai trò của chính quyền địa phƣơng trong việc
thực hiện chính sách tôn giáo thông qua những văn bản pháp luật của Nhà nƣớc
ta về tôn giáo nhƣ: Hiến pháp, Pháp lệnh và các nghị định của Chính phủ.
1.1.3. Những vấn đề cần trao đổi với các tác giả
của quá trình Nhà nƣớc quản lý đối với tôn giáo, nhóm tác giả nhận thấy vai trò
quan trọng, trực tiếp của chính quyền địa phƣơng trong quản lý nhà nƣớc về tôn
giáo nói riêng và trong việc thực hiện chính sách về tôn giáo nói chung.
- PGS.TS Ngô Hữu Thảo: “Công tác tôn giáo. Từ quan điểm Mác Lênin đến thực tiễn Việt Nam”, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2012.
Dƣới góc độ tiếp cận phân tích việc vận dụng những quan điểm Chủ nghĩa
Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo vào thực
tiễn công tác tôn giáo trong hệ thống chính trị ở Việt Nam. Qua đó nhấn mạnh
vai trò quản lý nhà nƣớc về tôn giáo của cấp địa phƣơng, cơ sở.
- ThS. Võ Duy Sang: “Các giải pháp chủ yếu phòng ngừa và giải
quyết “điểm nóng”, góp phần bảo đảm ổn định chính trị - xã hội ở cơ sở
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, Đề tài khoa học cấp tỉnh, Thanh Hóa, năm
2014. Đề tài đã nghiên cứu diễn biến tình hình của các “điểm nóng” ở tỉnh
Thanh Hóa từ năm 2000 đến năm 2014, trong đó có nhiều điểm nóng về
tôn giáo. Trong trách nhiệm chung của toàn hệ thống chính trị, tác giả đề
cập vai trò của chính quyền địa phƣơng, đặc biệt là vai trò của Chủ tịch