Quy hoạch và lập kế hoạch quản lý tổng hợp vùng bờ vịnh hạ long, quảng ninh vai trò của cộng đồng địa phương trong việc quản lý vùng bờ vịnh hạ long - Pdf 13

Bộ khoa học và công nghệ Đề tài 17/2004/HĐ-ĐTNĐT
Hợp tác Việt Nam Hoa Kỳ theo Nghị định th Quy hoạch và lập kế hoạch quản lý tổng hợp vùng
bờ vịnh Hạ Long, Quảng Ninh

Cơ quan chủ trì
Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản Báo cáo chuyên đề
Vai trò của cộng đồng địa phơng trong việc
Quản lý Vùng Bờ VịNH Hạ LONG - QUảNG NINH
Ngời thực hiện:
CN. Đào Việt Long
Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản
phần trong cộng đồng, bao gồm cả con người, khai thác nguồn lợi nhưng không
làm suy giảm các nguồn lợi gen và các loài, hệ sinh thái và nguồn lợi đa dạng
sinh học vùng bờ. Nó nhấn mạnh đến sự tham gia của cộng đồng trong công
cuộc bảo tồn
đa dạng sinh học và những thay đổi trong tư duy và các hành
động phù hợp để xác định các vấn đề của QLTHVB.
Dự án “qui hoạch và lập kế hoạch quản lý tổng hợp vùng bờ vịnh Hạ Long -
Quảng Ninh” ra đời vào tháng xxx năm xxxx là một trong những bước đi mới
của Chính phủ Việt Nam trong việc tìm ra một phương pháp quản lý hữu hiệu
vùng Vịnh Hạ Long, một di sản tiên nhiên thế giới đã đượ
c UNESCO công
nhận. Nhận thức được sự cần thiết phải có sự tham gia của cộng đồng trong
quản lý tổng hợp vùng bờ, một trong những nôi dung quan trọng của dự án là
“đánh giá vai trò của cộng đồng dân địa phương trong việc QLTHVB vịnh Hạ
Long”.
Quảng Ninh là một vùng đất cổ, song nó lại vừa là vùng đất mới bởi những
bước khai hoang, mở mỏ và gần như thời đại nào c
ũng có người từ nhiều miền
hội tụ về để phát triển kinh tế. Trải suốt nhiều thế kỉ, từng cộng đồng dân cư lại
có nhiều nét riêng: vùng nông thôn lâu đời, vùng mới khai hoang và vùng kinh
tế mới, vùng đảo với dân chài sống lênh đênh trên thuyền, các làng mỏ, làng
nông nghiệp ….Chưa kể Quảng Ninh lại là vùng có nhiều dân tộc cùng chung
sống. Vì vậy, đánh giá được vai trò của tất cả các cộng đồ
ng địa phương trong
quản lý tổng hợp vùng bờ là vô cùng khó khăn. Báo cáo sau đây sẽ chỉ đề cập
đến các đặc điểm chung của các cộng đồng dân sống quanh Vịnh hạ Long, mà
chủ yếu tập trung phân tích các cộng đồng dân cư sống phụ thuộc trực tiếp vào
nguồn tài nguyên thiên nhiên trong Vịnh, và vai trò của họ trong việc quản lý
vùng bờ vịnh Hạ Long.


- Dõn trớ:
Hu ht ngi dõn vựng ven bin cú trỡnh hc vn thp, iu ny ó c
kim chng trong rt nhi
u cuc iu tra kinh t xó hi. Tõm lý ch cn hc
bit ch, khụng cn hc nhiu dnh thi gian v cụng sc cho vic kim tin
ó lm cho hu ht con em ca cỏc gia ỡnh ng dõn cú hc vn thp, kộo theo
s nh hng xu n cỏc h gia ỡnh khỏc cựng ven bin. i ụi vi hc vn
thp l nhn thc ca h v
mụi trng v ti nguyờn vựng b cng rt kộm.
Li sng v cỏch ng x ca nhng ngi vựng bin khỏc vi cỏc a phng
trong t lin do phi i mt hng ngy vi tớnh khc lit ca bin c. Ngi
dõn vựng ven b thng sng tt bng, bn lnh, nhng bt cn, ớt quan tõm
n tng lai. õy cng l mt trong nhng nguyờn nhõn dn n cỏc chng
trỡnh nõng cao nhn th
c ti cỏc vựng ven b cú kt qu khụng cao.
- Nghốo úi v tng khong cỏch giu nghốo:
Nhng ng dõn sng bng cỏc ngh ỏnh bt nh ven bin ang phi i mt
vi cỏi vũng lun qun: nghốo
đói ặ đông dân ặ khai thác quá mức ặ tài nguyên
cạn kiệt ặ nghèo đói. Khủng hoảng này chủ yếu là do thiếu kiểm soát những nguồn
tài nguyên.4
Một vấn đề khác mà các cộng đồng dân ven bờ hiện đang phải đối mặt là
khoảng cách giàu nghèo giữa các cộng đồng ngày càng tăng. Trong khi nhiều
người bị nghèo khó do các nguồn tài nguyên bị cạn kiệt thì một bộ phận khác
lại giàu lên do nuôi trồng thuỷ sản và nhận ngoại hối
- Hiện trạng quản lý tài nguyên vùng bờ
Trong khi, các cộng đồng dân ven biển đang gặp phải các khó khăn do không

bền vững. Do đó rất nhiều cộng đồng ven biển đã đánh mất ý thức “làm chủ”
và trách nhiệm đối với những vùng ven biển của họ. Do không có một qui định
cụ thể nào về quyền được hưởng dụ
ng hoặc tiếp cận các tài nguyên ven biển,
cộng đồng ngư dân nghèo không còn cách nào khác hơn là phải khai thác một
cách triệt để các tài nguyên ven biển. Không có gì đảm bảo rằng cá con được
giữ lại để lớn lên sẽ đem lại lợi ích cho chính những người ngư dân đã không
bắt chúng từ khi còn bé, nên chẳng có gì khuyến khích họ trong việc thực hiện
bảo tồn. Tuy nhiên, ta có thể thấy rằng khi những người dân được khuyế
n
khích và có lý do để tin rằng quản lý tốt vùng bờ sẽ mang lại lợi ích cho họ, họ
sẽ tham gia vào việc quản lý.

5
Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tham gia tích cực của cộng đồng
ven biển quyết định sự thành công của các nỗ lực quản lý vùng bờ. Do đó, cần
phải lôi kéo cộng đồng ven biển tham gia vào các quá trình của quản lý vùng
bờ, từ quá trình xây dựng kế hoạch, ra quyết định, thực hiện kế hoạch đến giám
sát và đánh giá.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1 Địa điể
m nghiên cứu:
Vịnh Hạ Long là một vùng biển đảo tiếp giáp với đường bờ biển giữa huyện
Hoành Bồ và Cửa Ông, kể cả khu đô thị rộng lớn của thành phố Hạ Long và
Vịnh Bái Tử Long, một phần của huyện Vân Đồn, rộng 1553km
2
, bao gồm
1969 hòn đảo lớn nhỏ. Với một địa bàn rộng lớn, lại là nơi tập trung rất nhiều
hoạt động phát triển kinh tế xã hội như vậy, một nghiên cứu chi tiết về các cộng
đồng dân cư ở đây là rất cần thiết, song cũng rất khó khăn. Trong khuôn khổ

với đoàn khảo sát đánh giá các vấn đề của cộng đồng. Các công cụ PRA được
lựa chọn là:
- Lịch sử thôn
- Lịch thời vụ
- Ma trận xắp xếp, lựa chọn các vần đề ưu tiên
- Sơ đồ VENN
- Cây vấn đề
- Họp nhóm
Đặc điểm của ph
ương pháp PRA là các thông tin thu được mang tính định tính
và được cộng đồng thảo luận sau khi thống nhất, vì vậy trong báo cáo sẽ có
nhiều đoạn các thông tin chỉ mang tính định tính, phản ảnh trung thực các ý
kiến, quan điểm của cộng đồng.
Điều tra, phỏng vấn hộ gia đình bằng bảng mẫu câu hỏi:
Tại mỗi điểm lựa chọn, 30 hộ gia đình đã được lựa chọn đề
phỏng vấn bằng các
bảng mẫu câu hỏi. Bảng câu hỏi phỏng vấn được thiết kế dựa trên bảng câu hỏi
của phương pháp SocMon (Giám sát Kinh tế xã hội cho các nhà quản lí vùng
ven biển Đông Nam á)
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm EXCEL và SPSS
3. Nội dung nghiên cứu:
Báo cáo sẽ tập trung vào nghiên cứu các khía cạnh sau:
- Lịch sử phát tri
ển, cấu trúc và đặc trưng của cộng đồng:
- Các kiến thức bản địa về sử dụng tài nguyên vùng bờ của cộng đồng
- Các hoạt động tự quản tài nguyên vùng bờ của cộng đồng
- Đánh giá vai trò của cộng đồng trong QLTHVB và đề xuất mô hình
QLTHVB có sự tham gia của cộng đồng
- Các kết luận và kiến nghị

Ghi chú:

Mức độ to nhỏ của các vòng tròn thể hiện sự phụ thuộc của cộng đồng vào
nguồn lợi Vịnh
Độ gần, xa thể hiện mức độ ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi trong vịnh
Giao
thông thuỷ
Phát
triển
CSH
Khai
thác
than
Dịch vụ
du lịch
Nông
nghiệp
Nuôi
nhuyễn
thể
Nuôi cá

189.356 ngi (nm 2003), tc tng bỡnh quõn 3,18%/nm trong khi tc
ny ca ton tnh ch l 1,32%.
Bng: dõn s trung Bỡnh TP H Long v ton tnh
Dân số
trung bình
1998 1999 2000 2001 2002 2003
Tốc độ
tăng trởng
bình quân
Toàn tỉnh 991.471 1.008.829 1.018.931 1.032.264 1.045.091 1.058.752 1.32%
TP. Hạ Long 161.953 165.017 166.296 185.228 187.467 189.356 3.18%
(Ngun: Niờn giỏm thng kờ tnh Qung Ninh - 2003)
Vi s ngi lờn n gn 190.000, lng rỏc v nc thi sinh hot thi ra mụi
trng Vnh l vụ cựng ln. Hn na, vi tc tng dõn s nh võy, thnh
ph cn cú cỏc phng ỏn san lp mt bng lm khu dõn c, khu cụng
nghip Nhng hot ng nh vy s lm nh hng rt ln n ngun li v
mụi trng V
nh H Long.
1.3. Khai thỏc thu sn
Khai thỏc hu dit l vn m ngi dõn lm ngh khai thỏc ang ht sc bc
xỳc. Trc sc ộp v gia tng dõn s, nhu cu phc v khỏch du lich v phc
v cho xut khu, trong khi ngun li thỡ li ngy cng suy gim, nhiu ngi
dõn ó bt chp cỏc lut l khai thỏc bng cỏc cụng c hu dit v quỏ mc, hu
qu l lm cho ngun li h
i sn ó b suy kit li cng suy kit hn. Cỏc hỡnh
thc ỏnh bt hu dit m theo ngi dõn vn cũn hot ng trong Vnh l:
- ỏnh cỏ bng mỡn, rt ph bin ti cỏc vựng rn san hụ, bói ỏ ngm v
cỏc o (u Bờ, Vn H, Ba trỏi o) Gn õy, tỡnh trng khai thỏc

9

Mật độ tàu thuyền qua lại khu vực
vịnh rất tấp nập, với nhiề
u loại khác
nhau: Tàu đến lấy than ở cảng Hòn
Gai, Xà lan và các thuyền lớn chở
than từ Hòn Gai đến các cảng nối
tiếp, các loại tàu thuyền đánh cá, du
lịch …ngoài ra, hàng ngày còn có vài
trăm chuyến phà qua lại eo Cửa Lục.
Tất cả các phương tiện giao thông
này đều thải trực tiếp ra môi trường
vịnh các loại nước thải có chứa dầu,
các loại rác, chất thải sinh hoạt của
con người… các chất này đề
u có ảnh
hưởng không tốt đến môi trường
nước trong vịnh.

Thảo luận cộng đồng tại Ba Hang,
Hùng thắng

10
1.6. Dịch vụ du lịch
Là một di sản thiên nhiên thế giới, Vịnh Hạ long hành năm đón tiếp một lượng
khách du lịch rất lớn. Theo ước tính của ngành du lịch, Chỉ trong năm 2001
lượng khách đến du lich Quảng Ninh đạt gần 1,9 triệu người, phần lớn trong số
đó là khách đến thăm Vịnh hạ Long. Chất thải từ du lịch chủ yếu là chất thải
sinh hoạt nh
ưng thành phần hữu cơ cao hơn nhiều, đặc biệt là trong nước thải
từ khu bếp các nhà bếp các khách sạn, các nhà hàng. Rác thải gồm vỏ chai, vỏ

lý tổng h
ợp vùng bờ do họ là những người sống phụ thuộc nhiều nhất vào
nguồn tài nguyên trong vịnh.
Trên thực tế, có nhiều thành phần tham gia sử dụng nguồn lợi trong vịnh hơn
nhưng người dân với nhận thức của mình chỉ tìm ra một số thành phân tham
gia quan trong mà theo họ có tác động và gây ảnh hưởng đến nguồn lợi trong
vịnh.

112. Cấu trúc và đặc trưng của cộng đồng
2.1. Lich sử phát triển các cộng đồng thuỷ cư trên vinh hạ Long:
Theo những người lớn tuổi trong cộng
đồng còn nhớ và nghe kể lại thì các cộng
đồng ngư dân thuỷ cư trên vịnh Hạ Long
đã có từ rất lâu đời, Vào những năm đầu
thế kỷ 20, họ thuộc hai làng nổi có tên là
Giang Võng và Trúc Võng. Giang Võng
thuộc tổng Cẩm Phả
, châu Cẩm Phả tỉnh
Quảng Yên còn Làng trúc Võng thuộc
tổng Vạn Yên huyện Hoành Bồ. Sau
cách mạng tháng Tám, Giang Võng
được đổi tên thành xã Độc lập, còn Trúc
võng được đổi thành xã Thành công. Từ
năm 1955 tới nay, tuyệt đại bộ phận cư

không cần thiết phải vào bờ. Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp của thành
PRA tại Tuần Châu

12
phố, từ năm 2000, ngành giáo dục thành phố Hạ Long đã cho xây dựng những
trường học nổi để phổ cập tiều học và xoá nạn mù chữ. Năm 2002 nghề nuôi cá
lồng bắt đầu phát triển và mang lại lợi ích tài chính đang kể cho người dân các
làng nổi. Các hộ gia đình đã được vay vốn ưu đãi, được tập huấn các lớp
khuyến ngư … để phát triển nghề nghi
ệp.
Ngư dân trúc Giang, Trúc Võng xưa và Phường Hùng Thắng ngày nay đã bao
đời làm nghề đánh bắt thuỷ sản, dù sống ở dưới nước hay trên bờ thì họ vẫn
phải phụ thuộc vào ngư trường Vinh Hạ Long để sinh sống. Ngày nay, ngư
trường đó đang trở nên cạn kiệt, hơn nữa phương tiện đánh bắt của họ lại rất
thủ công, thô sơ với số vố
n kinh nghiệm đánh bắt nhỏ lẻ truyền thống, không
có khả năng “vươn khơi”. Những điều này đã làm cho cuộc sống của người dân
trở nên vô cúng khó khăn. Nuôi trồng thuỷ sản tại các bè nổi là một sinh kế
quan trọng đối với người dân thuỷ cư, tuy nhiên đây cũng không phải là một
nghề mà ai cũng có thể làm được vì cần có số vốn lớn. Gần đây, ngh
ề nuôi
trồng cũng bắt đầu gặp phải các vấn đề khó khăn do việc không kiểm soát được
chất lượng nước, các loại bệnh dịch cá bắt đầu xuất hiện mà vẫn chưa có các
biện pháp chữa bệnh cho hiệu quả.
2.2. Các nét đặc trưng của cộng đồng:
2.2.1 Dân số:
Theo các số liệu thống kê, dân số ở hai vùng nghiên cứu là xã Hùng Thắng là
3.841 người và xã Tuần Châu là 1.534 người. Đối v
ới các cộng đồng dân sống
thuỷ cư trong vịnh Hạ Long, sự không ổn định về mặt dân số thể hiện khá rõ.

4 20 33
5 16 26,7
6 6 10
7 9 15
Tổng số 60 100%

Tỷ lệ gần 5 người/hộ gia đình là một tín hiệu đáng mừng khẳng đinh quyết định
đúng đắn của UBND thành phố Hạ Long khi di dời bớt một số hộ dân sống
thuỷ cư lên trên bờ, con cái của các ngư dân có cơ hội được tách hộ, đươc lên
bờ học tập, công tác Chắc chắn trong tương lai, cuộc sống của họ sẽ đỡ vất vả

hơn.
- Trình độ học vấn:
Trình độ học vấn của người dân nói chung là thấp, đặc biệt là đối với các hộ
ngư dân sống trên biển. Trong số 60 người được hỏi thì có tới 6 là mù chữ
chiếm 10%, đều sống ở các làng thuỷ cư. Khoảng 30% có trình độ từ lớp 4 trở
xuống. Đối với các hộ sống thuỷ cư trên biển điều kiện họ
c hành của họ rất khó
khăn, cho đến vài ba năm trở lại đây với sự hỗ trợ của Nhà nước nên các thôn
này mới có lớp học, tuy nhiên cũng mới chỉ đến lớp 5. Phần lớn người dân khi
tham gia thảo luận đều nhận thức được rằng việc cho con cái đi học là rất cần
thiết, khi có điều kiện họ sẵng sàng cho con cái lên bờ để học tiếp cao h
ơn. Đây
là một trong những thay đổi về mặt nhận thức của những người dân thuỷ cư,
những người xưa kia thường có quan niệm rất đơn giản rằng, sinh con ra chỉ
cần có đủ sức khoẻ để có thêm lao động cho gia đình.
Tại Tuần Châu, trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng của xã đã được nâng
lên đáng kể, trước đây, khi ch
ưa có đường ô tô ra đảo, chưa có điện, trường học
không có, điều kiện học hành của người dân rất khó khăn, nên trình độ học vấn

của gia đình chiếm tỷ lệ rất cao (khoảng 2/3 số hộ phỏng vấn). Qua những con
số thực tế này có thể thấy mức độ phụ thuộc của cộng đồng ngư dân ven biển
vào nguồn lợi thủy sản là rất lớn, nếu nguồn lợi bị suy giảm sẽ
ảnh hưởng rất
lớn đến đời sống của họ. Trên thực tế, các hộ dân này đều đã ít nhiều phải chịu
ảnh hưởng của sự suy giảm nguồn lợi và môi trường, Việc năng suất đánh bắt
các loài hải sản ngày càng giảm đi, dịch bệnh của các loài cá lồng ngày càng
tăng lên là minh chứng cho điều này .
Vào những năm trước năm 2000, đời sống c
ủa các hộ dân trên biển hoàn toàn
phụ thuộc vào nghề khai thác thủy sản hoặc một số nhỏ sống bằng các nghề
khác như vận tải, dịch vụ du lịch… nhưng từ năm 2000 trở lại đây với việc làm
mô hình nhà bè của Nhà nước thì hình thức này đã được phát triển mạnh mẽ vì
nó đã phát huy nhiều ưu điểm. Hiện nay số các hộ có bè ở 4 thôn trên biển của

đạt gần 100%, với kiểu làm nhà bè thì người dân vừa có chỗ ở rộng rãi hơn
trước, an toàn hơn lại vừa có thể nuôi thêm các loại cá để tăng thu nhập cho gia
đình, nhờ vậy đời sống của bà con ngư dân hiện nay có thể nói đã khá hơn
trước rất nhiều.
Ngoài hai nghề chính là đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, dịch vụ du lịch cũng
là một nghề đang mang lại nhiều cơ
hội về kinh tế cho cộng đồng. Rất nhiều hộ
gia đình được hỏi có tham gia vào làm các khâu trong du lịch như cung cấp cá
thực phẩm cho khách du lịch, làm dịch vụ cho thuê thuyền du lịch (thuyền chèo
tay), làm công nhân công ty du lich (công ty Âu lạc - Tuần Châu)…Mặc dù chỉ
có 13% số hộ coi du lich là nghề chính nhưng du lịch cũng có thể coi là một
nghề quan trọng đối với cộng đồng dân ở Vịnh Hạ Long. Cùng với sự phát
triển củ
a ngành du lịch Quảng Ninh, các cơ hội tăng thu nhập cho cộng đồng
cùng tăng lên.

và nhà nhiều có thể có tới trên 10 lồng. Nhưng số ô lồng phổ biến nhất
là từ 4-6 ô. Tại Tuần Châu, nghề nuôi sò huyết cũng vẫn còn tồn tại
nhưng ngày nay đang bị gi
ảm năng suất và diện tích do việc xây dựng
khu du lịch Đảo Tuần Châu.
Thị trường tiêu thụ của ngư dân ở vùng này chủ yếu là tại địa phương và xuất
tiểu ngạch đi Trung Quốc. Sản phẩm làm ra được bán cho các thương lái rồi từ
đó mới đưa đi các nơi khác tiêu thụ hoặc bán cho các nhà máy chế biến. Một số
ít được bán cho khách du lịch hoặc là bán lại cho các nhà hàng nổi để phụ
c vụ
nhu cầu tiêu dùng.
2.3. Các phong tục, tập quán, lễ hội
Từ xa xưa, do điều kiện sống ở trên biển với nghề đánh cá nay đây, mai đó nên
các tập tục của ngư dân ở hạ long tương đối khác các cộng đồng dân cư khác.
Theo một số người cao tuổi, và dư địa chí Quảng Ninh, các tập tục quan trọng
là:
Tết nguyên đán: Nhiều nơi không có tục cúng ông Táo, chiều 30 tế
t, các gia
đình làm từ 2-4 chiếc thuyền bằng bẹ chuối. Trên mỗi thuyền có cắm 6 lá cờ
đuôi nheo bằng giấy màu xanh đỏ. Trên mặt thuyền còn trải một một tờ giấy
đỏ, đặt một dúm gạo, 3 nén hương, khi cúng gia tiên, tiễn biệt năm cũ, chủ nhà
đứng đằng lái thả thuyền xuống biển và đốt vàng mã, kết thúc năm cũ.
Sáng mùng một, có thể là chiều 30 tết, anh em dòng họ đẩy thuyền quây quầ
n
tại một khu vực để cùng nhau ăn tết và chèo thuyền đi chúc tết. Sau 3 ngày ăn
tết, tuỳ dòng họ chọn ngày, thông thường lấy ngày mung 6 hoặc mùng 8 tết làm

16
lễ ra binh, tức là quay mũi thuyền để đi làm. Trưởng họ và các chủ giá đình làm
lễ cúng ra binh rồi cùng chèo thuyền đi đến các nơi đã định trước để đánh cá.

3.1 Nhận thức c
ộng đồng về các hệ sinh thái
Nhận thức của người dân đối với các giá trị của các hệ sinh thái như rừng ngập
mặn, san hô, thảm cỏ biển…rất quan trọng trong việc đưa ra các quyết định về
QLTHVB, Việc đánh giá được mức độ nhận thức của người dân sẽ giúp cho
các nhà quản lý đưa ra các chương trình nâng cao nhận thức thích hợp trong kế
họach QLTHVB
Nhóm điều tra đ
ã sử dụng một số câu hỏi theo dạng cho điểm để đánh giá nhận
thức của người dân. Các các câu hỏi được dựa vào kinh nghiệm từ phương
pháp SOCMON. Kết quả cho thấy có sự rất khác nhau tùy theo nhận thức của
mỗi người. Chỉ một số người nhìn nhận được tầm quan trọng của các hệ sinh
thái này, còn lại đại đa số không cảm nhận được hoặc c
ảm nhận được nhưng
chỉ ở mức độ mơ hồ. Ý kiến của họ được tập hợp ở bảng sau:

Các giá trị Htoàn
ủng
Đồng
ý
Ko
có ý
Ko
đồng
Phản
đối

17
hộ kiến ý kịch
liệt

- Về việc chặt bỏ san hô
để tạo thuận lợi cho việc khai thác thì có khoảng
3/4 không đồng ý và kịch liệt phản đối, số còn lại không có ý kiến. Như vậy
vẫn còn rất nhiều người chưa thực sự thấy hết tầm quan trọng của rạn san hô
đối với cuộc sống của các cộng đồng dân cư ven biển như họ. Mặc dù, trong
quá trình thảo luận, gần như 100% người dân tham gia đều biết vị trí các vùng
có san hô trong vịnh, nhưng khi nói về tác dụng của san hô đối với họ thì các ý
kiến rất khác nhau, có nhiều người chỉ biết là san hô rất quan trọng nhưng quan
trọng như thế nào thì họ lại không biết
- Nếu rừng ngập mặn không được bảo vệ sẽ không có cá để bắt: đối với
vấn đề này nhận thức của người dân rõ ràng hơn vì đây là vấn đề họ có thể nhìn
thấ
y theo cảm giác trực quan của họ, đặc biệt là những người dân Phường Tuần
Châu, những người thấy rõ nhất sự thay đổi về mặt nguồn lợi khi rừng ngập
mặn bị suy giảm. Có tới 85% số người được hỏi đồng ý với ý kiến này và chỉ
có 15% số người là không có ý kiến.
- San hô chỉ quan trọng cho khai thác hoặc lặn: Đây là vấn đề khá trừu
tượng nên với trình độ
học vấn thấp người dân khó có thể nhận thấy cho nên có
tới hơn một nửa số người được hỏi là không có ý kiến gì, số còn lại thì không
đồng ý hoặc phản đối ý kiến này.

18
- Muốn các thế hệ tương lai có rừng ngập mặn và san hô: số người đồng ý
đạt hơm 80% vì họ cũng nhận thức được rằng rừng ngập mặn là nơi cho các
loại thủy sản sinh trưởng và phát triển, nếu không có rừng ngập mặn chúng sẽ
không có nơi cư trú và nguồn lợi sẽ bị ảnh hưởng từ đó đời sống của họ sẽ
giả
m xuống. Từ nhận thức này người dân rất mong Nhà nước tăng cường quản
lý rừng ngập mặn để nguồn lợi được khôi phục, mong muốn này được 100% số

những người tham gia thảo luận đều nhận thấy nguồn lợi này hiện đang bị suy
giảm nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất của họ. Tuy nhiên,
để đánh giá sâu hơn nhận thức của người dân, các câu hỏi “mở rộng” hơn đã
được thiết lậ
p để đánh giá. Nhận thức về hiện trạng nguồn lợi như sau:
Nguồn lợi Rất tốt Tốt Ko tốt,
ko xấu
Xấu Rất
xấu
Ko có ý
kiến
Rừng ngập mặn 0 8 17 16 6 13
Rạn san hô 0 10 13 22 4 11
Thảm có biển 0 2 17 4 0 37
Bờ biển 2 9 17 20 0 12
Nước ngọt (sông) 0 0 10 3 5 42
Rừng đầu nguồn 0 2 12 11 0 35

19
Đánh giá của người dân về hiện trạng nguồn lợi của vùng vịnh Hạ Long rất
khác nhau, bên cạnh đó sự đánh giá này mang tính chất chủ quan và phụ thuộc
rất nhiều vào trình độ nhận thức của mỗi người, mức độ tiếp xúc của họ đối với
nguồn lợi. Tuy vậy nhìn chung có một số nét cần lưu ý như sau:
Đối với các nguồn lợi mà người dân ti
ếp xúc nhiều như: rừng ngập mặn, rạn
san hô và bờ biển thì đại đa số nhận thức được và có ý kiến rõ ràng. Phần lớn ý
kiến cho rằng các nguồn lợi này đang bị xấu đi vì bị nhiều nguyên nhân tác
động. Các nguyên nhân chính có thể kể ra là:
• Hoạt động nuôi tôm sú phát triển đã gây ra tình trạng phá họai rừng
ngập mặn để lấy đất nuôi tôm, điều này dẫn đến r

Nguy cơ Số ý kiến
Ô nhiễm môi trường 56
Các hoạt động khai thác trái phép 55
Do điều kiện tự nhiên 10
Không có quy hoạch 9
Có quá nhiều tàu khai thác 28

20
Ô nhiễm môi trường là vấn đề được người dân đề cập đến nhiều nhất, Đây là
vấn đề không chỉ của các cộng ngư dân mà là vấn đề chung của cả vịnh Hạ
Long. Nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường bao gồm các hoạt động sau:
- Lượng tàu thuyền tăng nhanh, số tàu thuyền này không chỉ riêng các tàu
đánh cá mà còn có sự tăng lên của các tàu làm dịch vụ du lịch. Mặc dù số
lượng tàu tăng lên nhưng các bi
ện pháp hạn chế chất thải dầu mỡ từ các tàu này
lại chưa hữu hiệu, dẫn đến việc ô nhiễm dầu tăng nhanh.
- Số khách du lịch cũng tăng lên đáng kể từ khi vịnh Hạ Long được công
nhận là di sản văn hóa của thế giới, lượng khách du lịch tăng sẽ làm tăng thu
nhập cho địa phương nhưng ngược lại nó cũng làm tăng lượng chấ
t thải xuống
biển gây ô nhiễm cho môi trường nước, làm ảnh hưởng đến các hoạt động nghề
cá.
- Các chất thải từ ao, đầm nuôi tôm cũng là một trong những nguyên nhân
làm ảnh hưởng đến môi trường.
Nguy cơ về các hoạt động khai thác trái phép được phản ánh khá nhiều có
đến hơn 90% số người được hỏi cho đây là một nguy cơ chinh đối với nguồn
lợi ven biển. Các hoạt động này phổ bi
ến là hiện tượng đánh bắt huỷ diệt bằng
mìn, điện và dùng các loại hóa chất để bắt cá. Thời gian gần đây các hoạt động
bảo vệ nguồn lợi đã được tăng cường nhưng với một địa bàn rộng lớn và có

quy định chiếm khoảng hơn 60% số còn lại không biết tới các quy định này,
môt phần do trình độ học vấn thấp và môt phần khác là do không được biết tới
các quy định đó.
- NTTS: số ng
ười nhận thức được khoảng 80%. Số còn lại trả lời không
biết.
Như vậy là các qui đinh, nguyên tắc trong ngành thuỷ sản được nhiều người
biết đến hơn cả. Điều này cũng dễ hiểu vì hai cộng đồng dân nghiên cứu là hai
cộng đồng có số lượng người dân làm nghề thuỷ sản rất đông, do vậy, số người
hiểu được các nguyên tắc, qui định v
ề ngành này sẽ nhiều hơn các ngành khác.
Các hoạt động khác số người nhận thức được chỉ đạt từ 25-30%. Người dân
biết tới các quy định này đa số là do truyền từ người này đến người khác chứ
các hoạt động mang tính chất phổ biến rộng rãi rất ít một phần do điều kiện đi
lại tại các xã, phường này khó khăn và thêm vào đó lực lượng tuyên truyền còn
quá ít so với nhu c
ầu thực tế.
3.5. Các vấn đề hiện đang được người dân quan tâm trong quản lý vùng bờ
Các vấn đề trong quản lý vùng ven biển hiện nay theo đánh giá của người dân
được tập hợp ở bảng dưới đây:
TT Vấn đề Số ý kiến
1 Quản lý môi trường 36
2 Quản lý các hoạt động KThác trái phép 34
3 QLý hoạt động phá rừng, đổ đất đá ven bờ 21
4 Qlý dân nơi khác đến cư trú 2
5 Thiếu vốn 33
6 Cán bộ ít tiếp xúc với dân 11
7 Có quá nhiều tàu (khai thác, du lịch) 21
8 Địa bàn phức tạp 4
9 Kỹ thuật khai thác, đầu ra sản phẩm 8

1 Tổ chức thu gom rác thải 45
2 Tăng cường quản lý 41
3 Tăng cường tiếp xúc với dân để giúp dân 15
4 Cho vay vốn 12
5 Nhắc nhở các hoạt động phá hoại 9
6 Quy hoạch lại khu dân cư 9
7 Tăng cường cán bộ 5
Vấn đề tổ chức thu gom rác
thải là vấn đề được nhiều người đưa
ra nhất vì theo người dân, quản lý
được rác thải là sẽ giảm được phần
lớn ô nhiễm môi trường nước trong
Vịnh. Mặc dù, việc thu gom rác thải
hiện nay đã được thực hiện khá tốt
ở cả trên bờ lẫn dưới biển nhưng
người dân vẫn cho rằng đây là vấn
đề c
ần được quan tâm trong các giải
pháp quản lý vùng bờ
Theo ý kiến ủa người dân, nên tổ chức công tác thu gom rác thải nhiều hơn nữa
để bảo vệ môi trường tốt hơn. Hiện nay Ban quản lý vịnh Hạ long cũng đã và
đang tổ chức các đội thu gom rác nhưng công tác này vẫn còn hạn chế vì vậy
Tàu thu gom rác trên vịnh hạ Long

23
lượng rác thải vẫn còn tồn đọng dưới biển nhiều, đây là nguy cơ tiềm tàng gây
ra sự ô nhiễm.
Về giải pháp quản lý thì đa số cho rằng nên tăng cường các biện pháp quản lý
(41/60) nhằm giám sát được các hoạt động làm ảnh hưởng đến cộng đồng, các
cộng đồng ngư dân ngày nay đang rất bức xúc với các hiện tượng khai thác trái

môi trường ở đây là ô nhiễm môi trường nước trong Vinh, việc này lảm ảnh
hưởng nhiều đến nhề nuôi cá lồng, môt nghề đang mang lại nhiều lợi nhuận
cho người dân. Theo người dân, ô nhiễm môi trường nước làm cho các bệnh
dịch mới ở các loài cá nuôi xuất hiện và nhiều người cũng rất mong có được
các kỹ thuật nuôi trông thuỷ sản mới để có thể phòng trị dịch bệnh và nâng cao
năng suất nuôi trồng.
3.8 Quan điểm về thay đổi nghề nghiệp:

24
Về sự mong muốn chuyển đổi nghề nghiệp trong tương lai thì có 35% số hộ
được hỏi là có mong muốn được chuyể đổi, sô còn lại không muốn thay đổi
nghề.
Các hộ có mong muốn chuyển đổi nghề phần nhiều là các hộ dân làm nghề
khai thác vì một thực tế hiện nay cho thấy đó là nguồn lợi bị suy giảm, lượng
tàu thuyền đánh bắt nhiều không chỉ trong địa phương mà còn có c
ả những ngư
dân ở các nơi khác đến nên sản lượng đánh bắt bị giảm, điều này sẽ ảnh hưởng
đến đời sống của họ. Vịnh Hạ Long là nơi tập trung nhiều hoạt động phát triển
kinh tế xã hội, vì vậy, các cơ hội tìm kiếm việc làm đối với người dân cũng sẽ
nhiều hơn, đặc biệt là đối với nghề d
ịch vụ du lịch. Nghề khai thác thuỷ sản
hiện nay đã quá bấp bênh và rất nhiều người dân khai thác đã không muốn tiếp
tục theo nghề này nữa. Tuy nhiên, môt điều có thể dễ dàng nhận thấy là những
người có mong muốn chuyển nghề hầu hết nằm ở Phường Tuần Châu vì ở địa
phương này, nghề du lich đang có cơ hội phát triển
Còn đối với các hộ ngư dân sống trên bi
ển thuộc phường Hùng Thắng thì gần
như 100% số hộ không muốn chuyển đổi nghề, họ vẫn muốn sống với nghề
đánh cá bởi vì đây là nghề truyền thống của cha ông họ từ xưa đến nay. Có rất
nhiều nhà đã sống trên biển 3-4 đời và họ không muốn bỏ nghề. Một nguyên

25
một nửa số già, tuổi từ 45-50 làm công việc giang tuần… Nhiệm kỳ của Giang
tuần là 1 năm, chỉ huy đội giang tuần là xã đoàn…Mỗi tối, xã đoàn nổi hiệu
lệnh gọi giang tuần đi phòng trong giang phận của làng. Người nào bỏ công
việc không có lý do thì bị phạt 1 hào. Ai bận có thể nhờ anh em đi thay. Giang
tuần cũng có thể nhờ người khác đi thay hoặc nộp tiền vào công quĩ để không
phải đi tuần. Trong khi làm nhiệm vụ, nếu giang tuần có công bắt trộm cướp
hoặc bị hại sẽ được làng khen thưởnghoặc bồi thường…Nếu bỏ bê nhiệm vụ để
trong làng xảy ra mất trộm thì vừa phải bồi thường, vừa phải chịu phạt.
Như vậy, từ thời xưa do chưa có các cơ quan chức năng, cha ông ta đã biết tự
làm các công việc thay phiên nhau canh phòng, b
ảo quản làng xóm tương đối
tốt. Mặc dù, đối tượng bảo quản ở đây chưa thực sự là tài nguyên vùng bờ
nhưng những việc mà người xưa làm được đáng để cho chúng ta học tập. Bài
học ở đây là tính tự chủ, tính trách nhiệm trong công việc tuần tra canh gác
của các công đồng ngư dân, vấn đề mà nhiều dự án “bảo vệ tài nguyên ven bờ
trên cở sở cộng đồng”
đang hướng tới. Nó cũng khẳng định một thực tế là, khi
các cộng đồng ngư dân được giao quyền sở hữu một vùng mặt nước nhất định,
họ có thể tự quản lý được.
Ở các ngư trường, mọi người được tự do đánh bắt cá và các loại thuỷ sản khác
theo nguyên tắc “chim trơi cá nước, ai được thì ăn” dù ngư trường có thuộc hải
phận củ
a làng nào. Tuy nhiên việc đánh bắt hải sản bằng các phương tiện di
động tại các ngư trường vẫn được các ngư dân tuân thủ theo các nguyên tắc lâu
đời sau:
- Nếu đánh lưới theo chiều nước, người đến sau phải thả lưới sau người
đến trước, và phải tính được chiều dài lưới của mình với chiều dài lưới
của người thả trước để lưới khỏi bị mắc vào nhau. Thông th
ường các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status