BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ---------------
NGUYỄN THỊ XUÂN MAI
PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VÀ TÍNH CHỈ SỐ
TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH KINH TẾ HỌC
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ---------------
NGUYỄN THỊ XUÂN MAI
PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VÀ TÍNH CHỈ SỐ
TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: THỐNG KÊ KINH TẾ
Mã số: 9310101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. TRẦN THỊ KIM THU
trong nhiều lĩnh vực đã cùng tham gia thảo luận, nhận xét và đóng góp những ý kiến
quý báu để Luận án được hoàn chỉnh hơn.
Xin cảm ơn các anh chị trong Tổng cục Thống kê và các cơ quan Bộ, ngành đã
nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập số liệu.
Xin được gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo khoa Thống kê, các thầy cô và đồng
nghiệp trong khoa cũng như trường Đại học Kinh tế quốc dân vì đã động viên, giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận án.
Tôi xin cảm ơn Viện Sau đại học, trường Đại học Kinh tế quốc dân, đã luôn tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình tôi đã luôn quan tâm, động viên,
làm hậu phương vững chắc để tôi có thể yên tâm thực hiện nghiên cứu.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên, do khả năng có hạn nên luận án còn tồn tại
nhiều thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý và chỉ dẫn của các nhà khoa học, các
thầy cô và bạn bè đồng nghiệp.
Trân trọng cảm ơn!
iii
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT....................................................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG..................................................................................................................... viii
DANH MỤC HÌNH........................................................................................................................ ix
PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài..................................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu............................................................................................................. 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................................................... 8
4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................................... 8
5. Những đóng góp mới của luận án..................................................................................... 9
cuộc sống ở Việt Nam....................................................................................... 50
2.1.3. Các tiêu chí lựa chọn chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc sống .. 52
2.1.4. Qui trình xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc
sống............................................................................................................................... 54
2.2. Đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc sống ở Việt Nam . 55
2.2.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế............................................................. 55
2.2.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện nhà ở và cơ sở hạ tầng căn bản...............58
2.2.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh giáo dục........................................................................... 60
2.2.4. Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện chăm sóc y tế và sức khỏe.........................63
2.2.5. Nhóm chỉ tiêu phản ánh quan hệ gia đình............................................................ 66
2.2.6. Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự tham gia sinh hoạt cộng đồng và các hoạt động
văn hóa, giải trí.......................................................................................................... 68
2.2.7. Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện môi trường tự nhiên.................................... 70
2.2.8. Nhóm chỉ tiêu phản ánh môi trường xã hội.......................................................... 72
2.2.9. Nhóm chỉ tiêu phản ánh quản trị............................................................................. 74
2.2.10. Nhóm chỉ tiêu phản ánh quyền chính trị............................................................. 76
2.2.11. Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự hài lòng với cuộc sống.......................................... 78
2.2.12. Nhóm chỉ tiêu đánh giá tổng hợp về chất lượng cuộc sống........................... 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2........................................................................................................ 84
v
CHƯƠNG 3. XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH CHỈ SỐ TỔNG HỢP CHẤT
LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở VIỆT NAM................................................................................... 86
3.1. Tổng quan về các phương pháp xây dựng chỉ số tổng hợp................................ 86
3.1.1. Khái niệm và ưu, nhược điểm của chỉ số tổng hợp............................................. 86
3.1.2. Phương pháp tính chỉ số tổng hợp.......................................................................... 88
3.1.3. Lựa chọn phương pháp tính chỉ số tổng hợp........................................................ 89
3.2. Đề xuất phương pháp tính chỉ số tổng hợp chất lượng cuộc sống ở Việt Nam .93
Quy trình phân bổ ngân sách
CECODES
Center for Community Support Trung tâm nghiên cứu phát
Development Studies
triển hỗ trợ cộng đồng
Chất lượng cuộc sống
EIU
Economist Intelligence Unit
Cơ quan Tình báo Kinh tế
FA
Factor Analysis
Phân tích nhân tố
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
GHI
tuổi
Kinh tế xã hội
KTXH
MCA
Multi-Criteria Analysis
Phân tích đa tiêu chí
MQL
Malaysia Quality of Life
Chỉ số chất lượng cuộc sống
NEF
New Economics Foundation
của Malaysia
Quỹ Kinh tế mới
OECD
Organisation for
Co-operation
Development
Index of Public Chỉ số hài lòng về sự phục vụ
UNDP
Administrative Services
United Nation Development
VSDGI
Programme
Vietnam
hành chính
Chương trình Phát triển Liên
hợp quốc
Sustainable Danh mục chỉ tiêu thống kê
Development Goal Indicators
WHI
World Happiness index
phát triển bền vững của Việt
Nam
Chỉ số Hạnh phúc thế giới
WHO
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Khung lý thuyết nghiên cứu chất lượng cuộc sống ở Việt Nam.........................44
Hình 2.1. Tổng quan quá trình xây dựng hệ thống chỉ tiêu.................................................... 47
Hình 3.1. Sơ đồ lựa chọn phương pháp tốt nhất khi xây dựng chỉ số tổng hợp................92
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề chất lượng cuộc sống (CLCS) (tiếng anh là Quality of Life) và nâng cao
chất lượng cuộc sống của người dân là nội dung chủ yếu trong chiến lược phát triển con
người. Đây là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội (KTXH) của
mọi quốc gia, là vấn đề được nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam hết sức quan
tâm. Năm 2009, Ủy ban Đo lường hiệu quả kinh tế và tiến bộ xã hội bao gồm 22 chuyên
gia kinh tế và khoa học xã hội dưới sự điều hành của giáo sư Joseph Stiglitz, Nobel kinh
tế 2001, đã trình lên tổng thống Pháp một bản báo cáo hơn 300 trang về “Đo lường hiệu
quả kinh tế và tiến bộ xã hội”, được gọi tắt là báo cáo Stiglitz. Theo báo cáo này, mọi
người trong xã hội không được hưởng những thành tựu kinh tế như nhau. Do đó song
song với chỉ số tăng trưởng GDP, vốn được sử dụng để đo lường của cải mà một quốc
gia tạo ra trong năm, Ủy ban Stiglitz đề nghị một vài chỉ số khác chú trọng nhiều hơn
đến chất lượng đời sống và hạnh phúc con người, cũng như đến khả năng một nền kinh
tế duy trì được mức hạnh phúc đó một cách lâu dài. Theo đó, một chính phủ nên có hai
loại chỉ số, một chỉ số thuần túy kinh tế và bên cạnh đó là chỉ số chất lượng cuộc sống.
Tuy nhiên, không phải đến lúc này, vấn đề CLCS mới được đặt ra. Trên thực tế,
đây là vấn đề đã được thảo luận từ rất lâu. Theo Hagerty và cộng sự (2001), Plato và
Aristotle (384-322 trước Công nguyên) đã từng đề cập tới “good life - cuộc sống tốt” và
các chính sách công nhằm nuôi dưỡng nó. Theo Massam (2002), vào những năm 1930,
dựng hai công cụ đo lường CLCS là WHOQOL-100 (gồm 100 chỉ báo) và WHOQOLBREF (gồm 26 chỉ báo rút gọn từ WHOQOL-100) được sử dụng ở nhiều bối cảnh khác
nhau mà vẫn cho phép so sánh kết quả giữa các tổng thể hoặc các quốc gia. Tổ chức
Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organisation for Economic Co-operation and
Development - OECD) đã tính chỉ số Cuộc sống tốt đẹp hơn (Better Life Index) phản
ánh CLCS cho 35 quốc gia thành viên và một số đối tác chính như Brazil, Nga và Nam
Phi. Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat) xây dựng ấn phẩm online “Chất lượng cuộc
sống ở châu Âu” (Quality of Life in Europe) nhằm cung cấp các số liệu thống kê mới
nhất về CLCS của các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu. Cơ quan Tình báo Kinh tế
(The Economist Intelligence Unit - EIU) đã xây dựng chỉ số CLCS (Quality of life
index) dựa trên phương pháp kết nối kết quả các cuộc điều tra sự hài lòng mang tính chủ
quan với cuộc sống và các yếu tố mang tính khách quan về CLCS ở các quốc gia. Đến
năm 2013, chỉ số này được đổi tên thành Nơi được sinh ra (Where-to-be-born index),
cho biết liệu quốc gia nào sẽ cung cấp những cơ hội tốt nhất cho một cuộc sống lành
mạnh, an toàn và thịnh vượng trong những năm tới. Quỹ Kinh tế mới (New Economics
Foundation - NEF) sử dụng chỉ số Hành tinh hạnh phúc (The Happy Planet Index - HPI)
nhằm đo lường sự hạnh phúc bền vững và tác động của môi trường. Trong bối cảnh
hạnh phúc ngày càng được coi là một thước đo thích hợp của tiến bộ xã hội và mục tiêu
của chính sách công, Liên hợp quốc đã tính chỉ số Hạnh phúc thế giới (World Happiness
index - WHI). Đây mới chỉ là một số ít kết quả nghiên cứu về CLCS của các tổ chức
quốc tế.
3
Không chỉ các tổ chức quốc tế mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng nghiên cứu, xây
dựng hệ thống chỉ tiêu đo lường CLCS và tính chỉ số tổng hợp phản ánh CLCS hay những
khái niệm tương tự như thế. Có những chỉ số khá nổi tiếng trên thế giới như chỉ số Tổng
hạnh phúc quốc gia (Gross National Happiness - GNH), đang được sử dụng bởi chính phủ
Bhutan, là một chỉ số đo lường CLCS hay tiến bộ xã hội dưới giác độ tâm lý học và triết
học. Nhiều quốc gia khác như Anh, Pháp, New Zealand, Canada… đều thực hiện các cuộc
4
phù hợp với điều kiện và bối cảnh KTXH của Việt Nam chưa hay liệu đã phản ánh
chính xác CLCS ở Việt Nam chưa?
Nhiều năm qua, có rất nhiều nghiên cứu về CLCS được thực hiện trên thế giới.
Các nghiên cứu này đi từ việc xây dựng khái niệm CLCS đến việc đo lường CLCS và so
sánh, đánh giá CLCS. Tuy nhiên, ở Việt Nam, những nghiên cứu mang tính học thuật về
vấn đề này còn tương đối ít.
Liên quan đến khái niệm CLCS, đã có một số nghiên cứu, bài viết đề cập đến vấn
đề này. Nguyễn Thị Kim Thoa (2003) có bàn luận về khái niệm CLCS dựa trên cơ sở
tổng hợp nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau của các học giả trên thế giới. Tác giả đã kết
luận: “CLCS thể hiện ở mức sung túc về kinh tế, con người có giáo dục, sống khỏe
mạnh và trường thọ, được sống trong môi trường tự nhiên, xã hội, nhân tạo an toàn, bình
đẳng và được tôn trọng”. Vũ Mạnh Cường (2011) quan niệm CLCS được thể hiện trên
bốn nội dung: (1) Phát triển con người, (2) Phát triển văn hóa, (3) Công bằng xã hội và
(4) Xóa đói giảm nghèo. Như vậy, nâng cao CLCS chính là xây dựng con người toàn
diện có đời sống văn hoá và tinh thần cao, phát huy những giá trị sống và đạo đức tốt
đẹp trong xã hội; là tăng chỉ số Phát triển con người (Human Development Index HDI); là giảm dần tình trạng đói nghèo; và thực hành công bằng xã hội. Năm 2012, hội
thảo khoa học “Chất lượng cuộc sống của người dân thành phố Hồ Chí Minh trong bối
cảnh kinh tế hiện nay” được tổ chức. Trình bày tại hội thảo, tác giả Nguyễn Hữu Nguyên
(2012) cho rằng, CLCS là tổng hòa của nhiều yếu tố trong đời sống vật chất và tinh thần
của con người, với ba nhóm chính gồm: (1) mức sống vật chất: ăn, ở, mặc, đi lại, điều
kiện và cường độ lao động… (2) mức sống tinh thần: trật tự, an toàn xã hội, bình đẳng,
công bằng xã hội, hưởng thụ văn hóa, hưởng thụ giáo dục… và (3) môi trường sinh thái
tự nhiên: khí hậu, thời tiết, mức độ ô nhiễm không khí, nguồn nước, mặt đất, tiếng ồn…
Theo tác giả, cần khảo sát tất cả các nội dung trên mới đủ cơ sở để đánh giá về CLCS.
Tác giả Hồ Bá Thâm (2012) cũng đưa ra một số bàn luận về khái niệm CLCS, các tiêu
chí để đánh giá và kết luận có 11 nhân tố tác động đến CLCS. Tuy nhiên, những bài viết
trên mới chỉ dừng lại ở mức độ gợi mở vấn đề chứ chưa bàn luận sâu vào cơ sở lý thuyết
trường lớp, các hoạt động vui chơi hoặc sở thích. Khía cạnh kinh tế không phải là nhân
tố quan trọng trong nhận thức của trẻ. Ngoài ra nghiên cứu cũng đưa ra những gợi ý về
việc xây dựng các bảng hỏi đánh giá CLCS trẻ em bằng tiếp cận tâm lý học.
Bên cạnh đó, đã có một số nghiên cứu đề cập đến sự hạnh phúc, sự hài lòng với cuộc
sống. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Viện Chính sách và Chiến lược phát
triển nông nghiệp nông thôn, Viện Khoa học Lao động Xã hội và nhóm nghiên cứu kinh tế
phát triển thuộc trường Đại học Tổng hợp Copenhagen đã thực hiện một nghiên cứu về
“Đặc điểm kinh tế nông thôn Việt Nam”, trong đó vấn đề hạnh phúc, sự hài lòng của người
dân nông thôn với CLCS đã được đề cập tới. Nghiên cứu này bắt đầu từ năm 2002 và từ
2006 trở lại đây được thực hiện cứ 2 năm 1 lần. Trong lần gần nhất, năm 2014, nghiên cứu
thực hiện điều tra tại 3648 hộ gia đình ở nông thôn tại 12 tỉnh trong cả nước. Kết quả điều
tra cho thấy, 43,9% người được hỏi trả lời là có hạnh phúc trong cuộc sống (năm 2012 tỷ lệ
này là 49,3%). Bên cạnh đó, có mối quan hệ rõ ràng giữa tình trạng nghèo đói và mức độ
hạnh phúc, hài lòng với cuộc sống vì những hộ giàu thường có mức hài lòng cao hơn trong
khi phần lớn hộ nghèo lại không hài lòng. Các yếu tố tác động tới sự hài lòng của người dân
nông thôn về cuộc sống được sắp xếp theo
6
trình tự từ cao đến thấp là (1) sức khỏe, (2) thu nhập, (3) cuộc sống ổn định, (4) kết hôn,
(5) có con, (6) nghề nghiệp, (7) có hàng xóm và bạn bè tốt và (8) tự do (CIEM, 2014).
Kết quả này cho thấy, quan niệm của người dân nông thôn Việt Nam về hạnh phúc khá
đơn giản. Điều này cũng xuất phát từ đặc điểm của người dân nông thôn là rất coi trọng
gia đình, cuộc sống gắn chặt với làng xã, ít va chạm với bên ngoài, có trình độ học vấn
thấp, thu nhập thấp, ít được bảo đảm an sinh xã hội. Đây là một nghiên cứu khá toàn
diện về đặc điểm của nông thôn cũng như cuộc sống của người dân nông thôn Việt Nam
trong những năm qua. Tuy nhiên, nghiên cứu đã không xem xét tới một bộ phận dân cư
thành thị đang ngày càng tăng. Mặt khác, việc đánh giá mức độ hạnh phúc hay hài lòng
với cuộc sống được thực hiện rất đơn giản, chỉ bằng câu hỏi có/không và yêu cầu xếp
không có quá nhiều sự khác biệt hay chênh lệch về mức độ hài lòng về đời sống tinh
thần của những nhóm người khác nhau về đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm xã hội.
Tuy nhiên, yếu tố thực sự có tác động đáng kể đến mức độ hài lòng về đời sống tinh
thần chính là kinh tế của bản thân và gia đình (thu nhập, tài sản), đặc biệt là sự hài lòng
về thu nhập.
Đây là cuộc điều tra quy mô lớn đầu tiên về sự hài lòng của người dân về cuộc
sống ở Việt Nam. Tuy nhiên, cơ sở lý thuyết để xây dựng thang đo sự hài lòng về cuộc
sống chưa được nghiên cứu làm rõ. Các khía cạnh của sự hài lòng mới chỉ tập trung vào
các vấn đề hết sức cơ bản, có liên quan mật thiết đến cuộc sống hàng ngày của người
dân và được đo lường đơn chiều qua một chỉ báo. Đây là một nhược điểm lớn của
nghiên cứu này.
Mặc dù những nghiên cứu về CLCS trên thế giới là rất phong phú và đa dạng,
nhưng những nghiên cứu về CLCS ở nước ta hiện còn rất hạn chế. CLCS của Việt Nam
mới chỉ được quốc tế đánh giá và so sánh trên bình diện thế giới. Ở tầm quốc gia, chúng
ta mới dừng lại ở những cuộc luận bàn, trao đổi về khái niệm. Một số nghiên cứu khác
mới chỉ xem xét một phần của CLCS như sự hài lòng với cuộc sống hay đo lường CLCS
của từng nhóm người riêng biệt như trẻ em, người cao tuổi dưới góc độ tâm lý học, y
tế... Bản thân khái niệm và nội hàm của khái niệm CLCS ở Việt Nam hiện chưa được
làm rõ. Chính vì khái niệm chưa rõ ràng nên việc đo lường và đánh giá CLCS ở Việt
Nam cũng mơ hồ, tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của người đánh giá. Các chỉ tiêu đo
lường CLCS nằm rải rác và không có hệ thống nên không cho phép đánh giá một cách
toàn diện về CLCS. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu về CLCS ở Việt Nam.
Xuất phát từ cơ sở thực tiễn về mặt chính sách và khoảng trống nghiên cứu, việc thực
hiện luận án “Phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá chất lượng
cuộc sống ở Việt Nam” là hoàn toàn cần thiết. Luận án sẽ đáp ứng được về mặt lý luận
khi đề xuất được phương pháp xây dựng và tính chỉ số tổng hợp đánh giá CLCS ở Việt
Nam, đồng thời đáp ứng về mặt thực tiễn, khi là cơ sở thực hiện so sánh, đánh giá để thấy
được sự thay đổi, phát triển CLCS của người dân qua thời gian và không gian.
2. Mục đích nghiên cứu
tiêu thống kê đo lường CLCS và chỉ số tổng hợp CLCS ở Việt Nam.
Cụ thể hơn, phạm vi nghiên cứu về nội dung của luận án được xác định dựa trên
mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu như đã nêu. Trong đó, luận án sẽ tập trung
làm rõ cơ sở lý luận của CLCS để từ đó lựa chọn khái niệm CLCS phù hợp với bối cảnh
KTXH của Việt Nam hiện nay. Tiếp theo, luận án sẽ lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thống kê
đo lường CLCS ở Việt Nam. Đây là cơ sở để luận án đề xuất phương pháp tính chỉ số
tổng hợp đánh giá CLCS.
Tuy nhiên, do CLCS là một chủ đề nghiên cứu lớn trong khi nguồn số liệu còn
nhiều hạn chế nên luận án chỉ giới hạn trong đo lường khía cạnh khách quan mà tạm
thời chưa xem xét đến việc đo lường khía cạnh chủ quan của CLCS.
Số liệu năm 2016 sẽ được thu thập nhằm phục vụ cho việc tính thử nghiệm chỉ số
tổng hợp CLCS ở cấp quốc gia.
4. Phương pháp nghiên cứu
Do đây là một trong những vấn đề mới, chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam
nên phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm tổng quan tài liệu và phỏng vấn chuyên
gia được sử dụng xuyên suốt nhằm tìm hiểu, khám phá vấn đề.
Phương pháp tổng quan tài liệu được sử dụng nhằm tìm hiểu các lý luận cơ bản về
CLCS ở trong nước và trên thế giới, cụ thể: các cách tiếp cận nghiên cứu CLCS; các
quan điểm và các tranh luận xung quanh khái niệm CLCS; các thành phần của CLCS;
cách thức đo lường CLCS; hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường CLCS; phương pháp
tính chỉ số tổng hợp; …
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia được thực hiện thành hai giai đoạn.
9
Giai đoạn 1, song song với quá trình tổng quan tài liệu, tác giả thực hiện phỏng vấn
sâu 10 chuyên gia trong trong các lĩnh vực xã hội, dân số và phát triển, thống kê, nghiên cứu
chính sách… nhằm xác định hướng tiếp cận nghiên cứu CLCS; khái niệm CLCS cũng như
nghiên cứu lớn về CLCS ở Việt Nam. Những đóng góp tri thức mới của luận án về lý
luận bao gồm:
10
Thứ nhất, cơ sở lý luận về nghiên cứu và đo lường khái niệm CLCS ở Việt Nam
trong đó có xác định hướng tiếp cận nghiên cứu và xây dựng khung lý thuyết về CLCS
bao gồm khái niệm và cấu trúc của khái niệm đó.
Thứ hai, hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường CLCS ở Việt Nam. Hệ thống này
được phân tổ theo các thành phần của khái niệm CLCS.
Thứ ba, phương pháp luận xây dựng và tính chỉ số tổng hợp CLCS ở Việt Nam.
Ngoài ra, luận án còn có đóng góp về mặt thực tiễn khi tính thử nghiệm chỉ số tổng
hợp CLCS ở Việt Nam năm 2016. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho việc hoạch định
chính sách nhằm nâng cao CLCS của người dân.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống
Chương 2. Hệ thống chỉ tiêu thống kê đo lường chất lượng cuộc sống ở Việt Nam
Chương 3. Xây dựng phương pháp tính chỉ số tổng hợp chất lượng cuộc sống ở
Việt Nam.
11
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
Chất lượng cuộc sống là vấn đề đã được nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới. Tuy
nhiên, quan niệm thế nào là một cuộc sống có chất lượng tốt giữa các cá nhân, các xã
Trên cơ sở các cách tiếp cận tới cuộc sống tốt như vừa kể trên, có một số lý thuyết
khác nhau khi tiếp cận đánh giá CLCS. Tổng quan tài liệu cho thấy, đánh giá về CLCS
đã thay đổi từ cách tiếp cận kinh tế thuần túy cho đến cách tiếp cận đa chiều đa ngành.
Ban đầu, CLCS được đánh giá bằng cách tiếp cận kinh tế thuần túy dựa trên thuyết
vị lợi và được đo bằng một chỉ tiêu duy nhất là GDP bình quân đầu người. Cách tiếp cận
này cho rằng, mức thu nhập càng cao, mức độ hài lòng càng lớn và CLCS càng tốt. Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển của các chỉ tiêu xã hội, quan điểm này đã dần thay đổi. Một
nhận thức mới được hình thành, đó là: sự giàu có là một chỉ tiêu rất không đầy đủ để
phản ánh toàn bộ điều kiện sống của con người (Bognar, 2005). Trên thực tế, nếu CLCS
được xác định về mặt hình thành tài sản, chẳng hạn để tạo ra mức sống và các cơ hội
giáo dục thì quan điểm ban đầu có vẻ hợp lý. Tuy nhiên, nếu CLCS được xác định một
cách chủ quan, liên quan đến cảm giác chung về sự tốt đẹp của cuộc sống thì sự giàu có
là chưa đủ để đánh giá.
Từ phong trào các chỉ tiêu xã hội trong những năm 1960, có hai cách tiếp cận
truyền thống trái ngược nhau về CLCS, đó là cách tiếp cận mức sống của người
Scandinavi hay còn gọi là cách tiếp cận khách quan và cách tiếp cận CLCS của người
Mỹ hay còn gọi là cách tiếp cận chủ quan.
Cách tiếp cận của người Scandinavi dựa trên các nguồn lực và điều kiện sống khách
quan. Trong đó, những đo lường nguồn lực thông dụng nhất là các chỉ tiêu tiền tệ như thu
nhập, chi tiêu. Các nguồn lực phi tiền tệ khác bao gồm các loại tài sản, khả năng tiếp cận
các dịch vụ công như y tế, giáo dục, điện, nước, đường bộ... Cách tiếp cận dựa trên nguồn
lực đối với các đo lường CLCS có thể phù hợp vì nó tôn trọng sự riêng tư, để cho mỗi người
được tự do sắp xếp nguồn lực của mình theo cách tốt nhất với họ. Tuy nhiên, theo Alkire
(2008), nhà kinh tế học Amartya Kumar Sen đã đưa ra một số lý do giải thích việc xem xét
CLCS chỉ dựa trên các nguồn lực có thể là không đủ vì nhiều nguồn lực không thể đánh giá
được về bản chất, chúng là công cụ cho các mục tiêu khác. Tuy nhiên CLCS không chỉ phụ
thuộc vào sự tồn tại của nguồn lực mà còn vào những gì chúng cho phép con người làm và
được làm. Ngoài ra, mỗi người tùy thuộc vào đặc điểm riêng có của họ mà có những cách
trải nghiệm cuộc sống, tận hưởng cuộc sống, nhận ra giá trị của cuộc sống là khác nhau cho
Cũng liên quan đến nhu cầu cơ bản của con người, Max-Neef (1992) lại có cách
nhìn nhận khác. Nhà khoa học này đã tổ chức các nhu cầu của con người vào một hệ
thống không phân cấp có tính sinh tồn và có giá trị, bao gồm: sự sống còn, sự bảo vệ,
tình cảm, sự hiểu biết, sự tham gia, giải trí, sự sáng tạo, danh tính và sự tự do. Mô hình
này thực chất là một hệ thống phân loại các nhu cầu của con người và là quá trình để
xác định các nhu cầu này được đáp ứng như thế nào. Theo Max-Neef (1992), các nhu
cầu là không đổi qua không gian và thời gian, sự khác biệt là cách mà những nhu cầu
này được thỏa mãn. Trong hệ thống này, các nhu cầu có mối liên hệ và tương tác với
nhau, nhiều nhu cầu được bổ sung và các nhu cầu khác nhau có thể được theo đuổi đồng
thời. Farley và cộng sự (2002) cho rằng, hệ thống này phản ánh thực tế tốt hơn so với hệ
thống phân cấp của Maslow, trong đó chúng ta chỉ theo đuổi những nhu cầu cao hơn sau
khi đáp ứng được những nhu cầu thấp hơn. Tuy nhiên, theo quan điểm của Max-Neef,
các nhu cầu là ít và hữu hạn. Điều này trái ngược với niềm tin thống trị ở các quốc gia
và các ý thức hệ rằng sự không ngừng tăng trưởng kinh tế là cách tốt nhất để đáp ứng
các nhu cầu của con người. Ma trận các nhu cầu cơ bản của Max-Neef đã được
14
Costanza và cộng sự (2007) áp dụng khi xây dựng khái niệm CLCS và xác định các
thành phần của CLCS.
Cách tiếp cận năng lực của Amartya Sen tới CLCS được hình thành từ những năm
1980 và trở nên phổ biến từ những năm 1990. Theo Stigliz và cộng sự (2009), cách tiếp
cận này nhận thức cuộc sống của mỗi người là sự kết hợp giữa những gì con người coi
trọng có thể làm được và được làm (chức năng - functionings) và sự tự do lựa chọn các
chức năng đó (năng lực - capabilities). Các chức năng có thể đạt được thông qua những
thành tựu có thể quan sát được như tình trạng sức khoẻ, mức độ học vấn và tình trạng
việc làm hiện tại… Các năng lực, có thể khá cơ bản như được ăn uống đầy đủ nhưng có
thể phức tạp hơn như được học hành để có kiến thức cần thiết tham gia tích cực vào đời
sống chính trị. Vì thế, Noll (2010) cho rằng, cách tiếp cận này có sự tương đồng lớn với