lời nói đầu
Giai đoạn vừa qua, đất nớc ta đã có những thành tựu nổi bật trong đổi mới
quản lý kinh tế cũng nh các chính sách kinh tế - xã hội. Hiện nay, nền kinh tế nớc ta
đã chuyển mình từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị tr-
ờng, có sự điều tiết của Nhà nớc. Trong quá trình đó, hệ thống kế toán Việt Nam
cũng có những bớc đổi mới, tiến bộ và nhảy vọt phù hợp với cơ chế kinh tế mới
cũng nh sự phát triển chung của đất nớc.
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho
nền kinh tế quốc dân, chiếm khoảng 30% tổng số vốn đầu t của cả nớc. Sản phẩm
của ngành xây lắp thờng là các công trình, hạng mục công trình có giá trị lớn, thời
gian sử dụng lâu dài, có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế của địa phơng cũng
nh nền kinh tế quốc dân.
Trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, bớc đột phá đầu tiên
quan trọng đó là xây dựng, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng. Điều này không chỉ có nghĩa
là khối lợng công việc của ngành xây dựng cơ bản tăng lên mà cùng với nó là số vốn
đầu t xây dựng cơ bản cũng tăng lên. Điều quan tâm hàng đầu là làm sao có thể
quản lý một cách có hiệu quả vốn đầu t, tránh tình trạng lãng phí, thất thoát vốn
trong điều kiện thực hiện dự án xây lắp thờng kéo dài về mặt thời gian. Chính vì lẽ
đó mà hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có ý nghĩa hết sức
quan trọng đối với các doanh nghiệp xây lắp nói riêng và các doanh nghiệp sản xuất
nói chung.
Để đứng vững trong nền kinh tế thị trờng, doanh nghiệp không những phải có
uy tín mà giá cả sản phẩm của doanh nghiệp cũng phải có tính cạnh tranh. Muốn hạ
giá thành sản phẩm doanh nghiệp phải quản lý tốt các khâu sản xuất, hạch toán đầy
đủ các chi phí bỏ ra, giảm thiểu tối đa các chi phí. Muốn vậy, doanh nghiệp phải
thực hiện tốt công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, từ đó
phục vụ tốt cho việc phân tích đánh giá kết quả, hoàn thiện bộ máy quản lý, tổ chức
sản xuất để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Trong thời gian thực tập tại công ty xây dựng miền Tây, đợc tìm hiểu thực tế
hạch toán kế toán nói chung và hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm nói riêng, em càng nhận thức sâu sắc đợc điều đó. Đây chính là lý do em lựa
đặc điểm riêng sau:
(1) Sản phẩm xây lắp mang tính chất riêng lẻ:
Sản phẩm xây lắp không có sản phẩm nào giống sản phẩm nào, mỗi sản phẩm
có yêu cầu về mặt thiết kế mỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng khác
nhau. Chính vì vậy, mỗi sản phẩm xây lắp đều có yêu cầu về tổ chức quản lý, tổ
chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với đặc điểm của từng công trình cụ
thể. Có nh vậy, việc sản xuất mới mang lại hiệu quả cao và đảm bảo cho sản xuất đ-
ợc liên tục.
Do sản phẩm có tính chất đơn chiếc và đợc sản xuất theo đơn đặt hàng nên chi
phí bỏ vào sản xuất thi công cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công trình ngay cả
khi công trình thi công theo thiết kế mẫu nhng đợc xây dựng ở những địa điểm khác
nhau với các điều kiện thi công khác nhau thì chi phí sản xuất cũng khác nhau.
Việc tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành và xác định kết quả thi công xây
lắp cũng đợc tính cho từng sản phẩm xây lắp riêng biệt. Sản xuất sản phẩm xây lắp
đợc thực hiện theo đơn đặt hàng của khách hàng nên ít phát sinh chi phí trong lu
thông.
(2) Sản phẩm xây lắp có giá trị khối lợng công trình lớn, thời gian thi công tơng
đối dài. Các công trình xây dựng cơ bản thờng có thời gian thi công rất dài, có công
trình phải xây dựng hàng chục năm mới xong, trong thời gian sản xuất thi công xây
dựng cha tạo ra sản phẩm cho xã hội nhng lại sử dụng nhiều vật t, nhân lực của xã
hội. Do đó, khi lập kế hoạch xây dựng cơ bản cần cân nhắc, thận trọng, nêu rõ các
yêu cầu về vật t, tiền vốn, nhân công. Việc quản lý, theo dõi quá trình sản xuất, thi
3
công phải bảo đảm chặt chẽ, sử dụng vốn tiết kiệm, đảm bảo chất lợng thi công công
trình.
Do thời gian thi công tơng đối dài nên kỳ tính giá thành thờng không xác định
hàng tháng nh trong sản xuất công nghiệp mà đợc xác định theo thời điểm thi công
công trình, hạng mục công trình hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo
giai đoạn quy ớc tuỳ thuộc vào kết cấu đặc điểm kỹ thuật và khả năng về vốn của
đơn vị xây lắp. Việc xác định đúng đắn đối tợng tính giá thành sẽ góp phần to lớn
4
công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp (đội, xí nghiệp). Giá khoán gọn
không chỉ bao gồm tiền lơng mà còn có đủ các chi phí về vật liệu, công cụ, dụng cụ
thi công, chi phí chung của bộ phận nhận khoán.
Những đặc điểm hoạt động kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, đặc điểm tổ chức
sản xuất và quản lý ngành nói trên phần nào chi phối công tác kế toán trong các
doanh nghiệp xây lắp, dẫn đến những khác biệt nhất định, trong đó có hạch toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Xuất phát từ quy định về lập dự toán công trình xây dựng cơ bản là phải lập
theo từng hạng mục công trình và phải phân tích theo từng khoản mục chi phí cũng
nh đặc điểm tại các đơn vị nhận thầu, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp có những đặc điểm sau:
+Hạch toán chi phí nhất thiết phải đợc phân tích theo từng khoản mục chi phí,
từng hạng mục công trình, từng công trình cụ thể. Qua đó, thờng xuyên so sánh,
kiểm tra việc thực hiện dự toán chi phí, xem xét nguyên nhân vợt, hụt dự toán và
đánh giá hiệu quả kinh doanh.
+Đối tợng hạch toán chi phí có thể là các công trình, hạng mục công trình, các
đơn đặt hàng, các giai đoạn của hạng mục hay nhóm hạng mục... Vì thế, phải lập dự
toán chi phí và giá thành theo từng hạng mục hay giai đoạn của hạng mục.
+Giá thành công trình thiết bị lắp đặt không bao gồm giá trị bản thân thiết bị do
chủ đầu t đa vào để lắp đặt mà chỉ bao gồm những chi phí do doanh nghiệp bỏ ra có
liên quan đến xây lắp công trình.
+Giá thành công tác xây dựng và lắp đặt kết cấu bao gồm giá trị vật kết cấu và
giá trị thiết bị kèm theo nh các thiết bị vệ sinh, thông gió, thiết bị sởi ấm, điều hoà
nhiệt độ, thiết bị truyền dẫn...
1.2. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
1.2.1. Chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp.
1.2.1.1 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất sản
phẩm xây lắp.
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài ngời gắn liền với quá trình sản xuất.
+Đáp ứng đầy đủ những thông tin cần thiết cho việc tính toán hiệu quả các ph-
ơng án sản xuất nhng lại cho phép tiết kiệm chi phí hạch toán và thuận lợi sử dụng
thông tin hạch toán kế toán.
ở các doanh nghiệp xây lắp, chi phí sản xuất thờng đợc phân loại theo các tiêu
thức sau đây:
1.2.1.2.1. Phân loại theo yếu tố chi phí.
Phân loại theo yếu tố là việc phân chia chi phí sản xuất xây lắp thành những yếu
tố chi phí sản xuất khác nhau trong đó mỗi yếu tố chi phí ban đầu bao gồm các chi
phí có nội dung giống nhau, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và dùng vào
sản xuất sản phẩm cụ thể nào của doanh nghiệp. Theo quy định hiện hành ở Việt
Nam, toàn bộ chi phí đợc chia thành 7 yếu tố sau:
+Yếu tố nguyên liệu, vật liệu : Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính,
nguyên vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ... sử dụng vào sản xuất
kinh doanh (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với
nhiên liệu, động lực).
+Yếu tố tiền l ơng và các khoản phụ cấp l ơng : Phản ánh tổng số tiền lơng và các
khoản phụ cấp mang tính chất tiền lơng phải trả cho công nhân viên chức.
6
+Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng và
các khoản phụ cấp mang tính chất lơng phải trả cho công nhân viên chức.
+Yếu tố khấu hao tài sản cố định : Phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định
phải trích trong kỳ của tất cả các tài sản cố định dùng cho sản xuất kinh doanh.
+Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài : Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài
dùng vào sản xuất kinh doanh.
+Yếu tố chi phí khác bằng tiền : Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền cha
phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Cách phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố này chỉ rõ quá trình sản xuất sản
phẩm xây lắp doanh nghiệp phải bỏ ra các chi phí gì. Nó là cơ sở để kế toán tập hợp
chi phí sản xuất theo yếu tố, phục vụ việc lập bảng thuyết minh báo cáo tài chính, là
cơ sở để phân tích, kiểm tra dự toán chi phí sản xuất và lập kế hoạch cung ứng vật t,
máy.
+Chi phí sản xuất chung : Phản ánh chi phí của đội, công trờng xây dựng gồm:
Lơng nhân viên quản lý đội, BHYT, BHXH, KPCĐ đợc trích theo tỷ lệ quy định
trên lơng trả công nhân trực tiếp xây lắp (trong biên chế của doanh nghiệp) và nhân
viên quản lý đội, tiền ăn ca, khấu hao tài sản cố định dùng chung cho hoạt động của
đội và những chi phí khác liên quan đến hoạt động của đội.
Cách phân loại này chỉ rõ chi phí doanh nghiệp bỏ ra cho từng lĩnh vực hoạt
động, từng địa điểm phát sinh chi phí, làm cơ sở cho việc tính giá thành theo khoản
mục, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành...
1.2.1.2.3. Phân loại theo cách ứng xử của chi phí.
Cách phân loại này có tác dụng đối với quản trị doanh nghiệp, phân tích điểm
hoà vốn và phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản
phẩm tăng hiệu quả kinh doanh. Tổng chi phí của doanh nghiệp đợc chia thành biến
phí và định phí.
+Biến phí : Là những khoản mục chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến động về
mức độ hoạt động. Biến phí bao gồm các khoản nh: Chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp... Biến phí tính cho đơn vị thì ổn định nhng tổng
biến phí thay đổi khi sản lợng thay đổi.
+Định phí : Là những khoản chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt động thay
đổi. Định phí bao gồm các khoản nh: Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê
mặt bằng, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí nghiên cứu... Khi sản lợng thay đổi,
tổng định phí giữ nguyên còn định phí đơn vị thay đổi theo chiều tỷ lệ nghịch.
1.2.1.2.3. Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí với đối tợng chịu
phí.
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp bao gồm:
+Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tợng chịu
phí. Những chi phí này đợc kế toán căn cứ vào chứng từ gốc để tập hợp cho từng đối
tợng.
+Chi phí gián tiếp: Là những chi phí ban đầu liên quan đến nhiều đối tợng chịu
phí. Về phơng diện kế toán, chi phí gián tiếp không thể căn cứ vào các chứng từ gốc
thời, chính xác.
Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phơng pháp hay hệ thống các ph-
ơng pháp đợc sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi
giới hạn của đối tợng hạch toán chi phí. Có 2 phơng pháp chủ yếu để tập hợp chi phí
sản xuất là phơng pháp ghi trực tiếp và phơng pháp phân bổ gián tiếp.
Phơng pháp ghi trực tiếp: Phơng pháp này áp dụng trong trờng hợp các chi phí
sản xuất có quan hệ trực tiếp với từng đối tợng tập hợp chi phí riêng biệt. Phơng
pháp ghi trực tiếp đòi hỏi phải tổ chức việc ghi chép ban đầu (chứng từ gốc) theo
từng đối tợng. Trên cơ sở đó, kế toán tập hợp số liệu từ các chứng từ gốc theo từng
đối tợng liên quan và ghi trực tiếp vào các tài khoản cấp 1, cấp 2 hoặc các tài khoản
chi tiết theo đúng đối tợng. Phơng pháp ghi trực tiếp đảm bảo việc tập hợp chi phí
sản xuất theo đúng đối tợng chi phí với độ chính xác cao.
9
Phơng pháp phân bổ gián tiếp: Phơng pháp này áp dụng trong trờng hợp chi
phí sản xuất phát sinh có liên quan đến nhiều đối tợng tập hợp chi phí mà không thể
tổ chức việc ghi chép ban đầu riêng rẽ theo từng đối tợng đợc. Phơng pháp này đòi
hỏi tập hợp các chứng từ, ghi chép ban đầu các chi phí sản xuất có liên quan tới
nhiều đối tợng theo từng địa điểm phát sinh chi phí (tổ, đội sản xuất, công trờng... ).
Sau đó, chọn tiêu thức phân bổ để tính toán, phân bổ chi phí sản xuất đã tập hợp cho
các đối tợng có liên quan.
Thực tế có nhiều phơng pháp hạch toán chi phí khác nhau, doanh nghiệp cần
dựa vào điều kiện cụ thể cũng nh đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, yêu cầu
quản lý để kết hợp và lựa chọn phơng pháp thích hợp cho doanh nghiệp. Từ đặc
điểm sản phẩm, đặc điểm sản xuất kinh doanh và đối tợng tập hợp chi phí, từ 2 ph-
ơng pháp cơ bản nêu trên, trong doanh nghiệp xây lắp có những phơng pháp hạch
toán chi phí sản xuất sau:
+Ph ơng pháp hạch toán chi phí sản phẩm hoặc đơn đặt hàng : Sản phẩm hoàn
chỉnh trong xây dựng cơ bản để tính giá thành có thể là một ngôi nhà, một vật kiến
trúc đã hoàn thành. Do đặc điểm của tính chất quy trình công nghệ, đặc điểm của
loại hình sản xuất cũng nh yêu cầu tính toán chi phí theo đơn đặt hàng nên hàng
1.2.2. Giá thành sản phẩm xây lắp.
1.2.2.1. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm
xây lắp.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác, sản phẩm, lao
vụ đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lợng giá
trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi ra cho sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí
tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất tiêu thụ phải đợc bồi hoàn để
tái sản xuất ở doanh nghiệp. Những chi phí đa vào giá thành sản phẩm phải phản
ánh đợc giá trị thực của các t liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các
khoản chi tiêu khác có liên quan đến bù đắp giản đơn hao phí lao động sống.
Nh bất kỳ các ngành sản xuất kinh doanh khác, giá thành của sản phẩm xây lắp
cũng thực hiện 2 chức năng chủ yếu đó là bù đắp chi phí và tái sản xuất mở rộng. Số
tiền thu về khi bàn giao công trình phải đủ để bù đắp toàn bộ chi phí mà doanh
nghiệp bỏ ra từ khi khởi công cho đến khi tiêu thụ. Mặt khác, trong cơ chế thị trờng,
mục đích và nguyên tắc kinh doanh là ngày càng đầu t phát triển quy mô, muốn vậy,
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đem lại lợi nhuận.
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hạ giá thành sản
phẩm, giá thành cần đợc xem xét dới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác
nhau tức là doanh nghiệp cần phải tiến hành phân loại giá thành theo nhiều tiêu thức
khác nhau.
1.2.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp.
Giá thành sản phẩm xây lắp thờng đợc phân loại theo những tiêu thức phổ biến
sau:
1.2.2.2.1. Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu.
Theo cách phân loại này, giá thành của sản phẩm xây lắp đợc chia thành:
Giá trị dự toán:
11
từng khu vực thi công và các chi phí khác theo định mức.
Giá thành dự toán đợc xây dựng và tồn tại trong một thời gian nhất định, nó đợc
xác định trong những điều kiện trung bình về sản xuất thi công, về tổ chức quản lý,
về hao phí lao động vật t... cho từng loại công trình hoặc công việc nhất định. Giá
thành dự toán có tính cố định tơng đối và mang tính chất xã hội.
+Giá thành kế hoạch: Là giá thành đợc xác định từ những điều kiện và đặc điểm
cụ thể của một doanh nghiệp xây lắp trong một kỳ kế hoạch nhất định.
Căn cứ vào giá thành dự toán và điều kiện cụ thể, năng lực thực tế sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch, doanh nghiệp tự xây dựng những định
mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá để xác định những hao phí cần thiết cho thi công
công trình trong kỳ kế hoạch.
Nh vậy, giá thành kế hoạch là một chỉ tiêu để các doanh nghiệp xây lắp tự phấn
đấu để thực hiện mức lợi nhuận do hạ giá thành trong kế hoạch.
12
Giá thành
kế hoạch
=
Giá thành
dự toán
-
Lãi do hạ
giá thành
+
-
Chênh lệch so
với dự toán
+Giá thành định mức: Là tổng chi phí để hoàn thành một khối lợng xây lắp cụ
thể, đợc tính toán trên cơ sở đặc điểm kết cấu của công trình, phơng pháp tổ chức thi
công và quản lý thi công theo các định mức chi phí đã đạt đợc tại doanh nghiệp,
công trờng tại thời điểm bắt đầu thi công.
xuất, chế tạo sản phẩm, gắn với quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm. Giá thành
13
sản xuất sản phẩm xây lắp bao gồm 4 khoản mục: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung.
+Giá thành toàn bộ: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh
liên quan đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành toàn bộ ngoài những khoản
mục giống giá thành sản xuất còn bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp phân bổ cho các sản phẩm.
1.2.2.3. Đối tợng và phơng pháp tính giá thành sản phẩm.
Đối tợng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ do doanh nghiệp
sản xuất ra và cần phải tính đợc giá thành và giá thành đơn vị.
Xác định đối tợng tính giá thành cũng là công việc đầu tiên trong toàn bộ công
tác tính giá thành sản phẩm của kế toán. Bộ phận kế toán giá thành phải căn cứ vào
đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp, các loại sản phẩm và lao vụ mà doanh nghiệp
sản xuất, tính chất sản xuất của chúng để xác định đối tợng tính giá thành cho phù
hợp.
Trong xây dựng cơ bản, sản phẩm có tính đơn chiếc, đối tợng tính giá thành là
từng công trình, hạng mục công trình cụ thể đã xây dựng hoàn thành. Ngoài ra, đối
tợng tính giá thành có thể là từng giai đoạn công trình hoặc từng giai đoạn hoàn
thành quy ớc, tuỳ vào phơng thức bàn giao thanh toán giữa đơn vị xây lắp với chủ
đầu t.
Sau khi đã xác định đợc đối tợng tính giá thành sản phẩm, kế toán phải lựa chọn
và xây dựng đợc phơng pháp tính giá thành cho phù hợp để không những đảm bảo
xác định đúng đắn giá thành sản phẩm mà còn đảm bảo công tác tính giá thành sản
phẩm đợc đơn giản, thuận lợi trên cơ sở phù hợp với đối tợng tính giá thành sản
phẩm. Phơng pháp tính giá thành sản phẩm đó là một hay một hệ thống các phơng
pháp để tính giá thành sản phẩm.
Các phơng pháp tính giá thành sản phẩm thờng đợc sử dụng trong các doanh
nghiệp xây lắp bao gồm:
Phơng pháp tính giá thành trực tiếp:
n
- D
CK
Trong đó: C
1
, C
2
, ..., C
n
là chi phí phát sinh ở từng tổ đội hay từng giai đoạn thi
công.
Phơng pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Phơng pháp này thờng áp dụng trong trờng hợp bên giao thầu ký hợp đồng với
doanh nghiệp xây lắp thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau mà không cần
hạch toán riêng cho từng công việc. Khi đó, đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm là đơn đặt hàng. Chi phí thực tế phát sinh đợc tập hợp riêng cho
từng đơn đặt hàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành công trình. Toàn bộ chi
phí đã tập hợp là giá thành của đơn đặt hàng đó.
Phơng pháp tính giá thành theo định mức:
Nội dung của phơng pháp này là:
-Căn cứ vào định mức kỹ thuật hiện hành và dự toán chi phí sản xuất đợc
duyệt để tính ra giá thành định mức cho sản phẩm.
-Tổ chức công tác hạch toán chi phí sản xuất thực tế phù hợp với định mức và
số chi phí sản xuất chênh lệch thoát ly định mức.
-Giá thành thực tế của sản phẩm đợc tính theo công thức:
Giá thành
thực tế
=
Giá thành
định mức
mặt kết quả của quá trình sản xuất. Đó là 2 mặt thống nhất của quá trình sản xuất.
Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có thể biểu thị qua
công thức sau:
Giá thành
sản phẩm
=
Chi phí sản
xuất phát sinh
trong kỳ
+
Chi phí sản xuất
dở dang đầu kỳ
-
Chi phí sản
xuất dở dang
cuối kỳ
Doanh nghiệp có quản lý tốt 2 chỉ tiêu này thì mới có thể đạt đợc kết quả cao
trong sản xuất kinh doanh. Đối với ngời thực hiện nghiệp vụ hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm thì việc nghiên cứu 2 chỉ tiêu này là cơ sở cho việc
tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất phát sinh và xác định chính xác kết quả sản xuất
kinh doanh của đơn vị.
1.3. hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp.
1.3.1. Nguyên tắc và trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp.
Hiện nay, các doanh nghiệp xây lắp đang áp dụng chế độ kế toán ban hành theo
quyết định số 1864/QĐ/BTC ngày 16/12/1998 trong đó quy định rõ chế độ chứng từ,
tài khoản sử dụng, nguyên tắc hạch toán, lập báo cáo tài chính... Theo quyết định
này, việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp
xây lắp phải tuân theo các nguyên tắc sau:
phục vụ và đơn giá lao vụ.
+Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung (những chi phí không thể tách
riêng) cho các công trình có liên quan theo tiêu thức thích hợp.
+Xác định chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ, tính ra giá thành sản
phẩm xây lắp hoàn thành.
+Tính toán và phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cho các
sản phẩm xây lắp để tính ra giá thành toán bộ sản phẩm xây lắp hoàn thành.
1.3.2. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên liệu, vật liệu sử dụng
trực tiếp cho hoạt động xây lắp của doanh nghiệp. Chi phí nguyên vật liệu phải đợc
tính theo giá thực tế khi xuất sử dụng. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
cần lu ý: Không hạch toán vào khoản mục này đối với trờng hợp xây lắp nhận thiết
bị xây dựng cơ bản của bên giao thầu (bên A) hoặc do bên A uỷ quyền cho bên B
mua để lắp đặt vào công trình nhận thầu.
Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán các doanh nghiệp xây lắp
sử dụng tài khoản 621. Kết cấu của tài khoản này nh sau:
+Bên Nợ: Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động
xây lắp của doanh nghiệp.
+Bên Có:
17
-Trị giá nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng không hết đợc nhập lại kho.
-Kết chuyển hoặc tính phân bổ trị giá nguyên vật liệu thực tế sử dụng cho hoạt
động xây lắp trong kỳ vào TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang và chi tiết
cho các đối tợng để tính giá thành công trình xây lắp, giá thành sản phẩm, dịch vụ
lao vụ.
TK 621 cuối kỳ không có số d.
TK 621 phải đợc mở chi tiết theo từng công trình xây dựng, lắp đặt (công trình,
hạng mục công trình, các giai đoạn công việc, khối lợng xây lắp có dự toán riêng).
Vật liệu sử dụng cho công trình, hạng mục công trình nào thì phải tính trực tiếp cho
công trình đó. Trờng hợp không tính riêng đợc thì phải phân bổ cho từng công trình,
khoản này nh sau:
+Bên Nợ: Chi phí nhân công trực tiếp tham gia vào quá trình thi công các công
trình.
+Bên Có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp sang TK 154 để tính giá thành
công trình hoàn thành.
TK 622 cuối kỳ không có số d.
Phơng pháp hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
Sơ đồ 1.2: Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp.
1.3.4. Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công.
Hạch toán chi phí máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử dụng máy thi công:
tổ chức đội máy thi công riêng biệt chuyên thực hiện các khối lợng thi công bằng
máy hoặc giao máy thi công cho các đội, xí nghiệp xây lắp.
Nếu doanh nghiệp có tổ chức các đội máy thi công riêng biệt và có phân cấp
hạch toán cho đội máy tổ chức hạch toán riêng thì tất cả các chi phí liên quan tới
hoạt động của đội máy thi công đợc hạch toán vào các khoản mục chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung chứ không
phản ánh vào khoản mục chi phí máy thi công. Sau đó, các khoản mục này đợc kết
chuyển để tính giá thành cho 1 ca máy thực hiện và cung cấp cho các đối tợng xây
lắp. Quan hệ giữa đội máy thi công với đơn vị xây lắp có thể thực hiện theo phơng
thức cung cấp lao vụ lẫn nhau giữa các bộ phận hay có thể thực hiện theo phơng
thức bán lao vụ lẫn nhau giữa các bộ phận trong nội bộ.
Nếu doanh nghiệp không tổ chức đội máy thi công riêng biệt hoặc có tổ chức
đội máy thi công riêng biệt nhng không tổ chức kế toán riêng cho đội máy thi công;
thực hiện phơng thức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy thì các
chi phí liên quan tới hoạt động của đội máy thi công đựơc tính vào khoản mục chi
phí máy thi công.
19
TK 622 TK 154
TK 334 (3341)
TK 111, 112, 3342 ...
Nợ TK 623 (6237): Giá thuê cha thuế.
Nợ TK 133: VAT đợc khấu trừ.
Có TK 331, 111,112... : Tổng giá thuê ngoài.
+Cuối kỳ, kết chuyển chi phí máy thi công vào TK 154 theo từng đối tợng:
Nợ TK 154
Có TK 623 (6237).
Trờng hợp doanh nghiệp tổ chức đội máy thi công riêng biệt và có phân cấp
quản lý để theo dõi riêng chi phí nh một bộ phận sản xuất độc lập, kế toán phản ánh
nh sau: Toàn bộ chi phí liên quan trực tiếp đến đội máy thi công đợc tập hợp riêng
trên các tài khoản 621, 622, 627, chi tiết cho đội máy thi công. Cuối kỳ, tổng hợp
chi phí vào tài khoản 154 (1543. Chi tiết đội máy thi công) để tính giá thành ca máy
(hoặc giờ máy). Từ đó xác định giá trị mà đội máy thi công phục vụ cho từng đối t-
20
ợng theo giá thành ca máy (hoặc giờ máy) và khối lợng dịch vụ (số ca máy, giờ
máy) phục vụ cho từng đối tợng. Cụ thể:
+Nếu các bộ phận trong doanh nghiệp không tính kết quả riêng mà thực hiện
phơng thức cung cấp lao vụ lẫn nhau:
Nợ TK 623: Giá trị của đội máy thi công phục vụ cho các đối tợng.
Có TK 154 (1543. Chi tiết đội máy thi công): Giá thành dịch vụ
của đội máy thi công phục vụ cho các đối tợng.
+Nếu các bộ phận trong doanh nghiệp xác định kết quả riêng:
Nợ TK 632: Giá trị phục vụ lẫn nhau trong nội bộ.
Có TK 154: Giá thành dịch vụ của đội máy thi công phục vụ
cho các đối tợng trong nội bộ.
Đồng thời kế toán phản ánh giá bán nội bộ về chi phí sử dụng máy cung cấp lẫn
nhau:
Nợ TK 623: Giá bán nội bộ.
Nợ TK 133: VAT đầu vào đợc khấu trừ (nếu có).
Có TK 512: Doanh thu nội bộ.
Có TK 33311: VAT đầu ra phải nộp (nếu có).
dụng TK 627. Nội dung, kết cấu của TK 627 nh sau:
+Bên Nợ: Các chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ, bao gồm: Lơng nhân
viên quản lý đội; tiền ăn ca, các khoản trích BHYT, BHXH, KPCĐ đợc tính theo tỷ
lệ quy định hiện hành trên tiền lơng phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp, nhân
viên sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý đội (thuộc biên chế của doanh
nghiệp); khấu hao tài sản cố định dùng chung cho hoạt động của đội và những chi
phí khác liên quan tới hoạt động của đội.
+Bên Có:
-Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung.
-Kết chuyển chi phí sản xuất chung cuối kỳ.
TK 627 cuối kỳ không có số d và đợc chi tiết thành 6 tiểu khoản:
-6271: Chi phí nhân công.
-6272: Chi phí vật liệu.
-6273: Chi phí dụng cụ sản xuất.
-6274: Chi phí khấu hao tài sản cố định dùng chung cho đội.
-6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài.
-6278: Chi phí bằng tiền khác.
Chi phí sản xuất chung đợc tập hợp theo nội dung khoản mục quy định. Tuỳ
thuộc vào tổ chức sản xuất của các tổ, đội xây lắp ở doanh nghiệp mà kế toán tổ
chức hạch toán cho phù hợp.
Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất chung đợc thể hiện qua sơ đồ sau:
22
TK 111, 152
TK 154
TK 334, 338
TK 627
(6271 - 6278)
TK 152, 153
TK 214
TK
+Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp:
Nợ TK 154.
Có TK 622.
+Kết chuyển chi phí máy thi công:
Nợ TK 154.
Có TK 623.
23
+Kết chuyển chi phí sản xuất chung:
Nợ TK 154.
Có TK 627.
+Trờng hợp doanh nghiệp là nhà thầu chính, khi nhận giao khối lợng xây lắp
hoàn thành từ nhà thầu phụ, kế toán ghi:
Nợ TK 154 (1541. chi tiết đối tợng): Giá trị bàn giao (nếu cha xác
định là tiêu thụ).
Nợ TK 632 : Giá trị bàn giao (nếu đợc xác định là tiêu thụ).
Nợ TK 133 (nếu có).
Có TK 331: Tổng số tiền phải trả nhà thầu phụ.
+Tổng giá thành công trình xây lắp hoàn thành trong kỳ:
Nợ TK 632: Bàn giao cho chủ đầu t hay nhà thầu chính (kể cả trờng
hợp đơn vị nhận khoán nội bộ tổ chức hạch toán và tính kết quả riêng)
Nợ TK 155: Nếu sản lợng xây lắp hoàn thành chờ tiêu thụ.
Nợ TK 241 (2412): Giá thành công trình lán trại, nhà ở tạm, công
trình phụ trợ có nguồn vốn đầu t riêng trong doanh nghiệp.
Có TK 154: Giá thành sản xuất công trình hoàn thành.
1.3.6.2. Kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất là bớc công việc cung cấp số liệu cho kế
toán tính ra giá thành của công trình hoàn thành. Nhng việc tính giá thành có chính
xác không còn phụ thuộc vào việc xác định giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ. Đánh
giá sản phẩm dở dang ở doanh nghiệp xây lắp phụ thuộc vào phơng thức thanh toán
khối lợng hoàn thành giữa bên giao thầu và bên nhận thầu:
phân bổ
Phơng pháp này yêu cầu khối lợng tính toán phải nhiều hơn, việc xác định điểm
dừng kỹ thuật hợp lý là rất khó đòi hỏi chuyên môn cao nhng nó phản ánh chi phí
một cách kịp thời, chính xác.
1.3.7. Hạch toán chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, tính giá
thành toàn bộ sản phẩm xây lắp.
Hạch toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tại các doanh
nghiệp xây lắp cũng tơng tự nh các doanh nghiệp khác tức là cũng tập hợp toàn bộ
chi phí bán hàng phát sinh vào bên Nợ TK 641 và chi phí quản lý doanh nghiệp phát
sinh vào bên Nợ TK 642. Về nguyên tắc, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp cuối kỳ đợc kết chuyển toàn bộ để xác định kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, do đặc điểm hoạt động xây lắp, các chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp liên quan đến hoạt động xây lắp cuối kỳ sẽ đợc phân bổ cho
từng đối tợng để tính giá thành toàn bộ sản phẩm xây lắp. Công thức phân bổ nh
sau:
CPBH
(CPQLDN)
kết chuyển
kỳ sau
=
Tổng CPBH (CPQLDN)
CPNCTT của
SPXL DDĐK
+
CPNCTT phát
sinh trong kỳ
x CPNCTT của
SPXL DDCK
CPBH (CPQLDN) tính
cho SPXL hoàn thành
đầu kỳ
+
CP thực tế phát sinh
trong kỳ
Giá thành dự toán của
KLXL hoàn thành bàn
giao trong kỳ
+
Tổng giá thành dự toán
khối lợng dở dang cuối
kỳ của các giai đoạn