Lời mở đầu
Mục đích của nền sản xuất hàng hoá là nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất
và văn hoá ngày càng tăng của toàn xã hội. Mục đích đó đòi hỏi chúng ta phải
làm thế nào tạo ra nhiều sản phẩm mới nhất với chất lợng cao nhất cho xã hội.
Doanh nghiệp là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất đó , họ luôn phấn đấu tìm
mọi biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất thấp nhất, với chất lợng sản phẩm cao
nhất, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của ngời tiêu dùng. Để đạt đợc điều đó, các
doanh nghiệp sản xuất thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, một trong những
biện pháp đợc các nhà quản lý ngày càng quan tâm đặc biệt đó là công tác kế
toán nói chung và kế toán tập hợp chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm nói
riêng. Các doanh nghiệp sản xuất luôn xác định hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm là khâu trung tâm của công tác kế toán trong Doanh
nghiệp .
Thực chất chi phí sản xuất là đầu vào của cả quá trình sản xuất, vì vậy
tiết kiệm chi phí sản xuất là tiền đề để hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận
cho bản thân doanh nghiệp cũng nh toàn xã hội. Hơn nữa hiện nay đất nớc ta
đang tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần, bên
cạnh sản phẩm sản xuất ra phải có chất lợng tốt thì một điều rất quan trọng là
sản phẩm đó phải có giá thành hạ, phù hợp sức mua của đại đa số nhân dân lao
động thu nhập còn thấp... Cho nên, công tác hạ giá thành sản phẩm đã trở thành
nhân tố quyết định sự sống còn của mọi doanh nghiệp. Đặc biệt, trong ngành
xây dựng cơ bản, hạ giá thành sản phẩm đã đợc đặt ra nh một nhu cầu bức thiết
khách quan nhằm tạo tiền đề cho các ngành sản xuất vật chất khác trong nền
kinh tế quốc dân, bởi vì xây dựng cơ bản tạo ra và trang bị tài sản cố định cho
hầu hết tất cả các ngành kinh tế khác.
Trong thời gian thực tập tại Công ty xây dựng công trình 56 - Tổng công
ty Thành An - Bộ Quốc Phòng, tôi nhận thấy: Vấn đề tập hợp chi phí sản xuất,
tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp là vấn đề nổi bật, hớng
những ngời quản lý và công tác hạch toán kế toán phải quan tâm đặc biệt. Do
1
đó tôi đã chọn đề tài : "Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
chức kế toán của một đơn vị sản xuất là: ghi chép, tính toán, phản ánh đầy đủ chi
phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm xây lắp, xác định kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh, trên cơ sở đó kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, kinh
tế tài chính, tình hình bảo vệ tài sản...
Tuy nhiên, XDCB có những nét đặc trng riêng khác biệt với các ngành sản
xuất vật chất khác, do đó để có thể thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, phát huy tác
dụng của kế toán là công cụ hữu hiệu quản lý sản xuất thì việc tổ chức kế toán nói
chung và hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm nói riêng phải phù
hợp với đặc điểm của sản xuất xây lắp.
Sản xuất xây lắp là một loại sản xuất công nghiệp đặc biệt theo đơn đặt
hàng, sản phẩm xây lắp mang tính chất đơn lẻ, nên chi phí bỏ ra để thi
công xây lắp các công trình có nội dung và cơ cấu không đồng nhất nh
các loại sản phẩm công nghiệp khác. Chính vì vậy, kế toán phải tính đến
3
việc hạch toán chi phí, giá thành và tính kết quả thi công cho từng sản
phẩm xây lắp riêng biệt (từng công trình, hạng mục công trình).
Đối tợng sản xuất XDCB thờng có khối lợng lớn, giá trị thời gian thi
công tơng đối dài. Xuất phát từ đặc điểm này mà kỳ tính giá thành sản
phẩm xây lắp không xác định hàng tháng nh trong sản xuất công nghiệp
mà đợc xác định tuỳ thuộc vào đặc điểm kỹ thuật của từng loại công
trình, điều này thể hiện qua phơng pháp lập dự toán và phơng thức thanh
toán giữa bên giao thầu và bên nhận thầu. Do vậy, việc xác định đúng
đắn đối tợng tính giá thành và kỳ tính giá thành sẽ đáp ứng cho yêu cầu
từng thời kỳ nhất định và phải tránh tình trạng căng thẳng vốn cho doanh
nghiệp xây lắp.
Sản xuất XDCB thờng diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp của các
yếu tố môi trờng, thời tiết. Do vậy thi công xây lắp mang tính thời vụ, dễ
bị thiệt hại, h hỏng. Kế toán phải chọn những phơng pháp hợp lý để xác
định những chi phí thời vụ và những khoản thiệt hại một cách đúng đắn.
Sản xuất XDCB đợc thực hiện trên các địa điểm biến động. Sản phẩm
cùng với sức lao động của con ngời hay đó chính là sự chuyển biến các yếu tố về
t liệu lao động và đối tợng lao động (hao phí về lao động vật hoá) dới sự tác động
có mục đích của sức lao động (hao phí về lao động sống) qua quá trình thi công sẽ
trở thành sản phẩm xây dựng. Toàn bộ những hao phí này đợc thể thiện dới hình
thái giá trị thì đó là chi phí sản xuất .
Vậy, trong doanh nghiệp xây dựng, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá và các loại hao phí cần thiết
khác mà doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất, thi công trong một
thời kỳ nhất định.
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng bao gồm nhiều loại khác nhau
với nội dung kinh tế khác nhau, công dụng và mục đích của chúng trong quá trình
sản xuất cũng khác nhau. Trong các DNXL nói chung, có nội dung kinh tế, công
dụng khác nhau và yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau. Để lập dự
toán chi phí và tính chính xác giá thành, để khống chế và thống nhất các loại chi
phí nhằm nghiên cứu các yếu tố phát sinh trong quá trình hình thành giá thành sản
phẩm xây lắp, từ đó có biện pháp quản lý chi phí có hiệu quả thì yêu cầu khách
quan đặt ra là phải phân loại chi phí thành từng nhóm riêng theo những tiêu thức
nhất định.
Phân loại chi phí sản xuất:
5
Hiện nay chi phí sản xuất đợc phân loại theo các tiêu thức sau:
Phân loại CPSX theo nội dung kinh tế là việc sắp xếp các chi phí có nguồn
gốc kinh tế ban đầu đồng nhất, không phân biệt chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực
sản xuất kinh doanh (SXKD) nào, ở đâu, có quan hệ nh thế nào với quá trình sản
xuất. Theo cách phân loại này, CPSX trong sản xuất xây lắp bao gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu chính nh xi măng, sắt thép...
- Chi phí nhiên liệu, động lực mua ngoài nh xăng, dầu, mỡ, khí nén...
- Chi phí tiền lơng và các khoản phụ cấp theo lơng phải trả CBCNV.
- Các khoản tính theo lơng nh BHXH, BHYT, KPCĐ.
- Chi phí công cụ, dụng cụ sản xuất nh dàn giáo, cuốc, xẻng, bảo hộ lao động.
quỹ lơng nhân công trực tiếp của hoạt động xây lắp, tiền lơng và các khoản có tính
chất lơng của công nhân điều khiển máy móc thi công, tiền lơng nhân viên vận
chuyển vật liệu ngoài cự ly thi công.
- Chi phí sử dụng máy thi công (MTC): Là một khoản chi phí lớn trong giá
thành công tác xây lắp, là các chi phí trực tiếp liên quan tới việc sử dụng máy để
sản xuất, gồm: Chi phí vật t chạy máy thi công, tiền khấu hao máy móc thi công,
tiền thuê máy, tiền lơng chính của công nhân điều khiển máy....
- CPSX chung: Là các khoản chi phí phục vụ cho sản xuất của đội, công trình
xây dựng nhng không đợc tính trực tiếp cho từng đối tợng cụ thể. Nội dung của
CPSX chung bao gồm: Tiền lơng của bộ phận quản lý đội, BHXH, BHYT, KPCĐ
trích theo tỷ lệ quy định của toàn đội (cho nhân viên quản lý đội và công nhân trực
tiếp tham gia sản xuất thi công thuộc DN), chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung
trong toàn đội, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác.
Nh vậy, khác với các DN sản xuất công nghiệp khác, do đặc điểm sản xuất
ngành XDCB, máy thi công cũng trực tiếp tham gia vào quá trình xây lắp, nên
ngoài ba khoản mục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp
và chi phí sản xuất chung còn có thêm khoản mục chi phí sử dụng máy thi công
cấu thành nên giá thành sản phẩm xây lắp.
Nếu theo chỉ tiêu giá thành đầy đủ (giá thành sản phẩm tiêu thụ) thì ngoài các
khoản mục chi phí trên còn bao gồm khoản mục chi phí quản lý DN và chi phí
chung khác liên quan đến hoạt động của cả DN. Các khoản chi phí này bao gồm
7
các khoản tiền lơng, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lơng của nhân viên
quản lý DN, chi phí về vật liệu, khấu hao máy móc... phục vụ cho quản lý DN.
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp là dự toán đợc lập cho từng đối t-
ợng xây dựng theo các khoản mục giá thành nên phơng pháp phân loại này đợc sử
dụng phổ biến trong DNXL hiện nay. Ngoài ra, cách phân loại này còn có tác
dụng phục vụ quản lý sản xuất theo định mức, phân tích tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành và lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau.
Ngoài hai cách phân loại chủ yếu trên, để phục vụ trực tiếp cho công tác quản
t, hoàn thiện kỹ thuật thi công, rút ngắn thời gian thi công, sử dụng hợp lý vốn sản
xuất cùng với các giải pháp kinh tế kỹ thuật áp dụng trong toàn doanh nghiệp sẽ
giúp doanh nghiệp quản lý, sử dụng chi phí hợp lý, hạ giá thành tới mức tối đa.
Đây là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp tăng khả năng trúng thầu, tạo việc
làm và thu nhập cho CBCNV, hoàn thành nghĩa vụ với NSNN.
Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Trong sản xuất xây lắp cần phân biệt các loại giá thành sau: Giá thành dự
toán, giá thành kế hoạch và giá thành thực tế.
Giá thành dự toán: Là tổng số các chi phí dự toán để hoàn thành khối
lợng sản phẩm xây lắp. Giá thành dự toán đợc xác định trên cơ sở các
định mức của Nhà nớc và khung giá quy định áp dụng vào từng vùng
lãnh thổ, địa phơng.
Giá thành = Giá trị dự toán - Thuế - Thu nhập chịu
dự toán xây lắp sau thuế GTGT thuế tính trớc
Giá trị dự toán xây lắp sau thuế: Là chi phí cho công tác xây dựng lắp ráp các
kết cấu kiến trúc, lắp đặt máy móc thiết bị sản xuất...giá trị dự toán xây lắp bao
gồm: chi phí trực tiếp, chi phí chung và thu nhập chịu thuế tính trớc và thuế GTGT
Giá thành kế hoạch: Là giá thành đợc xuất phát từ những điều kiện cụ
thể của doanh nghiệp trên cơ sở, biện pháp thi công, các định mức về
đơn giá áp dụng trong doanh nghiệp .
Giá thành
kế hoạch
=
Giá thành
dự toán
-
Mức hạ giá
thành dự toán
+
Khoản bù chênh
Tuy nhiên, do bộ phận CPSX giữa các kỳ không đều nhau nên giá thành và
chi phí khác nhau về lợng. Điều đó thể hiện qua sơ đồ sau:
CPSX DDĐK CPSX phát sinh trong kỳ
10
Tổng giá thành SPXL CPSX DDCK
Qua sơ đồ trên ta thấy:
Tổng giá thành CPSX CPSX CPSX
sản phẩm DD ĐK PS trong kỳ DD CK
Khi giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ hoặc cuối kỳ bằng nhau hoặc các
ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì giá thành sản phẩm trùng với
CPSX.
Trong XDCB, muốn tính đúng giá thành SPXL phải kết hợp chính xác, kịp
thời CPSX phát sinh theo đối tợng chịu chi phí cụ thể tạo cơ sở số liệu để tính giá
thành sản phẩm.
Cũng trên giác độ mặt lợng, nếu CPSX là tổng hợp những chi phí phát sinh
trong một thời kỳ nhất định, thì giá thành sản phẩm lại là tổng hợp những chi phí
chi ra gắn liền với việc sản xuất và hoàn thành khối lợng công việc xây lắp nhất
định, đợc nghiệm thu, bàn giao, thanh toán. Giá thành sản phẩm không bao hàm
những chi phí cho khối lợng dở dang cuối kỳ, những chi phí liên quan đến hoạt
động sản xuất, những chi phí thực tế đã chi ra nhng chờ phân bổ cho kỳ sau... nh-
ng nó lại bao gồm những chi phí dở dang cuối kỳ trớc chuyển sang kỳ này.
III/ Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp:
1/ Nguyên tắc và trình tự hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp:
1.1/ Đối tợng và phơng pháp hạch toán CPSX trong doanh nghiệp xây lắp.
1.1.1/ Đối t ợng tập hợp CPSX
Công tác kế toán CPSX và tính giá thành SPXL có đáp ứng đợc nhu cầu
quản lý của DN hay không còn phụ thuộc vào việc xác định đối tợng hạch toán
CPSX và tính giá thành sản phẩm. Đây chính là công việc đầu tiên giúp ta xác
Phơng pháp tập hợp CPSX theo đơn vị thi công: Theo phơng pháp này thì
các chi phí phát sinh đợc tập hợp theo từng đơn vị thi công. Trong từng đơn vị đó,
chi phí lại đợc tập hợp theo từng đối tợng chịu chi phí nh hạng mục công trình.
Cuối tháng tổng hợp CPSX phát sinh ở từng đơn vị thi công đợc so sánh với dự
12
toán cấp phát để xác định hạch toán kế toán nội bộ. Khi công trình, hạng mục
công trình hoàn thành phải tính giá riêng cho công trình, hạng mục công trình đó
bằng phơng pháp trực tiếp, phơng pháp tổng cộng chi phí, phơng pháp tỉ lệ
1.2/ Đối tợng và phơng pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.1/ Đối t ợng tính giá thành
Từ đặc điểm của sản xuất xây lắp và yêu cầu quản lý của DN, đối tợng tính
giá thành tại đơn vị kinh doanh xây lắp chính là các công trình, hạng mục công
trình, giai đoạn công việc hoàn thành hay từng đơn đặt hàng (hợp đồng) hoàn
thành...Trờng hợp DNXL có tổ chức các phân xởng sản xuất thì đối tợng tính giá
thành trong các đơn vị này là một đơn vị sản phẩm hay lao vụ hoàn thành.
Việc xác định đúng đối tợng tính giá thành là căn cứ để kế toán kiểm tra
tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, tính toán quá trình kinh doanh
của từng công trình hoàn thành.
Nh vậy, giữa đối tợng tính giá và đối tợng tập hợp chi phí có sự khác nhau
về nội dung nhng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau xuất phát từ mối quan hệ giữa
CPSX và giá thành sản phẩm. Mối quan hệ đó thể hiện ở việc sử dụng số liệu
CPSX đã tập hợp để xác định giá trị chuyển dịch của các yếu tố CPSX vào các đối
tợng tính giá thành. Một đối tợng tập hợp CPSX có thể bao gồm nhiều đối tợng
tính giá thành và ngợc lại, một đối tợng tính giá thành lại có thể bao gồm nhiều
đối tợng kế toán tập hợp chi phí.
1.2.2/ Ph ơng pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp:
Việc xác định phơng pháp tính giá thành có ý nghĩa quan trọng trong hạch
toán chi phí theo đối tợng tính giá thành và qua đó thực hiện đợc mục tiêu xác
định giá thành của từng công trình, hạng mục công trình, từng loại sản phẩm, phù
hợp với cách hạch toán theo yêu cầu xác định các loại chi phí làm căn cứ để bù
thành là:
Giá thành thực tế Chi phí Chi phí Chi phí
KLXL hoàn thành = thực tế + Thực tế - thực tế
bàn giao DDĐK PS trong kỳ DDCK
14
Nếu các hạng mục công trình có thiết kế khác nhau, dự toán khác nhau nhng
cùng thi công ở một địa điểm do một đội công trình sản xuất đảm nhiệm và không
có điều kiện theo dõi quản lý riêng các loại chi phí khác nhau thì CPSX đã tập hợp
đợc phải phân bổ cho từng hạng mục công trình theo những tiêu chuẩn thích hợp
với hệ số kinh tế kỹ thuật quy định cho từng HMCT.
Giá thành Giá dự toán tỷ lệ phân bổ
thực tế = HMCT x giá thành
từng HMCT thực tế thực tế
Trong đó:
Tỷ lệ phân bổ Tổng chi phí thực tế của cả công trình
giá thành = -------------------------------------------------
thực tế Tổng giá trị dự toán của tất cả các HMCT
Phơng pháp tổng cộng chi phí: Phơng pháp này đợc áp dụng với việc xây
lắp các công trình lớn, phức tạp, phải trải qua nhiều giai đoạn thi công. Quá
trình xây lắp có thể chia ra cho các đối tợng sản xuất khác nhau. Đối tợng
tập hợp chi phí là từng đội sản xuất, từng giai đoạn, đối tợng tính giá thành
là sản phẩm cuối cùng.
Công thức tính nh sau:
Z = DĐK + (C1 + C2 +...+ Cn) - DCK
Trong đó:
Z: Là giá thành sản phẩm xây lắp
DĐK: Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
C1,...,Cn : Là CPSX ở từng đội sản xuất hay từng giai đoạn công
việc, từng hạng mục công trình.
DCK: Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
2.1. Hạch toán ban đầu
Chứng từ sử dụng hạch toán chi phí NVL trực tiếp bao gồm: Phiếu nhập kho,
Phiếu xuất kho, Hoá đơn GTGT.
2.2. Hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết chi phí NVL trực tiếp.
2.2.1. Tài khoản kế toán sử dụng :
Để hạch toán chi phí NVL trực tiếp, kế toán sử dụng TK 621 - "Chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp". Tài khoản này dùng để tập hợp toàn bộ chi phí NVL
dùng cho sản xuất, thi công xây lắp, chế tạo sản phẩm phát sinh trong kỳ, cuối kỳ
kế chuyển sang TK 154 để tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm. Kết cấu của
TK621 nh sau:
16
- Bên Nợ: Giá trị thực tế NVL xuất dùng trực tiếp cho SX thi công, xây lắp,
chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ.
- Bên Có: + Kết chuyển chi phí NVL vào TK 154 - "Chi phí sản xuất KDDD"
+ Giá trị thực tế NVL sử dụng không hết nhập lại kho.
Tài khoản 621 cuối kỳ không có số d.
2.2.2. Phơng pháp hạch toán:
* Theo phơng pháp kê khai thờng xuyên
+ Khi xuất vật liệu chính, phụ cho từng CT, HMCT căn cứ vào chứng từ gốc,
kế toán ghi:
Nợ TK 621: (chi tiết cho từng đối tợng)
Có TK 152: Nguyên vật liệu
+ Trờng hợp mua NVL sử dụng ngay (không qua kho) cho các công trình, căn
cứ vào hoá đơn GTGT kế toán ghi:
Nợ TK 621: Giá mua NVL cha có thuế GTGT
Nợ TK 133: Thuế GTGT đợc khấu trừ (nếu có)
Có TK 111, 112, 331,..: Tổng giá thanh toán
Trong quá trình thi công xây lắp, một số nguyên vật liệu luân chuyển nh đà
giáo, ván khuôn...giá trị của nguyên vật liệu sử dụng luân chuyển đợc phân bổ dần
theo số lần luân chuyển hoặc theo khối lợng đã hoàn thành. Khi phân bổ cần lựa
Nợ TK 611(6111)
Có TK 152, 151
+ Giá trị nguyên vật liệu mua vào trong kỳ đợc hạch toán.
Nợ TK 611(6111)
Nợ TK 133(1331): VAT đầu vào đợc khấu trừ
18
Có TK 111, 112, 331,...
+ Cuối kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kê hàng tồn kho, kế toán kết chuyển vật
liệu vào TK hàng tồn kho.
Nợ TK 152, 151
Có TK 611 (6111)
+ Sau khi xác định chênh lệch, kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp phát sinh trong kỳ.
Nợ TK 621 (Chi tiết đối tợng)
Có TK 611 (6111)
+ Cuối kỳ, kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào giá thành sản
phẩm.
Nợ TK 631 (Chi tiết đối tợng)
Có TK 621 (Chi tiết đối tợng)
19
Sơ đồ 2: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí NVL trực tiếp (KKĐK)
3/ Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
3.1. Hạch toán ban đầu
Các chứng từ trong hạch toán chi phí nhân công tực tiếp bao gồm: Bảng chấm
công, Bảng thanh toán lơng, Hợp đồng làm khoán...
b. Hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết chi phí nhân công trực tiếp
b1. Tài khoản sử dụng:
Để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622 - "Chi phí
nhân công trực tiếp". Tài khoản này dùng để tập hợp và kết chuyển số chi phí
tiền công của công nhân sản xuất xây lắp (bao gồm tiền công, tiền lơng, tiền th-
Nợ TK 622: (chi tiết cho từng đối tợng)
Có TK 335: Tiền lơng nghỉ phép trích trớc (chi tiết cho từng đối t-
ợng)
+ Cuối kỳ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK 154-CPSX dở dang
Nợ TK 631 : (Chi tiết cho từng đối tợng -Phơng pháp KKĐK)
Nợ TK 154 : (Chi tiết cho từng đối tợng -Phơng pháp KKTX)
Có TK 622 : (Chi tiết cho từng đối tợng)
Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
TK334,1413 TK 622 TK 154
(631)
Tiền lơng phải trả Kết chuyển chi phí nhân công
công nhân xây lắp
TK 338 TK 627
19% tiền lơng công nhân xây lắp Kết chuyển chi phí SXC
21
4/ Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công (MTC):
4.1. Hạch toán ban đầu
Để hạch toán chi phí sử dụng máy thi công, kế toán sử dụng các chứng từ nh:
Phiếu theo dõi sử dụng xe, máy thi công; Hợp đồng thuê ngoài máy móc, thiết
bị...
4.2. Hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết
4.2.1. Tài khoản sử dụng:
Theo quy định kế toán hiện hành đối với các DNXL thì để phản ánh chi phí sử
dụng máy thi công, kế toán sử dụng TK 623 - "Chi phí sử dụng máy thi công".
Tài khoản này dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy phục vụ trực tiếp
cho hoạt động xây lắp công trình.
Tài khoản này chỉ sử dụng trong những doanh nghiệp xây lắp tổ chức thi công
xây lắp hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy.
Nếu doanh nghiệp thực hiện thi công hoàn toàn bằng máy (sản xuất chính là
máy thi công) thì mọi chi phí sản xuất cho máy hoạt động tập hợp vào TK 621,
Có TK 334
- Các chi phí khác liên quan đến sử dụng MTC bao gồm tiền lơng nhân viên
quản lý đội, trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân sử dụng máy, nhân
viên quản lý đội, khấu hao MTC, chi phí dịch vụ mua ngoài...
Nợ TK 627
Nợ TK 133: Thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ
Có TK 334,338,214,111,112,331
- Cuối kỳ kết chuyển chi phí sử dụng MTC sang TK 154 - chi phí SXKDDD
Nợ TK 154: (Chi tiết cho từng đối tợng-Phơng pháp KKTX)
Nợ TK 631: (Chi tiết cho từng đối tợng-Phơng pháp KKĐK)
Có TK 621,622,627
Tuỳ theo phơng thức tổ chức công tác hạch toán và mối quan hệ giữa đội MTC
với đơn vị xây lắp công trình, kế toán phản ánh:
Nếu DN thực hiện phơng thức cung cấp lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ
phận nội bộ, kế toán ghi:
Nợ TK 623
Có TK 154
Nếu DN thực hiện phơng thức bán lao vụ lẫn nhau giữa các bộ phận trong
nội bộ, kế toán ghi:
23
Chi phí sử dung MTC
Nợ TK 623 chi phí sử dụng MTC
Nợ TK 133 thuế GTGT đợc khấu trừ (nếu có)
Có TK 512,511
Trờng hợp bộ phận MTC không tổ chức hạch toán riêng thì kế toán tập hợp chi
phí sử dụng MTC nh sau:
- Tiền lơng, tiền công phải trả cho công nhân trực tiếp vận hành máy
Nợ TK 623 (6231)
Có TK 334,111
- Khi xuất kho hoặc mua NVL phục vụ MTC
(1) Tiền lơng, tiền công phải trả cho công nhân sử dụng máy
(2) Xuất kho nhiên liệu, vật liệu phục vụ máy thi công
(3) Chi phí công cụ, dụng cụ phục vụ MTC
(4) Chi phí dịch vụ mua ngoài
(5) Chi phí khấu hao thiết bị máy
(6) Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công
5/ Hạch toán chi phí sản xuất chung:
5.1. Hạch toán ban đầu:
Để hạch toán chi phí SXC, kế toán sử dụng các chứng từ gốc sau: Bảng thanh
toán lơng, Phiếu xuất kho, Bảng phân bổ CCDC, Giấy tạm ứng, Phiếu chi...
25