ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THANH XUÂN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG XOÀI ĐÀI LOAN
TRỒNG TẠI YÊN CHÂU, SƠN LA
Ĩ
LUẬN VĂN THẠC S
KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN, NĂM
2018
ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THANH XUÂN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG XOÀI ĐÀI LOAN
TRỒNG TẠI YÊN CHÂU, SƠN LA
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 8.62.01.10
Ĩ
Tôi xin trân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động
viên, hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và hoàn thiện luận văn này.
Tác giả
Nguyễn Thanh Xuân
3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ................................................................vi
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................vii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ............................................................................... 1
3. Yêu cầu của đề tài ................................................................................................... 2
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................................ 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................... 3
1.1. Cơ sở khoa học và lý luận của đề tài.................................................................... 3
1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến đề tài ................................
5
1.2.1. Những thuận lợi cơ bản ................................................................................. 5
1.2.2. Những hạn chế cần khắc phục ...................................................................... 5
1.2.3. Một số giải pháp góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu
quả sản xuất trong trồng xoài tại Yên Châu ...........................................................
6
1.5.2. Một số kết quả nghiên cứu về phân bón và phân bón qua lá đối với xoài ...... 29
1.5.3. Một số kết quả nghiên cứu về bao quả đối với xoài ....................................... 31
1.6. Tình hình nghiên cứu cây xoài tại Yên Châu..................................................... 33
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................... 35
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...................................................................... 35
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................... 35
2.1.3. Về vật liệu nghiên cứu gồm ............................................................................ 35
2.2. Nội dung nghiên cứu .......................................................................................... 36
2.3. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................... 36
2.4. Các chỉ tiêu theo dõi........................................................................................... 40
2.5. Phương pháp xử lý số liệu.................................................................................. 43
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................. 44
3.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ nấm ở thời kỳ
hoa nở đối với xoài Đài Loan tại Yên Châu, tỉnh Sơn La......................................... 44
3.1.1. Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ nấm đến bệnh phấn trắng, thán
thư ở thời kỳ hoa nở trên cây xoài Đài Loan ............................................................ 44
3.1.2. Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ nấm đến động thái rụng quả của
cây xoài Đài Loan ..................................................................................................... 46
3.1.3. Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ nấm đến động thái tăng trưởng
đường kính quả, một số chỉ tiêu về thành phần cơ giới quả ..................................... 47
3.1.4. Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc trừ nấm đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất giống xoài Đài Loan ............................................................ 48
3.1.6. Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng thuốc trừ nấm trên cây xoài
Đài Loan trồng tại Yên Châu .................................................................................... 49
5
3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón qua lá đến năng suất, chất
lượng xoài Đài Loan trồng tại Yên Châu .................................................................. 50
6
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
7
BV
A
TV
D
CC
T
CT
L
CV
R
ĐK
thực vật
: Chiều
cao
: Đồng
Bằng Sông
Cửu Long
: Food and
Agriculture
Organization
of the United
Nations
- Tổ
chức
Lương
thực và
Nông
nghiệp
Liên
Hiệp
Quốc
D
NS
TB/
&P
T
T
QC
: Công
thức
RI
C
- Quy trình thực hành sản xuất nông
:
Good
Agricult
ural
Practices
:
Đường kính R1
:
Đường kính R2
:
Trung bình
: Trace elements - Các nguyên tố trung, vi
lượng
Bảng 1.3:
Diện tích và sản lượng xoài của Việt Nam 2011 - 2014................... 18
Bảng 1.4:
Tình hình sản xuất xoài tại một số xã của huyện Yên Châu
năm 2017 .......................................................................................... 21
Bảng 1.5.
Một số loại túi bọc quả dùng trong nông nghiệp .............................. 32
Bảng 3.1.
Ảnh hưởng của thuốc trừ nấm đến tỷ lệ bệnh phấn trắng ở thời
kỳ hoa nở đối với xoài Đài Loan trồng tại Yên Châu ....................... 44
Bảng 3.2.
Ảnh hưởng của thuốc trừ nấm đến tỷ lệ bệnh thán thư ở thời kỳ
hoa nở đối với xoài Đài Loan trồng tại Yên Châu ............................ 45
Bảng 3.3:
Ảnh hưởng của thuốc trừ nấm đến động thái rụng quả của xoài
Đài Loan trồng tại Yên Châu ............................................................ 46
Bảng 3.4:
Ảnh hưởng của phân bón lá đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại
trên cây xoài Đài Loan trồng tại Yên Châu ...................................... 52
viii
Bảng 3.11.
Ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón qua lá đến các yếu tố
cấu thành năng suất của xoài Đài Loan ............................................ 53
Bảng 3.12:
Ảnh hưởng của việc phun phân bón lá đến chất lượng quả xoài
Đài Loan............................................................................................ 54
Bảng 3.13:
Ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón lá đến hiệu quả kinh tế
trong sản xuất xoài Đài Loan trồng tại Yên Châu ............................ 55
Bảng 3.14:
Ảnh hưởng của các loại túi bọc quả đến động thái rụng quả của
cây xoài Đài Loan trồng tại Yên Châu.............................................. 56
Bảng 3.15:
Ảnh hưởng của các loại túi bọc quả đến đường kính quả, một
số chỉ tiêu về thành phần cơ giới quả xoài Đài Loan........................ 57
Cây xoài (Mangifera indica L.) thuộc chi Mangifera, họ Anacardiaceae (đào
lộn hột), loài M. indica, là cây ăn quả nhiệt đới có giá trị kinh tế cao, có đặc điểm
thích nghi rộng, sinh trưởng nhanh, quả đẹp, giá trị dinh dưỡng cao... nên được
trồng tại nhiều nước thuộc khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới với diện tích khoảng
hơn 5,4 triệu ha (FAOSTAT, 2018)[44], xét về sản lượng thì có 3 khu vực sản xuất
xoài tập trung là châu Á, châu Mỹ, châu Phi.
Cây xoài được trồng ở nước ta từ rất lâu đời và Việt Nam là nước nằm trong
bản đồ phân bố cây xoài trên thế giới. Tại miền Bắc, xoài chỉ chiếm 10% so với cả
nước, phần lớn ở các vùng miền núi và trung du. Tỉnh có diện tích xoài lớn nhất
miền Bắc là Sơn La, trong đó huyện trồng xoài tập trung là Yên Châu.
Đã có một số tiến bộ kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất đối với cây xoài,
tuy nhiên việc sản xuất xoài ở miền Bắc Việt Nam còn một số yếu tố hạn chế: Xoài
được trồng từ nhiều năm nay, ra rất nhiều hoa nhưng không đậu quả hoặc đậu ít,
hiệu quả kinh tế thấp. Xoài được trồng theo phương thức quảng canh là chủ yếu,
không theo quy trình kỹ thuật, tán cao, cành rậm rạp, sâu bệnh phát triển, năng suất
thấp, không ổn định, đặc biệt là bọ cánh cứng đục quả xoài xuất hiện từ năm 2012
về đây đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm quả xoài Yên Châu, cần
phải cải tạo toàn bộ số diện tích này.
Việc đưa giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện
địa phương bên cạnh giống xoài bản địa là cần thiết. Giống xoài Đài Loan là giống
có tiềm năng năng suất cao, quả có chất lượng tốt, tỉ lệ phần ăn được nhiều, mã quả
hấp dẫn, thích hợp cho ăn tươi. Tuy nhiên xoài Đài Loan cũng gặp những khó khăn
như nấm bệnh phấn trắng, thán thư, vấn đề về dinh dưỡng, sâu bệnh hại đã gây ảnh
hưởng không nhỏ đến năng suất, chất lượng, mẫu mã quả, nhưng cho đến nay chưa
có bất kỳ đề tài nghiên cứu nào về vấn đề này đối với giống xoài Đài Loan trồng tại
Yên Châu. Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi đề xuất đề tài: ‘‘Nghiên cứu một
số biện pháp kỹ thuật đối với giống xoài Đài Loan trồng tại Yên Châu, Sơn La”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xác định được loại thuốc trừ nấm, phân bón lá, túi bọc quả thích hợp đến
năng suất, chất lượng xoài Đài Loan trồng tại huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học và lý luận của đề tài
Cây xoài (Mangifera indica L.) là cây ăn quả nhiệt đới có giá trị kinh tế cao,
được trồng khá phổ biến ở nước ta cũng như các nước trong khu vực nhiệt đới và á
nhiệt đới như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Mexico, Indonesia vv... Cách đây
không lâu người ta gọi xoài là “vua các quả“, cây xoài không những được trồng để
lấy quả, lấy gỗ, làm cây bóng mát, cây cảnh và cây che phủ đất chống xói mòn mà
trong quả xoài chín còn có giá trị dinh dưỡng rất cao. Trong 100 g phần ăn được có
86,1% nước,
0,6% protein, lipit 0,1%, chất khoáng 0,3%, 1,1% xơ, hydrat cacbon 11,8%, Ca
0,01%, lân 0,02%, Cu 0,03%, năng lượng 50 calo/100g, caroten (vitamin A) 4800
đơn vị quốc tế (I.U), vitamin B1 40 mg/100 gam, vitamin PP 0,3 mg/100 gam,
vitamin B2 50 mg/100 gam, vitamin C 13 mg/100 gam (Singh 1979), Theo Jain
(1961) (Trích theo Trần Thế Tục, Ngô Hồng Bình, 2004)[20] trong quả xoài có các
loại đường như saccaroza, glucoza, fructoza và maltoza. Ngoài ăn quả tươi, xoài còn
có thể chế biến thành nhiều mặt hàng có giá trị như chế biến đồ hộp, làm mứt, nước
giải khát, cho lên men làm rượu, làm giấm... nhân hạt xoài có thể dùng làm thuốc sát
trùng, hoa dùng làm thuốc và là nguồn mật rất tốt (Trần Thế Tục, Ngô Hồng Bình,
2004)[20].
Cây xoài dễ trồng, tuổi thọ cao, phạm vi thích nghi sinh thái rộng. Ở Việt Nam
cây xoài có mặt tại hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Nhiều vùng miền có giống
xoài đặc sản như: xoài Yên Châu - tỉnh Sơn La, xoài Cát Hòa Lộc huyện Cái Bè - tỉnh
Tiền Giang, xoài Cát Chu huyện Cao Lãnh - tỉnh Đồng Tháp, xoài Yên Minh - tỉnh
Hà Giang...
Với mục đích chuyển một phần diện tích đất trồng cây hàng năm sang trồng
một số loại cây ăn quả từng bước quy hoạch vùng phát triển cây ăn quả theo hướng
sản xuất an toàn, tập trung, chuyên canh, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La đã xây dựng
kích thích đâm chồi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu quả, giảm hiện tượng rụng quả non, quả
to đẹp, phẩm chất ngon và tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh.
Sử dụng bao quả ngoài tránh được sự va chạm cơ học do gió gây ra, làm giảm
sự xâm nhập của nấm và vi khuẩn qua vết thương còn ngăn không cho sâu bệnh phá
hại nhất là ruồi đục quả do đó mà giảm đáng kể việc sử dụng thuốc BVTV làm cho
sản phẩm có mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, kéo dài thời gian bảo quản từ 3 - 5 ngày so
với bình thường, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Bao quả
còn đem lại những lợi ích xã hội góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường do tồn dư
thuốc bảo vệ thực vật, an toàn đối với sức khỏe của cộng đồng. Tạo tiền đề cho sản
xuất xoài theo hướng Global GAP và xuất khẩu cho các thị trường có tiêu chuẩn khắt
khe trong tương lai.
Như vậy, để có được sản phẩm xoài Đài Loan năng suất cao, chất lượng tốt
chúng ta cũng cần phải có những nghiên cứu cụ thể về sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật, phân bón lá, túi bao quả cho giống xoài Đài Loan.
6
1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan đến đề tài
1.2.1. Những thuận lợi cơ bản
- Tài nguyên khí hậu, đất đai của huyện đa dạng, phong phú. Huyện
Yên Châu có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, chia thành 2
mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, thường có rét đậm kéo dài, nhiệt độ trung
bình năm là 230 C. Độ ẩm trung bình 78,2%, tổng số giờ nắng 1986 giờ/năm,
lượng bốc hơi bình quân 1.086% mm/năm, lượng mưa bình quân 1.444
mm/năm. Đất đai gồm nhiều loại đất Feralit. Đây là những điều kiện thuận lợi
cho cây xoài sinh trưởng, phát triển.
- Người dân huyện Yên Châu có kinh nghiệm trong sản xuất cây ăn quả
vùng gò đồi. Xoài là cây trồng có khả năng sinh trưởng mạnh, được người dân
quan tâm trong việc tìm kiếm giống mới và biện pháp kỹ thuật để ghép cải tạo
- Việc tham khảo và áp dụng kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật
nâng cao năng suất, chất lượng xoài trồng tại Yên Châu sẽ góp phần tăng khả năng
ra hoa, đậu quả, hạn chế sâu bệnh đặc biệt khi thời tiết có mưa phùn, ẩm độ không
khí cao. Cùng với các biện pháp canh tác, phòng trừ sâu bệnh mang tính tổng hợp
trong thời kỳ xoài ra hoa, đậu quả và quả lớn thì cần mở rộng diện tích, nâng cao
năng suất, chất lượng thì mới thực sự đem lại hiệu quả.
- Cần tăng cường công tác xây dựng mối liên kết 4 nhà (nhà nước, nhà
khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp) nhằm tăng năng suất, chất lượng
xoài, từ đó gia tăng giá trị kinh tế trong sản xuất.
1.3. Những nét chung về tài nguyên cây xoài
1.3.1. Nguồn gốc và phân bố cây xoài trên thế giới
- Nguồn gốc: Xoài là một trong những loại cây ăn quả được trồng từ rất
lâu đời trên trái đất, cách đây khoảng 4.000 năm (De.Candoile, 1904) (trích theo
Majumder, 1990)[29], Lim và Khoo (1985)[28], cho rằng, cây xoài được trồng ở Ấn
Độ cách đây khoảng 6000 năm. Trong khi đó Bondad (1989)[25] lại khẳng định,
nguồn gốc của cây xoài có liên quan đến 3 vùng lớn đó là Ấn Độ, Ấn Độ - Myanma
và Đông Nam Á.
Vùng Ấn Độ: Được xem là nguồn gốc chính của cây xoài vì ở Ấn Độ cây
xoài được ghi lại từ những năm 2000 trước công nguyên (Singh, 1959).
Vùng Ấn Độ - Myanma: Được xem là quê hương của cây xoài vì có nhiều
giống xoài hoang dại và xoài trồng (De Candolle, 1904) (trích theo Majumder và
Sharma, 1990)[29].
Vùng Đông Nam Á: Những căn cứ chính để nhiều tác giả đưa vấn đề này ra
là: trong chi Mangifera có tới 41 loài xuất hiện rải rác ở các nước vùng Đông Nam
Á, trong đó xoài được trồng rộng rãi nhất (Vũ Công Hậu, 2000)[10]
8
- Phân bố xoài trên thế giới: Vùng phân bố chính cây xoài trên thế giới nằm
9
Thân cành: với điều kiện khí hậu vùng nhiệt đới và á nhiệt đới hàng năm
xoài bắt đầu sinh trưởng từ tháng 2 - 3 đến tháng 11 - 12 thì ngừng sinh trưởng,
trong thời gian đó có thể ra nhiều đợt lộc Xuân (tháng 2 - 4), lộc Hè (tháng 5 - 6),
lộc Thu (tháng 8 - 10) và lộc Đông (tháng 11 - 12), cây non, ở nơi đất tốt có thể ra
nhiều đợt lộc hơn (Trần Như Ý và cs, 2000)[22].
Lá: lá xoài thuộc loại lá đơn, mọc so le, tập trung trên ngọn cành, phía gốc
cành thường ít lá hơn. Với đặc điểm lá nguyên, cứng mặt lá láng bóng, mép lá
phẳng hoặc hơi lượn sóng tùy giống. Lá xoài có chiều dài 10 - 15 cm, rộng 8 - 12
cm, khi mới ra có màu xanh nhạt, màu hồng, màu tím hoặc màu nâu sau đó lá dần
chuyển sang màu xanh nhạt cho đến xanh sẫm. Màu sắc lá non và hình dạng lá là
đặc điểm khác nhau của giống.
Hoa: xoài ra hoa thành chùm ở ngọn cành, chùm hoa to, dài khoảng 20 - 40
cm, có tới 200 - 400 hoa, nhưng cũng có trường hợp ra thành những chùm nhỏ xen
với lá ở ngọn cành. Chùm hoa của xoài có 2 loại: chùm hoa có mang lá và chùm
hoa không mang lá. Hoa xoài có kích thước nhỏ 6 - 8 mm, có mùi thơm, có mật nên
thường hấp dẫn được nhiều côn trùng. Xoài có hoa đực và hoa lưỡng tính phân bố
lẫn lộn trên cùng một cây.
Quả và hạt: xoài thuộc loại quả mọng, ngoài có vỏ mỏng, có độ dai, vỏ quả
màu xanh, xanh vàng hoặc xanh lam, phía quả về phía mặt trời thường có màu hồng
phấn hoặc màu hồng tím, khi chín thường quả chuyển sang màu vàng, cũng có
giống toàn bộ quả có màu hồng hoặc màu hồng tím. Thời gian phát triển của quả
tùy thuộc vào giống (thường kéo dài từ 2 - 4 tháng kể từ khi thụ tinh đến khi quả
chín). Ở Việt Nam phần lớn các giống xoài đều thuộc nhóm giống chín trung bình
có thời gian phát triển của quả từ 3 - 3,5 tháng. Quả xoài có nhiều hình dạng với
khối lượng và kích thước khác nhau.
Hạt xoài bên ngoài có lớp vỏ mỏng, bên trong có phôi. Hạt xoài có thể đơn
phôi hoặc đa phôi tùy giống. Các hạt đa phôi chỉ có một phôi hữu tính, còn các
nhiều sơ, khi xanh thịt quả màu xanh trắng. Đặc biệt khi quả chín: vỏ có màu xanh
bạc ngà chuyển dần sang vàng, thịt có lòng màu đỏ, vị ngọt, hương thơm đặc trưng
và dễ phân biệt được với các loại xoài của địa phương khác (Viện Thổ Nhưỡng
Nông Hóa, 2002)[24].
1.3.3.3 Giống xoài dài Yên Châu (xoài Hôi)
Ra hoa vào tháng 12 thu hoạch vào tháng 6. Quả dài, hơi dẹt to hơn xoài tròn,
khối lượng 150 - 250 g/quả. Khi chín vỏ vàng xanh, thịt vàng ngọt nhưng hơi có
mùi nhựa nên còn được gọi là xoài Hôi (Viện Thổ Nhưỡng Nông Hóa, 2002)[24].
10
1.3.3.4. Xoài Thái Lan
Xoài Thái Lan là giống xoài ăn quả xanh được nhập từ Thái Lan và được
trồng đầu tiên ở miền Nam Việt Nam.
Đặc điểm: Lá có màu xanh đậm, dóng lá dài, thường khó ra hoa trong điều
kiện tự nhiên.
Vỏ quả có màu xanh đậm và rất dày khi trái vừa cứng bao đầu đã có vị ngon,
ngọt. Tỷ lệ xoài Thái Lan đậu trái cao, cây 5 tuổi cho năng suất từ 60 - 70 kg/cây.
Trọng lượng trung bình của quả 0,35 - 0,4 kg/quả.
Quả xoài thái tròn dài, hơi cong ở phía đuôi, vỏ xanh đậm có thể ăn xanh,
chín đều rất ngon. Xoài Thái Lan là một trong số các loại cây đang thích hợp trồng
ở khu vực nhiệt đới, đặc biệt phù hợp với khí hậu nước ta.
1.3.3.5. Xoài Cát Hòa Lộc
Trồng nhiều ở huyện Cái Bè (Tiền Giang) và huyện Cái Mơn (Bến Tre). Quả
có khối lượng lớn: 350 - 500 gam, quả chín màu vàng chanh, thịt quả có màu vàng
tươi, ăn ngọt và thơm, năng suất cao và được người dân vùng đồng bằng sông Cửu
Long rất ưa trồng. Thời gian từ ra hoa đến quả chín khoảng 100 - 105 ngày (Trần
Như Ý và cs, 2000) [22].
1.3.3.6. Xoài Thanh Ca
1.3.4.2. Nhiệt độ
Cây xoài là cây ăn quả nhiệt đới, nhưng hiện nay cây xoài cũng đã được
trồng nhiều ở các vùng bán nhiệt đới như Đài Loan, Ixraen, Florida do cây xoài có
thể chịu được những đợt rét vài độ dưới không (- 2 đến 4 oC) và không gặp rét vào
các đợt sinh trưởng như ra lá non, ra hoa và đặc biệt là cây con rất mẫn cảm với giá
lạnh. Tuy vậy, cây xoài còn chịu nóng rất tốt, ở nhiệt độ 40 - 45 oC cây vẫn mọc
bình thường miễn là cung cấp đủ nước (Trần Như Ý và cs, 2000)[22]. Nhiệt độ
thích hợp nhất là 23,9 - 26,7 oC (Singh, 1960)[39]. Thời tiết, khí hậu là những yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp, có thể thúc đẩy hoặc làm trì hoãn việc nở hoa của xoài, cùng
một giống xoài thời gian ra hoa sớm hay muộn giữa các năm có liên quan đến nhiệt
độ không khí ở giai đoạn phân hóa mầm hoa (Singh, 1960)[39].
Whiley (1993)[41] khẳng định rằng có đầy đủ những số liệu cần thiết để kết
luận nhiệt độ là yếu tố quan trọng kích thích sự ra hoa ở xoài, nhiệt độ tới hạn cho
sự ra hoa giữa ngày và đêm là dưới 20/10 oC, nhưng nhiệt độ giữa ngày và đêm
thích hợp cho sự ra lá là 15/10 oC. Điều này cho thấy sự xuất hiện những đợt lạnh
12
trước thời kỳ ra hoa có liên quan rất chặt với sản lượng xoài hàng năm, (NunezElisea và Davenport, 1995)[32] do đó ở Nicaragua không có mùa Đông lạnh, nhiệt
độ trung bình năm từ 20 - 23 oC nên cây xoài ở đây ra hoa rất ít, (Maas, 1989)[30].
Nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân làm cho xoài đậu quả ít hoặc không đậu
quả là do ảnh hưởng của nhân tố bên ngoài, có đến 50% hoa lưỡng tính không nhận
được phấn hoa, do đó tỷ lệ thụ tinh chỉ đạt dưới 35% (Dương Nhất Tuyết, 1992).
Nếu hoa xoài nở vào thời tiết mát, khô thì quá trình thụ phấn thụ tinh đạt kết quả cao
(Singh, 1960)[38], (Ram và cs, 1989)[37], (Yang và cs, 1989)[42]. Tuy nhiên người
ta có thể làm thay đổi đáng kể tỷ lệ hoa lưỡng tính trên một số giống xoài bằng biện
pháp hóa học (Chanai Yotpetch, 1988)[26], (Surmit Feungchan, 1991)[39].
Quả xoài thường phải mất 3 tháng kể từ khi hoa tàn, quả mới có thể đạt độ
chín đầy đủ, thời gian có thể biến động tùy theo giống và điều kiện thời tiết trong