BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
NGUYỄN QUỐC THỊNH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC SỬ DỤNG TỔNG HỢP
NGUỒN NƯỚC HỆ THỐNG THỦY LỢI ĐỒNG MÔ - NGẢI SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
NGUYỄN QUỐC THỊNH
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC SỬ DỤNG TỔNG HỢP
NGUỒN NƯỚC HỆ THỐNG THỦY LỢI ĐỒNG MÔ - NGẢI SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước
Mã số: 60 - 62 - 30
tổng hợp đa mục tiêu cho phát triển kinh tế - xã hội, tìm ra nguyên nhân của các tồn tại,
thiếu sót rồi đề xuất phương hướng, giải pháp khắc phục - phát triển làm cơ sở khoa học
- thực tiễn vững chắc cho quy hoạch, xây dựng và quản lý các công trình thuỷ lợi đạt
hiệu quả cao, phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, vùng trên quan điểm sử dụng
tổng hợp, bền vững tài nguyên nước.
Hồ Đồng Mô - Ngải Sơn với 3 nhiệm vụ chính là cấp nước tưới cho nông nghiệp,
đảm bảo mực nước phục vụ du lịch và thủy sản và cũng chịu những tác động mạnh mẽ
của biến đổi khí hậu, sự phát triển của các các tổ chức dùng nước đòi nhu cầu cấp nước
ngày càng cao cả số lượng lẫn chất lượng nước.
Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước
2
Hồ Đồng Mô - Ngải Sơn được xây dựng từ năm 1969, đến năm 1974 thì bắt đầu
đưa vào khai thác với dung tích ứng với mực nước dâng bình thường là 86 (106m3) và
mực nước dâng bình thường là +23,25 (m), cao trình đỉnh đập +26,00 (m), nhiệm vụ để
phục vụ tưới cho 12.000 ha đất nông nghiệp của các huyện Thạch Thất, Quốc Oai nằm
bên hai bờ sông Tích. Hồ nước nằm trên địa bàn 3 xã Kim Sơn, Sơn Đông và Cổ Đông
(thị xã Sơn Tây, Hà Nội). Ban đầu chỉ là vùng thung lũng triền đồi, sau đó được tạo
thành hồ bởi việc đắp đập ngăn 2 con sông Măng và Ngải Sơn, chu vi hồ vào khoảng
17km.
Tuy nhiên, cho đến ngày 2/4/2010, cao trình nước hồ chỉ còn ở mức 13,97m và
cho đến ngày 6/4/2100 thì rút xuống chỉ còn vỏn vẹn 13,51m; lượng nước trong hồ chỉ
còn 5,9 triệu m3. Tính từ ngày đưa vào khai thác đến nay, thì mức 13,51m là mức khô
cạn nhất trong lịch sử 37 năm của hồ Đồng Mô, với mức này chỉ còn 51cm nữa là
xuống đến mực nước chết (không mở được cửa xả tưới tiêu) gây ảnh hưởng lớn đến
diện tích đảm nhận tưới của hệ thống.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sử dụng tổng hợp nguồn nước hồ Đồng Mô Ngải Sơn phục vụ đa mục tiêu.
Phạm vi nghiên cứu ứng dụng là hệ thống thủy Đồng Mô - Ngải Sơn. Kết quả
nghiên cứu của đề tài có thể được xem xét để vận dụng cho các hồ chứa Bắc Bộ và các
vùng có điều kiện tự nhiên và xã hội tương tự.
D. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Cách tiếp cận
a) Thu thập tài liệu
Thu thập số liệu địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, khí tượng, thủy văn.
Thu thập tài liệu dân sinh kinh tế, định hướng quy hoạch phát triển của các
ngành.
Thu thập tài liệu về cơ cấu tổ chức, quản lý vận hành hệ thống.
Thu thập tài liệu về hiện trạng công trình hồ Đồng Mô - Ngải Sơn.
Thu thập các tài liệu, kinh nghiệm thể giới, chủ yếu của các nước châu Á, Đông
Nam Á, các tổ chức quốc tế như FAO, ICID, IWMI và tài liệu trong nước.
Nghiên cứu các sử dụng các phần mềm máy tính đánh giá hiệu quả công trình
thủy lợi như: Phương pháp đánh giá nhanh (Rapid Appraisal Process - RAP), Đánh giá
tiêu chuẩn hoạt động của hệ thống (Benchmarking process) của các tổ chức IPTRID,
ICID, FAO phối hợp với IWMI và phần mềm IMSOP của Australia.
b) Khảo sát thực địa
Điều tra khảo sát thực địa để đánh giá khả năng hoạt động của công trình, phạm
vi ảnh hưởng của các tổ chức dùng nước đối với chất lượng và trữ lượng nước của hồ,
Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước
4
ảnh hưởng tới quá trình quản lý, vận hành hồ chứa; đánh giá các điều kiện tự nhiên, đặc
điểm kinh tế - xã hội liên quan và ảnh hưởng đến vùng nghiên cứu.
tại trong hai giai đoạn: 1965 - 1975 và 1991 - 1998. Tỉnh nằm bên bờ phải (bờ Nam)
sông Hồng và bờ trái (bờ Đông) sông Đà. Trung tâm hành chính của tỉnh là Thành phố
Hà Đông nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội cũ 10km về phía tây nam, cách sân bay
quốc tế nội bài 35km. Trước tháng 8 năm 2008, Hà Tây có địa giới phía đông giáp thủ
đô Hà Nội cũ, phía đông nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía nam giáp tỉnh Hà Nam, phía tây
giáp tỉnh Hòa Bình, phía bắc giáp hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Từ ngày 1 tháng 8
năm 2008, toàn bộ địa giới của Hà Tây được sát nhập vào thủ đô Hà Nội .
Hà Tây (cũ) có diện tích 2196,3km2 nằm ở 20033’ - 21018’ vĩ bắc và 105057’ 105059’ kinh đông với 5 cửa ngõ thủ đô qua các quốc lộ số 1A, 6, 32, cao tốc Láng Hòa Lạc, cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ. Hà Tây (cũ) nằm trong vùng tam giác kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ, là địa bàn tập trung nhiều dự án quan trọng của quốc gia như: chuỗi
đô thị Miếu Môn - Xuân Mai - Hòa Lạc - Thị xã Sơn Tây, làng văn hóa du lịch Việt
Nam, Đại học quốc gia, khu công nghệ cao, khu đô thị mới An Khánh, Quốc Oai, Ngọc
Hiệp, Vạn Ninh, Đồng Xuân, Phú Cát, đường vành đai 4, đường vành đai 5 của thủ đô
Hà Nội.
Với vị trí địa lý - kinh tế - chính trị - thuận lợi, Hà Tây (cũ) nay sát nhập vào Hà
Nội càng có nhiều điều kiện phát triển kinh tế đa dạng, mở rộng thị trường trong nước,
khu vực quốc tế, tiếp thu khoa học công nghệ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực để đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.1.1.2. Đặc điểm địa hình, địa mạo
Hà Tây (cũ) có địa hình đa dạng, phức tạp bao gồm vùng núi và vùng đồi gò tập
trung ở phía Bắc tỉnh và vùng đồng bằng phía Nam.
Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước
7
b. Số giờ nắng
Nắng chịu ảnh hưởng bởi lượng mây trên khu vực và thay đổi theo mùa, là khu
vực nằm trong vùng nhiệt đới, quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi
2006
68,0
35,9
26,1
104,4 164,3 182,4 154,6
2007
61,4
64,1
23,4
78,5
IX
X
182,8 121,6 191,7 128,0 162,4 113,0
92,7
169,4 110,8
147,9 226,6 216,1 158,0 135,9
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
TB
2005
84
88
86
89
87
85
91
81
84
82
81
84
2007
76
87
92
85
84
83
84
VII
2005
13,8
31,9
23,7
27,2
74,4
239,8 355,0
2006
1,7
25,1
70,7
17,6
2007
6,6
383,8 109,8
28,4
58,0
5,6
1314,4
112,7 143,0 157,8
197,6 220,1 184,3
7,1
9,8
1186,0
1.1.2.2. Chế độ thủy văn
Hà Tây (cũ) nằm kẹp giữa hai con sông lớn của Bắc Bộ là sông Đà và sông
Hồng. Sông Đà chảy ở Tây Bắc tỉnh, trên địa bàn huyện Ba Vì, chiều dài khoảng 32km,
Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước
8
Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước
9
Hà Tây (cũ) liền kề Thủ đô Hà Nội, có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận
lợi, đất đai phong phú, cảnh quan đẹp, rất có điều kiện phát triển để trở thành một khu
vực vệ tinh phát triển trên cả 3 lĩnh vực: Nông nghiệp, công nghiệp và du lịch dịch vụ.
Trong những năm qua, kinh tế Hà Tây có những bước tiến đáng khích lệ. Cơ cấu
kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỉ trọng công nghiệp từ 34,59% (năm
2002) lên 37,1% (năm 2004) và giảm dần tỉ trọng nông nghiệp từ 35,9% xuống còn
33,6%; dịch vụ giữ mức 29,5%. Cơ cấu lao động cũng có sự chuyển dịch quan trọng, từ
70% năm 2001, giảm xuống còn 65,8% năm 2004. Trong công nghiệp, khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh có tốc độ tăng 20%/năm, kinh tế Nhà nước tăng 27%/năm.
Sau khi được sát nhập vào Hà Nội tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các nguồn lực
bên trong và bên ngoài, nhất là vốn đầu tư, kỹ thuật, công nghệ và nguyên liệu, phát
triển mạnh và đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho quá trình trao đổi
hàng hoá và phát triển các loại hình dịch vụ.
Hà Tây (cũ) có trên 200 làng nghề với những sản phẩm đặc sắc và được nhiều
người ưa chuộng như Vạn Phúc, sơn mài - Duyên Thái, tiện gỗ - Nhị Khê, thêu - Quất
Động, nón Chuông, quạt Vác, khảm trai Chuyên Mỹ, hàng mây tre Phú Vinh, đồ mộc
Chàng Sơn, Sơn Đồng, may Trạch Xá, mộc Đại Nghiệp vv…
c. Du lịch, dịch vụ
Hà Tây (cũ) là vùng đất có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, gắn liền với các dấu
tích về lịch sử phát triển của dân tộc qua đấu tranh dựng nước và giữ nước như vùng núi
cao Ba Vì với huyền thoại Sơn Tinh - Thuỷ Tinh nay là Rừng Quốc gia Ba Vì, dưới
chân núi có nhiều cảnh đẹp, xây dựng các điểm du lịch: Ao Vua, Khoang Xanh, Suối
Tiên, Thác Mơ, Suối Hai, Đồng Mô…Dãy núi đá vôi trùng điệp phía Tây Nam tỉnh
hoá cộng đồng ngày càng được nâng cao. Tới nay 100% số xã đã được phủ sóng phát
thanh truyền hình góp phần truyền tải các thông tin đến tận người dân, cùng với hoạt
động tích cực của các ngành văn hoá địa phương, trung ương, phải nói rằng bộ mặt văn
hoá xã hội của các địa phương trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ vượt bậc.
Ngành Y tế: Đang được Đảng, nhà nước quan tâm đầu tư đúng mức đến nay gần
100% số xã đã có các trạm y tế, cùng với các chiến dịch tiêm phòng và tuyên truyền
phòng chống các bệnh dịch đã ngày một phát huy hiệu quả bảo vệ sức khoẻ cho nhân
dân trong vùng.
1.1.4. Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu
1.1.4.1. Nông lâm, ngư nghiệp
a. Nông nghiệp
Tập trung thâm canh cao các vùng sản xuất lúa có điều kiện tưới tiêu chủ động
để giải quyết ổn định sản xuất lương thực ở mức có hiệu quả, phấn đấu lương thực
400kg/người/năm. Trong các loại cây màu và cây vụ đông trú trọng phát triển cây ngô
để giải quyết thức ăn tinh bột cho chăn nuôi.
Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước
11
Khai thác lợi thế về đất đai, thời tiết, khí hậu trong lưu vực phát triển cầy trồng,
vật nuôi có thế mạnh, tạo các vùng hàng hoá cho thị trường trong nước và tham gia xuất
khẩu trọng tâm là cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, rau thực phẩm.
Phát triển nhanh hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp và hệ thống dịch vụ
kỹ thuật nông nghiệp, đảm bảo cung cấp đầy đủ và kịp thời các dịch vụ cho sản xuất
Tăng cường bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường để đảm bảo cho quá trình
phát triển bền vững. Xây dựng phương thức canh tác nông - lâm kết hợp trên vùng đồi,
để vừa đạt hiệu quả kinh tế và hiệu quả về sinh thái.
Mặt khác hiện nay thực hiện tốt chương trình nông thôn mới có sợ liên kết của ba
nhà: nhà nông, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học đã hình thành nhiều khu trang trai
chăn nuôi lớn với quy mô hàng nghìn con gia súc, gia cầm.
b. Lâm nghiệp
Tình trạng rừng hiện nay đã trở nên nghèo cả vệ sổ lượng và chất lượng, tỷ lệ che
phủ của rừng thấp. Biện pháp trước mắt thực hiện đóng cửa rừng, cấm khai thác gỗ, đặc
biệt là các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ xung yếu có độ dốc từ 30° trở lên. Đến
năm 2020 chủ yếu là khai thác các vùng rừng trồng, trồng và phát triển bền vững các
vùng rừng phòng hộ. Hướng phát triển lâm nghiệp trong những năm tới nhanh chóng
khôi phục lại vốn rừng bằng hai phương thức: Khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng mới
rừng trên đất núi trọc phấn đấu đến năm 2020 đưa độ che phủ rừng lên 50%
c. Thủy sản
Diện tích mặt nước có thể nuôi trồng thủy sản lớn bao gồm ao, hồ, ruộng trũng
và sông suối. Chuyển mạnh sang hướng thâm canh và bán thâm canh đưa giống cá nuôi
có năng suất cao, phục hồi các giống đặc sản đưa vào sản xuất nhằm tăng nhanh giá trị
sản lượng thủy sản.
Với phương châm tận dụng mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản, đồng thời
manh dạn chuyển dịch loại đất trũng cấy lúa vụ mùa bấp bênh sang cơ cấu l cá, 1 lúa để
nuôi các loại cá tăng trọng nhanh và có chất lượng cao. Nói chung giá trị sản xuất thủy
sản chi chiếm 2,3% trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp, nhưng nó tạo nguồn thu
nhập hỗ trợ cho nông dân.
Dự kiến đến năm 2020, năng suất 2,0 tấn/ha.
1.1.4.2. Các ngành kinh tế khác
a. Công nghiệp
Sau khi Hà Nội sát nhập Hà Tây, theo định hướng phát triển công nghiệp Hà Nội
đến năm 2020, tầm nhìn 2030 thành phố sẽ tập trung phát triển nhanh hơn một số
ngành, sản phẩm công nghiệp như công nghệ tin học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ
chế tạo khuôn mẫu các ngành và sản phẩm công nghệ cao.
Phát triển công nghiệp điện tử, cơ khí chính xác, dụng cụ y tế, công nghiệp dược,
hoá, mỹ phẩm… Theo đó, thành phố sẽ bố trí các ngành theo xu hướng chuyển đổi cơ
Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thì Hà Tây (cũ) có vị trí quan trọng
với tư cách là điểm du lịch phụ cận thủ đô Hà Nội, trong tam giác du lịch và kinh tế
trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh của vùng Bắc Bộ, có thế mạnh và thuận
lợi phát triển du lịch. Địa bàn có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp với các di tích lịch sử
văn hóa, cách mạng, làng nghề là nguồn tài nguyên quý giá để phát triển du lịch với các
sản phẩm đa dạng phong phú, như tham quan di tích lịch sử, lễ hội, làng Việt cổ, nghỉ
cuối tuần vui chơi giải trí leo núi, tham quan du lịch làng nghề. Trong chương trình
hành động quốc gia về du lịch toàn quốc có 22 khu, điểm du lịch tổng hợp, chuyên đề
thì trong đó tỉnh ta có 2 khu du lịch chuyên đề là khu du lịch văn hóa thắng cảnh Hương
Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước
14
Sơn và khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Ba Vì - Suối Hai. Bên cạnh đó nhiều địa
phương có dày đặc các quần thể di tích lịch sử văn hóa danh lam thắng cảnh, điều này
đã khẳng định vị trí quan trọng của du lịch Hà Tây trong chiến lược phát triển du lịch cả
nước. Thực tế trong thời gian vừa qua trên địa bàn có các chương trình lớn của Quốc gia
được triển khai như khu công nghệ cao Láng - Hòa Lạc, Đại học quốc gia, làng văn hóa
các dân tộc Việt Nam sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động du lịch.
Ngành đã xây dựng định hướng phát triển về thị trường, phương hướng đầu tư,
chiến lược marketing… và phát triển sản phẩm chủ yếu, dựa trên các điều kiện tiềm
năng, tài nguyên du lịch với các loại hình sản phẩm đặc trưng, đó là du lịch văn hóa với
lễ hội chùa Hương, chùa Thầy, chùa Tây Phương… Mặt khác tăng cường khai thác thế
mạnh du lịch làng nghề thủ công truyền thống thu hút khách du lịch và xúc tiến thương
mại gắn với xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ hướng dẫn viên tại các điểm làng nghề
phục vụ du lịch và đưa sản phẩm làng nghề thành hàng hóa lưu niệm. Tổ chức tham
quan di tích văn hóa dựa trên tiềm năng các đặc trưng văn hóa lâu đời của địa phương
+ Cụ thể vai trò phục vụ đa mục tiêu của các HTTL gồm các lĩnh vực sau:
a. Các hệ thống thuỷ lợi đã cung cấp nước tưới và tiêu thoát nước cho các cây
trồng nông nghiệp là chủ yếu và cây trồng lâm nghiệp
Nhiều nước trên thế giới đã đảm bảo được an ninh lương thực (ANLT) quốc gia
và góp phần đảm bảo ANLT thế giới là nhờ phát triển nền nông nghiệp có tưới với diện
tích cây trồng được tưới, tiêu nước ngày càng tăng, nhất là tại các nước sản xuất lương
thực, nông sản lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Thái Lan, Việt nam, Nhật Bản,
Mexico, Brazinlia, Philipin, Indonesia…ở đó, đã từ lâu thuỷ lợi - tưới tiêu nước đã được
coi là giải pháp hàng đầu trong phát triển nông nghiệp, có tác dụng quyết định đến tăng
vụ, tăng năng xuất, sản lượng các cây trồng…
b. Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước sinh hoạt
+ Phần lớn dân cư nông thôn sống gần cạnh các kênh mương dẫn nước của
HTTL nên họ có điều kiện thuận lợi sử dụng nước miễn phí nguồn nước từ HTTL cho
sinh hoạt gia đình, thông qua sử dụng trực tiếp nước chảy trên kênh mương, hoặc gián
tiếp thông qua các giếng nước được nguồn cung cấp nước từ các kênh mương ngấm vào
tầng đất chứa nước, nhất là trong mùa khô hạn, đặc biệt các vùng khan hiếm nước.
+ Các hệ thống thủy lợi quy mô vừa và nhỏ thường cung cấp nước cho các nhu
cầu sinh hoạt nông thôn, các hệ thống cỡ lớn và trung bình còn thêm cả cấp nước cho
các khu đô thị, thị trấn, khu công nghiệp, thậm trí còn cấp nước cho các thành phố. Tại
Trung Quốc, các hệ thống thủy lợi lớn đã cung cấp 26 tỷ m3 nước/năm cho các nhu cầu
sinh hoạt và công nghiệp (chiếm tới 15% tổng các nhu cầu nước sinh hoạt, công nghiệp
của Quốc gia này, cho hơn 200 triệu dân cư).
+ Dân cư nông thôn, chủ yếu là nông dân mà nhà cửa của họ phần lớn nằm gần
cạnh các kênh mương dẫn nước của hệ thống thủy lợi nên họ có điều kiện thuận lợi sử
dụng nước từ kênh mương thủy lợi cho sinh hoạt gia đình, họ đã sử dụng trực tiếp nước
chảy trên kênh mương, hoặc sử dụng gián tiếp thông qua các giếng nước được nguồn
nước cấp từ các kênh mương ngấm vào đất - tầng chứa nước, nhất là trong mùa khô.
Luận văn thạc sĩ
nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm, thông qua việc lấy nước trực
tiếp từ các hồ chứa, dùng nước kênh mương, từ các giếng nước được kênh mương thủy
lợi làm tăng mực nước ngầm. Hệ thống thủy lợi còn cấp nước tưới cho các đồng cỏ
chăn nuôi, cho các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm…
+ Tại vùng cao nguyên Texas, nước Mỹ, các nhu cầu nước nông nghiệp đã khai
thác tới 95% tổng lượng nước ngầm. Do vậy sự thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi với
Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước
17
sự gia tăng ngành chăn nuôi (bao gồm vật nuôi và các cây thức ăn chăn nuôi) đã làm
giảm lượng nước cung cấp cho nông nghiệp tới 25%, nhưng lại góp phần chống xói
mòn đất, tăng độ phì nhiêu của đất, lại tăng hiệu quả kinh tế chung sản xuất.
e. Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước cho công nghiệp và dịch vụ ở nông
thôn
Nhiều vùng ở nông thôn chưa được xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch, nên
nguồn nước từ hệ thống kênh tưới đã cấp nước cho các hoạt động tiểu công nghiệp, dịch
vụ ở nông thôn như chế biến nông sản, sản xuất gạch ngói và vật liệu xây dựng, chế
biến thực phẩm, các nhà hàng ăn uống,…
f. Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước cho thủy điện và giao thông thủy
Những năm trước đây, một số hồ đập thủy lợi và nhiều bậc nước trên kênh
mương được tận dụng để phát triển thủy điện, nhưng giảm dần cùng với sự phát triển
của mạng lưới điện quốc gia (bao gồm nhiệt điện và các nhà máy thủy điện lớn). Về
giao thông thủy trên các HTTL hiện nay cũng giảm dần do sự phát triển mạnh mẽ của
mạng lưới giao thông đường bộ. Tuy nhiên tại nhiều vùng ở Campuchia, Philippin, Thái
Lan, Malaysia... và vùng đồng bằng sông Mê Kông của Việt Nam, các hệ thống kênh
mương thủy lợi đã được tận dụng nhiều cho giao thông đường thủy.
tác dụng làm giảm nhiệt độ nóng bức trong mùa hè và làm tăng nhiệt độ, gây ấm áp vào
mùa đông lạnh giá. Đặc biệt ở các vùng lân cận các hồ chứa thủy lợi có khí hậu luôn
mát mẻ trong mùa hè và ấm áp trong mùa đông, chính vì vậy mà nhiều khu vực có hồ
chứa và hồ chứa nước thủy lợi được kết hợp xây dựng các khu du lịch.
+ Tác dụng làm sạch nước của các hệ thống thủy lợi:
Khối lượng nước trên các cánh đồng lúa có tác dụng làm tăng tính hấp phụ của
đất đối với các kim loại nặng và làm tăng khả năng vận chuyển chất hữu cơ của nó, các
cánh đồng lúa như là các vùng đất ướt nhân tạo có tác dụng chuyển hóa các nguyên tố
Nitogen và Photpho có lợi cho đất và cây trồng. Tỷ lệ khử Nitogen này là từ 0.02 đến
0.8 g/m2/d.
Các lượng bùn cát lắng đọng trên kênh mương trong quá trình chuyển nước và
bùn cát lắng đọng trên các cánh đồng lúa tưới ngập đã có tác dụng làm sạch nước (trong
hơn) và còn cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho cây trồng phát triển, cải tạo đất thoái
hóa.
h. Bảo tồn đa dạng sinh học nhờ các HTTL
Các HTTL cấp, thoát nước và điều hoà dòng chảy, cải tạo đất đã có tác dụng rõ
rệt để giữ gìn, phát triển các loại cây trồng, quần thể thực vật tự nhiên, các động vật,
sinh vật trên khu vực để bảo tồn đa dạng sinh học.
i. Giá trị du lịch sinh thái và giải trí của các hệ thống thủy lợi
Nhiều hệ thống thủy lợi, nhất là các hồ chứa nước đã là nơi du lịch sinh thái, giải
trí rất tốt do cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ, nguyên sơ, do khí hậu ôn hòa, do bản thân
các công trình của hồ chứa được thiết kế xây dựng đẹp.
Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước
19
Nhiều CTTL đập dâng, các cống lớn cũng có cảnh quan đẹp và đươc thiết kể đẹp
Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước
20
lạch tạo nguồn ở đồng bằng sông Cửu Long với tổng năng lực tưới mới đạt 324.900 ha,
tiêu mới đạt 77.000 ha. Tính đến nay cả nước đã xây dựng được gần 100 hệ thống thủy
nông vừa - lớn và hàng nghìn công trình thủy lợi nhỏ, trong đó có:
+ Trên 500 hồ đập lớn có dung tích trên 1 triệu m3 nước hoặc có đập cao trên
10m hoặc công trình xả lũ trên 2000 m3/s (phân loại theo tiêu chuẩn của IOCLD). Với
số lượng này Việt Nam đứng thứ 15 trên thế giới, sau Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật
Bản, Tây Ban Nha, Canada, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Pháp, Nam Phi, Mêxico,
Italia, Anh. Trong số hồ đập lớn trên có: 72 hồ đập có dung tích trên 10 triệu m3, 41 hồ
đập có dung tích trên 20 triệu m3.
+ Trên 2.000 trạm bơm lớn và vừa với tổng công suất lắp máy về tưới là 250
MW, tiêu là 300 MW để tiêu úng vụ mùa cho 1,5 triệu ha ruộng và 0,5 triệu ha đất tự
nhiên (làng mạc, đường sá, thành thị...).
+ Trên 5.000 cống tưới tiêu lớn và vừa được xây dựng trên các sông lạch, kênh
trục cũng như dưới các đê sông, đê biển.
b. Các công trình thủy lợi mang lại thành tựu nổi bật to lớn
Về tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.
+ Góp phần ổn định tăng năng suất sản lượng cây trồng, đặc biệt là cây trồng lúa,
tính đến năm 2008, trên phạm vi cả nước, các hệ thống thủy lợi lớn, vừa và nhỏ đã đảm
bảo tưới trực tiếp cho hơn 3,45 triệu ha đất nông nghiệp, tiêu úng vụ mùa cho khoảng
1,7 triệu ha, ngăn mặn cho gần một triệu ha, cải tạo 1,6 triệu ha đất chua phèn ở đồng
bằng sông Cửu Long. Góp phần đưa sản lượng lương thực đạt 36 triệu tấn.
+ Các công trình thuỷ lợi còn tưới trên 1 triệu ha rau màu, cây công nghiệp và
cây ăn quả. Nhờ các biện pháp thuỷ lợi và các biện pháp nông nghiệp khác trong vòng
nuôi trồng thủy sản, du lịch, lâm nghiệp và phát điện như:
a. Công trình thuỷ lợi phục vụ phát triển trồng trọt
+ Hệ thống công trình thủy lợi có tác động rất lớn, thực hiện được vai trò biện
pháp hàng đầu phát triển ngành trồng trọt, nhờ có công trình thuỷ lợi đã làm tăng đáng
kể năng suất, tăng vụ, góp phần phát triển đa dạng hóa sản xuất và tăng sản lượng cây
trồng, vật nuôi. Nhìn chung nhờ các công trình thủy lợi mà hệ số quay vòng ruộng đất
nâng từ 2 lên 2,5 lần, năng suất lúa được tăng lên: Vụ chiêm xuân đạt 5,03 ÷ 6 tấn/ha,
vụ mùa đạt 4 ÷ 5 tấn/ha và ngô đông đạt 5 ÷ 6 tấn/ha, khoai tây 11 ÷ 14 tấn/ha, đậu tương
từ 5,4 ÷ 13 tạ/ha, chè tăng từ 29 ÷ 41 tạ/ha.
Bắc Kạn là tỉnh miền núi rất nghèo nhất miền Bắc, nhưng nhờ có các công trình thủy
lợi nên diện tích tưới được mở rộng, đạt tưới chắc 85% đất canh tác canh tác được hai vụ
lúa, sản lượng lúa tăng từ 5 tấn lên 8 tấn/ha/năm.
Yên Bái là tỉnh miền núi khó khăn, do có CTTL được đảm bảo nước tưới chắc
cho gần 80% đất canh tác nên trồng cấy được cả 2 vụ ổn định, các cây trồng đều tăng cả
về diện tích, năng suất (NS) sản lượng (NS lúa tăng từ 6 lên 9 tấn/ha/năm, NS ngô vụ
đông tăng 70 %).
Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước
25
Tỉnh Phú Thọ gần 82% đất canh tác được tưới nhờ có hệ thống công trình thuỷ
lợi, làm tăng hệ số quay vòng đất từ 1,6 lên 2,1 lần, NS lúa Vụ chiêm xuân tăng lên 5,03
tấn/ha, vụ mùa đạt 4,48 tấn/ha và NS ngô đông đạt 3,41tấn/ha.
Tỉnh Vĩnh Phúc 80% đất canh tác được tưới nhờ CTTL đảm bảo gieo trồng cả
năm 3 vụ, NS lúa vụ chiêm gần 5.5 tấn/ha, lúa vụ mùa 4,5 tấn/ha, vụ đông 3,5tấn/ha,
cây vụ đông 2,8 t/ha.
Thái Nguyên nhờ có CTTL mà NS ngô là 3,5 tấn/ha (tăng 70%), NS chè là 0,85
nước cho ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm, thông qua việc lấy nước trực
tiếp từ các hồ chứa, dùng nước kênh mương, từ các giếng nước được kênh mương thủy
lợi làm tăng mực nước ngầm. Hệ thống thủy lợi còn cấp nước tưới cho các đồng cỏ
chăn nuôi, cho các cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm,…
Tỉnh Tuyên Quang: Hệ thống thủy lợi cấp nước cho trại chăn nuôi bò Phú Lâm
với quy mô trên 3.000 con, cho trại bò Hoàng Khai, (khoảng 300 ÷ 400 con).
Hệ thống kênh mương còn là nơi cho trâu, bò ra uống nước và tắm rửa trực tiếp, do
vậy một số hệ thổng thuỷ lợi ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn... còn
được xây dựng bến xuống tắm cho gia súc.
Với gia cầm được chăn nuôi chủ yếu ở quy mô nhỏ, hộ gia đình, hầu như tận dụng
nước mặt từ kênh mương chảy vào các ao, đầm (được đào mới hay có sẵn), hoặc nước từ
hệ thống kênh mương làm tăng mực nước ngầm để rồi được lấy phục vụ chăn nuôi.
Lợi dụng mặt nước kênh mương để chăn thả vịt, ngan, ngỗng hay tháo nước từ kênh
mương vào các ao chăn nuôi thủy cầm.
Nước từ các hệ thống thủy lợi còn được dùng để tưới cho các đồng cỏ, cây thức ăn
chăn nuôi như ở đồng cỏ lớn của Công ty nuôi bò Phú Lâm, Tuyên Quang, của công ty
nuôi bò Mộc Châu, Sơn La, trại nuôi dê ở cạnh kênh chính hồ Núi Cốc Thái Nguyên...
Tại Yên Bái, HTTL đập dâng19 tháng 5, Nghĩa lộ đã cấp nước cho chăn nuôi
Đàn trâu là 2.527 con, đàn bò là 393 con, đàn lợn của thị xã là 13.337. Cấp nước cho gia
cầm (gà, ngan, vịt, ngỗng,...) trên 30.000 con. Số lượng ao chăn thả thủy cầm được lấy
nước từ kênh mương trên 100 ao.
Tại các nơi chăn nuôi vấn đề nước thải chưa được quan tâm, nên ảnh hưởng nghiêm
trọng đến môi trường của gia súc và con người. Nước thải từ các khu chăn nuôi thường
được đổ trực tiếp ra ao, đầm hoặc hệ thống kênh mương...
c. Công trình thủy lợi phục vụ cho ngành nuôi trồng thuỷ sản
Đánh giá chung
Nhìn chung các hệ thống công trình thuỷ lợi đã và đang tham gia tích cực vào cấp
và thoát nước cho nuôi trồng thuỷ sản: Các hệ thống thuỷ lợi hồ chứa đã cấp nước cho
các ao, hồ trại thuỷ sản của vùng đồng thời diện tích mặt hồ còn trực tiếp dùng để nuôi
cá, nguồn nước từ hồ được người dân lấy vào các ao thông qua các kênh dẫn để nuôi
Tỉnh Vĩnh Phúc: Đang hoàn thành dự án quy hoạch thủy lợi gần 6.000ha vùng
ruộng lúa trũng kết hợp nuôi trồng thuỷ sản. Hệ thống Liễn Sơn cung cấp nước cho trại
thủy sản của tỉnh và nhiều ao, hồ nhỏ nằm rải rác trên hệ thống.
Hồ chứa Xạ Hương cung cấp nước cho liên doanh nuôi cá Trình để xuất khẩu.
Hồ Đầm Bài - huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình: có khoảng 50 ao dọc trên kênh tưới
lấy nước để nuôi cá. Tại các tỉnh nêu trên các kênh mương thủy lợi còn làm nhiệm vụ
tiêu thoát nước cho các khu nuôi trồng thủy sản, hoặc dùng nước thải từ thủy sản, từ
chăn nuôi để tiếp tục tưới ruộng.
Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý Tài nguyên nước