BSỊ8BỊ
1
ágl' ệt, _/ ~
B Ọ T f t 'P H ■* :Ệ r
5. Trần Thu Anh - Trung tâm thông tin - thư viện, Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp
Các cán bộ tham gia:
1. Ths. Hà Tú Cầu - Phó trưởng Ban Nghiên cứu pháp luật quốc tế, luật so
sánh và quyền con người - Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
2. Trần Thị Quang Hồng - Phó trưởng Ban Nghiên cứupháp luật
dân sự,
kinh tế - Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
3. Đinh Bích Hà - Trưởng Phòng Quản lý khoa học và tổng hợp - Viện Khoa
học pháp lý - Bộ Tư pháp
4. TS. Phạm Hồng Quang - Phó trưởng Phòng Tổ chức bộ máy - Vụ Pháp
luật hình sự - hành chính - Bộ Tư pháp
5. Nguyễn Lan Phương - Phó Giám đốc Trung tâmthông tin -thư viện,
Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
6. Chu Thị Thái Hà - Vụ Pháp luật hình sự - hành chính - Bộ Tư pháp
7. Ths. Dương Thị Bình - Vụ Pháp luật hình sự - hành chính - Bộ Tư pháp
8. Bùi Phương Anh - Phòng Quản lý khoa học và tổng hợp - Viện Khoa học
pháp lý - Bộ Tư pháp
9. Trương Thị Phương Lan - Vụ Pháp luật hình sự - hành chính - Bộ Tư
pháp
10. Đỗ Thị Huệ, Vụ Pháp luật hình sự - hành chính - Bộ Tư pháp
11. Nguyễn Phương Thuý - Phòng Quản lý khoa học và tổng hợp- Viện
Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
12. Phạm Thu Hà - Trung tâm thông tin - thư viện, Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp
13. Nguyễn Mai Trang - Ban Nghiên cứu pháp luật quốc tế, luật sosánh và
Hội đồng nhân dân
TNMT
Tài nguyên và Môi trường
VBQPPL
Văn bản quy phạm pháp luật
VSATTP
Vệ sinh, an toàn thực phẩm
SK
Sức khỏe
MT
Môi trường
NS
Ngân sách
HC
Hành chính
1. Nhóm đối tượng điều tra thông thường................................................ 8
2. Nhóm đối tượng điều tra sâu.................................................................. 8
3. Tổ chức phối hợp chính............................................................................9
IV. ĐỊA BÀN ĐIÊU TRA..................................................................................9
V. CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾN H À N H ....................................................... 9
1. Điều tra xã hội học - phỏng vẩn trực tiế p ............................................9
2. Tổ chức toạ đàm, hội thảo................................................................... 10
3. Tiến hành thu thập số liệu................................................................... 11
4. Phân tích, tổng hợp các dữ liệu, thông tin từ hoạt động điều tra khảo
s á t............................................................................................................... 12
VI. L ộ TRÌNH TRIỂN KHAI D ự ÁN........................................................ 12
PHẦN THỨ NHẤT
TỒNG QUAN VỀ PHÁP LUẢT ĐIỀU CHỈNH
QUYỀN ĐƯỢC THỐNG TIN
I. CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÊ QUYÈN ĐƯỢC THÔNG T IN .... 14
II. KHUNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÊ QUYÈN ĐƯỢC THÔNG
TIN............................................... ............................. ...................................... 17
1. Hệ thống các văn bản QPPL về quyền được thông tin và việc bảo đảm
quyền..... .7....................................................... ........... .7............... ........... 17
2. Nội hàm của quyền được thông tin theo các quy định của pháp luật
hiện hành..................................................................................................... 20
3. Một số nội dung cơ bản về quyền được thông tin và bảo đảm thực
hiện quyền theo quy định pháp luật hiện h à n h .......................................25
III. MỘT VÀI NHẬN XÉT..........................................................................36
1. Độ vênh giữa các chuẩn mực quốc tế về quyền tự do thông tin, quyền
tiếp cận thông tin với pháp luật hiện hành của Việt Nam vê quyên được
thông tin...................................................................................................... 36
2. Đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về quyền được thông tin
Trên phương diện quốc tế, quyền tự do thông tin hay quyền được thông
tin là một ừong những quyền con người, quyền cơ bản của công dân. thuộc
nhóm quyền dân sự, chính trị đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện của Liên
Hợp Quốc. Trong đó phải kể đến: Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con
người năm 1948, theo đó, "mọi người đều cổ quyền tự do ngôn luận và bày tỏ
ỷ kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp; cũng như tự do
tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ỷ tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương
tiện ừityền thông nào, và không có giới hạn về biên giới" (Điều 19)1; hay tại
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Việt Nam gia
nhập ngày 24/9/1982) quy định: "Mọi người có quyền tự do ngôn luận.
Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý
kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản
viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông
tin đại chúng nào ticỳ theo sự lựa chọn của họ" (khoản 2 Điều 19) 2; "Trẻ em
có quyền tự do bày tỏ ỷ kiến; quyền này bao gồm qyyền tự do tìm kiếm, tiếp
nhận và phổ biến tất cả các loại thông tin và tư tưởng ở mọi lĩnh vực, bằng
lời nói, văn bản viết tay hoặc bản ỉn, hay dưới hình thức nghệ thuật hoặc bất
kỳ phưcmg tiện trityền thông nào khác mà trẻ em ỉựa chọn''3 (khoản 1 Điều
13 Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 (Việt Nam phê
1 "Các văn kiện quốc tế và luật cùa một số nước về tiếp cận thông tin". Nxb Công an nhân dân. Hà Nội
năm 2007 trang 13.
^ "Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin”. Sđd, trang 18.
"Các vần kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin”. Sđd, trang 21.
chuẩn ngày 20/2/1990)... Đồng thời các văn kiện này cũng quy định quyền
được thông tin không phải là quyền không giới hạn. Thực hiện quyền được
thông tin phải kèm theo nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, với một số hạn
chế nhất định; những hạn chế việc thực hiện quyền được thông tin phải được
nhiều hạn chế, bất cập, chẳng hạn như chưa bao quát được hết các lĩnh vực,
các loại thông tin mà Nhà nước có trách nhiệm phải công khai hoặc phải
cung cấp theo yêu cầu cho công dân; còn nhiều quy định mang tính nguyên
tắc, chung chung, còn ít quy định quyền của công dân, tổ chức trong việc
chủ động yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin; đặc biệt là thiếu các
quy định về trình tự, thủ tục hoặc có quy định nhưng thủ tục, trình tự còn
phức tạp, thiếu rõ ràng, không thuận tiện để người dân thực hiện quyền được
thông tin và để cơ quan nhà nước thực hiện trách nhiệm cung cấp thông tin,
do đó, tính khả thi của các quy định này không cao...Những hạn chế này
dẫn đến thực tế là việc công dân tiếp cận thông tin do các cơ quan nhà nước
nắm giữ còn gặp nhiều khó khăn; không ít trường họp thông tin do các cơ
quan nhà nước cung cấp không đầy đủ, thiếu chính xác, không đảm bảo kịp
thời để đáp ứng yêu cầu thông tin của công dân, tổ chức. Còn tình trạng áp
dụng pháp luật trong lĩnh vực này không thống nhất, thiếu bình đẳng; không
hiếm trường hợp những người do điều kiện, vị trí công tác nắm được thông
tin, đã lợi dụng đặc quyền, đặc lợi đó để trục lợi, gây nên sự bất bình đẳng,
thiếu công bằng trong xã hội, biểu hiện rõ nhất là trên lĩnh vực đất đai, đền bù
giải toả, dự án ưu đãi, các khoản tín dụng, cứu trợ thiên tai, bí mật kinh doanh,
đầu tư...Trong khi đó lại thiếu các quy định về chế tài xử lý vi phạm pháp luật
ữong việc cung cấp hoặc sử dụng thông tin của các chủ thể liên quan.
Để khắc phục những bất cập nêu trên, bảo đảm mọi người dân, tổ chức
có thể thực hiện đầy đủ và bình đẳng quyền được thông tin, Dự án Luật tiếp
cận thông tin đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm
2009, dự kiến Quốc hội khóa XII sẽ thông qua tại kỳ họp tháng 6 năm 2010.
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng Dự án Luật tiếp cận thông tin, một khó
khăn lớn là thiếu thông tin về thực trạng thực hiện quyền được thông tin5,
bao gồm thiếu thông tin về nhận thức của người dân về quyền được thông
5 Tái khởi động Luật tiếp cận thông tin: Thiếu thông tin nên nhiều tranh cãi.
1013/tai-khoi-dong-luat-tiep-can-thong-tin-thieu-thong-tinnen-nhieu-tranh-cai.htm
- Đưa ra một bức tranh chung về thực trạng nhu cầu của nhân dân đối
với các loại thông tin; thực trạng được thông tin của cá nhân, tổ chức đối với
những thông tin phải công khai theo qui định của pháp luật hoặc phải được
cơ quan nhà nước cung cấp theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức;
- Xác định được nguồn lực cần đầu tư cho các cơ quan nhà nước để
tiếp nhận, duy trì, cung cấp thông tin và đảm bảo quyền được thông tin của
nhân dân khi Luật tiếp cận thông tin có hiệu lực thi hành;
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp xây dựng cơ chế kiểm tra, theo dõi
thi hành pháp luật, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu kiện trong lĩnh vực cung
cấp thông tin và đảm bảo quyền được thông tin của nhân dân.
III. ĐÓI TƯỢNG ĐIÈU TRA
Đổi tượng điều ữa được lựa chọn trên cơ sở đảm bảo yếu tố đặc thù
kết hợp với ngẫu nhiên và được chia thành các nhóm cơ bản sau:
1. Nhóm đối tượng điều tra thông thường
Gồm có 5 nhóm đối tượng sau:
- Phóng viên báo chí (Phiếu số 1);
- Doanh nghiệp (Phiếu số 2);
- Nhân dân (Phiếu số 3);
- Cán bộ chung (Phiếu số 4);
- Cán bộ cấp xã (Phiếu số 5).
2. Nhóm đối tượng điều tra sâu
Gồm có 4 nhóm đối tượng sau:
- Cán bộ trong lĩnh vực tài nguyên môi trường (Phiếu số 6);
- Cán bộ trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, bảo hiểm, y tế, dược
(Phiếu số 7);
- Cán bộ đất đai, xây dựng, nhà ở (Phiếu số 8);
phiếu phỏng vấn trực tiếp dành cho 5 nhóm đối tượng khác nhau là phóng
viên báo chí (Phiếu số 1); doanh nghiệp (Phiếu số 2); nhân dân (Phiếu số 3);
cán bộ chung (Phiếu số 4); cán bộ cấp xã (Phiếu số 5). Việc phỏng vấn được
tiến hành theo phương thức: cán bộ điều tra hỏi - đối tượng trực tiếp trả lời.
Nghiên cứu hồ sơ các vụ việc liên quan đến quyền được thông tin
Bên cạnh phương pháp sử dụng mẫu phiếu đại trà, để có thể thu được
những thông tin sâu từ phía đối tượng điều tra, đặc biệt là với những đối tượng
tron g các v ụ việc liên quan đ ến q u y ền đ ư ợ c th ô n g tin, Ban chủ nhiệm D ự án
cũng đã áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu và nghiên cứu hồ sơ vụ việc. Cụ
thể, dự án đã thiết kế 04 mẫu phiếu phỏng vấn sâu, gồm có phiếu phỏng vấn
dành cho các đối tượng sau:
- Cán bộ trong lĩnh vực tài nguyên môi trường (Phiếu số 6);
- Cán bộ trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, bảo hiểm, y tế, dược
(Phiếu số 7);
- Cán bộ đất đai, xây dựng, nhà ở (Phiếu số 8);
- Cán bộ tư pháp (Phiếu số 9);
Tổng số phiếu đã thu thập được là 2675 phiếu, cụ thể như sau:
Bảng tổng họp kết quả thu thập phiếu
Phiếu
Phiếu
Phiếu
Phiếu
Phiếu
55
16
30
15
30
AG
20
80
225
40
39
15
15
15
1
27
15
15
15
]
GL
20
55
214
60
29
15
12
15
]
160
106
87
105
t
Tỉnh
khảo sát
Ngoài ra, trong quá ừình xây dựng và hoàn thiện Báo cáo tổng hợp
kết quả điều tra, nhóm nghiên cứu đã tổ chức các tọa đàm, Hội thảo trong
nước để trao đổi thông tin về thực trạng cung cấp thông tin của các cơ quan
nhà nước.
2.Tổ chức toa đàm, hôi thảo
Tại mỗi địa bàn điều tra, Dự án đều tiến hành tổ chức từ 5 đến 6 cuộc
Toạ đàm với các cơ quan như ƯBND cấp xã, UBND cấp huyện, các Sở
Si
chuyên môn. Nội dung các buổi tọa đàm tập trung vào thực tiễn cung cấp
thông tin của các cơ quan quản lý nhà nước trên từng lĩnh vực cụ thể.
Bảng thống kê các tọa đàm, hội thảo đã tể chức
tại các tỉnh/thành phố
Tỉnh
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
2
1
1
1
1
xã, phường
- Toạ đàm với ƯBND
huyện
- Toạ đàm với Sở Thông tin
truyền thông
- Toạ đàm với Sở chuyên
môn
(Sở
MT/SỞ
Tài
xây
nguyên
dựng/SỞ
y
tế/SỞ tư pháp..)
đàm
3. Tiến hành thu thập sổ liệu
Việc thu thập, thống kê các số liệu về tình hình cung cấp thông tin là
một phương pháp được Ban chủ nhiệm Dự án quan tâm và là một trong
những minh chứng đáng tin cậy cho các đánh giá, nhận xét trong Báo cáo
Thời gian thực hiện
* Giai đoạn 1: Chuẩn bị
- Xây dựng đề cương, hồ sơ dự án
Tháng 6 đến tháng 10/2009
- Tập hợp lực lượng tham gia Dự án
Tháng 1-3/2010
- Xây dựng bộ tài liệu điều tra: hệ tiêu Tháng 4- 8/2010
chí, bộ phiếu hỏi, bộ mẫu cung cấp số
liệu, kế hoạch điều tra
* Giai đoạn 2: Điều tra chính thức
- Triển khai hoạt động điều tra tại 06 Tháng 3/2011 đến tháng 5/2012
tỉnh/ TP
- Điều tra khảo sát Hàn Quốc
Tháng 5-6/2012
- Viết báo cáo và xử lý kết quả từng tỉnh
Tháng 8/2011 đến tháng 8/2012
* Giai đoạn 3: Tổng hợp kết quả điều tra
- Viết các báo cáo phiếu, số liệu, chuyên Tháng 7-8/2012
trị
đất nước, đảm bảo xây dựng một Nhà nước thực sự là của dân nhằm mục
đích tối thượng là phục vụ dân. Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng
và Nhà nước ta luôn đặt lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc lên trên hết. Tuy
nhiên, cần phải hiểu rằng, sự tham gia một cách tích cực khác xa hoàn toàn
với việc tham gia một cách hình thức. Để thực hiện được những điều trên,
người dân phải được thông tin đặc biệt là thông tin về pháp luật, chính sách
và hoạt động của các cơ quan nhà nước, được coi là yếu tố cốt lõi trong mọi
hoạt động của một xã hội được quản lý, vận hành theo nguyên tắc của Nhà
nước pháp quyền. Quyền được thông tin, do đó đã trở thành một nhu cầu,
một quyền cấp thiết cần phải được bảo đảm đối với mọi công dân.
6 HỒ Chí Minh toàn tập, Nxb Sự thật. Hà N ội, 1987, tập 7, ừang 482
^ Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Sự thật. Hà Nội, 1989, tập 10, trang 508
Hô Chí Minh toàn tập, Nxb Sự thật. Hà Nội, 1984, tập 4, trang 35
Trên cơ sở được biết thông tin người dân mới bàn, đánh giá, kiến nghị
lên các cơ quan nhà nước để hoàn thiện chính sách pháp luật, sau đó tự giác
thực hiện và kiểm soát việc thực hiện. Không có thông tin phản hồi từ phía
người dân thì Nhà nước không đủ thông tin để có quyết định đúng, phù hợp
với ý chí, lợi ích của nhân dân và khó có thể quản lý hiệu lực và hiệu quả.
Mặt khác, người dân không được thông tin từ phía Nhà nước thì không thể
tham gia thật sự vào việc quản lý đất nước, quản lý xã hội. Quyền được biết
của dân xét cho cùng chính là phương thức hữu hiệu để gắn bó Nhà nước
với nhân dân, khiến Nhà nước gần dân hơn, khắc phục tệ quan liêu, hách
dịch, nâng cao tính minh bạch của chính sách và tính hiệu quả của quản lý
nhà nước.
Bảo đảm quyền được thông tin là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước,
lãng phí đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được
thông tin của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống
tham nhũng của Đảng, Nhà nước.
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,
định hướng đến năm 2020: “Củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm của các
cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ v à tổ
chức thực thi các pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
về quyền con người, qicyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chỉnh trị
kinh tế, văn hoá - xã hộF\ “hoàn thiện pháp ỉuật về quyền giảm sát của các
cơ quan dân cử, qityền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân đổi với các
hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức; mở rộng các hĩnh thức dân chủ
trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của nhà nước” và “jcây dĩmg
cơ chế phản biện xã hội và tiếp thu ỷ kiến của các tầng lớp nhân dân đô i với
các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp ỉu ậ f\
Trên cơ sở kế thừa các quan điểm trên, Đại hội XI của Đảng đã tiếp
tục nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, internet,
xuất bản. Đảm bảo quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin cùa
engvieƯchuyende/nghiquyetX/detaik.asp?topic=2(X)
mình. Đây là một hạn chế trong việc xây dựng chính sách, pháp luật cũng như đàm bảo các quyên tự do,
dân chủ của công dân.
16 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 (được sửa đồi, bổ sung năm 2007, 2012), Luật xây dựng năm
2003 (được sửa đồi, bổ sung năm 2009), Luật đầu tư năm 2005, Luật đất đai năm 2003 (được sửa đồi, bồ
sung năm 2009, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật ban hành vần bàn quy phạm
pháp luật của HĐND và ƯBND năm 2004, Luật ngân sách nhà nước năm 2002...
Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ban hành kèm theo Quyết định số 77/2007/QĐ-TTg
ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phù. Tuy nhiên, nhiệm vụ của người phát ngôn chỉ mới là cung cấp
thông tin cho báo chỉ chứ không bao gồm việc tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu cung cấp thông tin của
phòng đọc
1
các văn bản có các nội dung quy định về quyền được thông tin của người
dân, Nhà nước đã tạo điều kiện để nhân dân thực hiện chủ trương “dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Có thể chia các văn bản pháp luật quy định về quyền được th ô n g tin
và đảm bảo thực hiện quyền thành hai nhóm:
(i)
Nhóm các văn bản quy định chung về ừ-ách nhiệm của cơ q uan nhà
nước trong việc công khai thông tin hoặc cung cấp thông tin theo y ê n cầu
của cá nhân, tổ chức vì những mục tiêu xác định, ví dụ như phòng chống
tham nhũng hoặc thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm
2007, năm 2012) có vị trí quan trọng. Điều 11 Luật này quy định về nguyên
tắc và nội dung công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức,
lĩnh vực nhà ở22; trong lĩnh vực xây dựng23; trong lĩnh vực an toàn vệ sinh
18 Các quy định pháp luật điều chỉnh tiếp cận thông tin trong một số lĩnh vực cụ thể như y tế, giáo dục, môi
trường, đất đai, nhà ở, xây dựng, tư pháp, an toàn vệ sinh thực phẩm, quy hoạch phát triên kinh tế xã
h ộ i..., xin xem thêm ừong phần Phụ lục I - Rà soát văn bàn quy phạm pháp luật liên quan đến quyền tiếp
cận thông tin.
19 Luật bào hiềm y tế năm 2008 (Điều 36, 38, 41, 43); Thông tư số 10/2009/TT-BYT ngày 14/8/2009 của
Bộ Y tế hướng dẫn đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu và chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh bào
hiểm y tế (Điều 9); Luật phòng chống tham nhũng năm 2005, sửa đổi, bồ sung năm 2007 (Điều 24); Luật
phòng chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 (Điều 10, 11, 12, 38); Luật dược năm 2005 (Điều 28, 36, 37,
48 51,54);
20 Điều 23, 63, 93, 103, 104, 115 Luật bào vệ môi trường năm 2005; Điều 14 Nẹhị định số 80/2006/NĐ-CP
ngày 9/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một so điều của Luật bảo vệ môi
trường (được sừa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008; Điều 3, 8 Nghị định
số 1 13/2010/NĐ-CP ngày 03/12/2010 quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường; Nghị định số
102/2008/ NĐ-CP ngày 15/9/2008 của Chính phủ về việc thu thập, quàn lý, khai thác và sử dụng dữ liệu
về tài nguyên môi trường; Thông tư số 07/2009/TT-BTNM T ngày 10/7/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 102/2008/ NĐ-CP ngày 15/9/2008 của Chính phủ
về việc thu thập, quàn lý, khai thác và sừ dụng dữ liệu về tài nguyên môi trường (đã được sừa đôi, bổ
sung bởi Thông tư số 01/2011/TT-BTNMT ngàỵ 21/Ỏ1/2011); Điều 20, 32, 33, 44 Luật bảo vệ và phát
ừiển rừng năm 2004; Điều 20, 21 Nghị định số 99/2010/ NĐ-CP ngày 24 /9/2010 cùa Chính phủ về
chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; Điều 11, 40, 44, 57 Luật đa dạng sinh học năm 2008; Điều 6,
17, 18, 20 Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật đa dạng sinh học; Điều 43, 45 Luật tài nguyên nước năm 1998 (đã được
thay thế bởi Luật tài nguyên nước năm 2012); Điều 14, 15 Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày
27/7/2004 qui định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thài vào nguôn
nước (đã được sửa đồi, bổ sung bởi Nghị định số 38/2011/NĐ-CP ngày 26/5/2011).
21 Điều 21, 28, 29, 39, 56, 97, 133, 137 Luật đất đai năm 2003 (đã được sừa đổi, bổ sung năm 2009); Điều
14, 15, 16 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 cùa Chính phủ về thu tiền sử dụng đất (đã
được sừa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 9/4/2008, Nghị định số 120/2010/NĐ-CP
lý không gian xây dựng ngầm đô thị.
24 Điều 58, 59, 60, 61 Luật an toàn thực phẩm năm 2010; Điều 13, 16, 21, 22, 23 Thông tư số 25/2010/TTBNNPTNT ngày 8/4/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn việc kiểm tra vệ sinh an
toàn thực phẩm đối với hàng hóa có nguồn gốc động vật nhập khẩu (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số
51/201Ò/IT-BNNPTNN ngày 8/9/2010); Điều 9, 10 Thông tư số 4 7 /2 0 10/TT-BCT ngày 31/12/2010 của
Bộ Công thương quy định việc kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm thực phẩm
trong quá trình sàn xuất thuộc ữách nhiệm quàn lý của Bộ Công thương; Điều 17, 19 Thông tư số
0 5 /2 0 10/TT-BNNPTNT ngày 22/01/2010 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn việc
kiểm tra, giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm nông sản trước khi đưa ra thị trường.
25 Điều 4, 5, 7, 8 Luật báo chí năm 1989 (được sửa đổi, bồ sung năm 1999); Điều 11, 20 Luật xuất bàn năm
2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2008, từ ngày 01/7/2013 được thay thế bởi Luật xuất bản năm 2012).
26 Điều 4, 26, 33, 35, 48, 51, 58, 61, 62, 69^70, 71, 72, 73, , 74, 78, 84 Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 2008; Điều 3, 6, 8, 14, 16, 18, 31, 39, 41, 42, 51, 64, 65 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày
5/3/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bàn quy phạm pháp luật;
Nghị định số 100/2010/NĐ-CP ngày 28/9/2010 của Chính phủ về Công báo; Nghị định số 40/2010/NĐ-CP
ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật (Điều 8, 11,31).
27 Điều 13 Luật ngân sách nhà nước năm 2002; Điều 5, 8, 9, 10, 11, 12, 14, 15, 16 Quyết định số
192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế công khai tài chính đôi với
các cấp ngân sách nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ, các dự
án đầu tư xây dựng cơ .bàn có sử dụng vốn ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, các quỹ có
nguồn từ ngân sách nhà nước và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân; Luật kế toán năm
2003; Điều 58, 59 Luật kiểm toán nhà nước năm 2005; Quyết định số 09/2007/QĐ-KTNN ngày
31/10/2007 của Tổng kiểm toán nhà nước ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí
của kiềm toán nhà nước; Điều 8 Luật quàn lý thuế năm 2006; Điều 3, 5, 6, 7 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở
xã, phương, thị trấn năm 2007...