Một số đặc điểm dịch tễ và hiệu quả can thiệp cộng đồng phòng chống bệnh sốt xuất huyết dengue tại hai huyện, tỉnh bến tre - Pdf 53

i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
------------***------------PHÙNG NGỌC TÁM

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỂ VÀ HIỆU QUẢ CAN
THIỆP CỘNG ĐỒNG PHÒNG CHỐNG BỆNH SỐT
XUẤT
HUYẾT DENGUE TẠI HAI HUYỆN, TỈNH BẾN
TRE

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Thái Nguyên, năm 2018


ii

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
------------***------------PHÙNG NGỌC TÁM

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỂ VÀ HIỆU QUẢ CAN
THIỆP CỘNG ĐỒNG PHÒNG CHỐNG BỆNH SỐT XUẤT
HUYẾT
DENGUE TẠI HAI HUYỆN, TỈNH BẾN
TRE
Chuyên ngành tuyển sinh đầu vào : Vệ sinh xã hội học và Tổ chức Y tế
Mã số


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng và cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các Phòng, Bộ
môn và các Thầy giáo, Cô giáo, cán bộ Trường Đại học Y Dược – Đại học Thái
Nguyên đã trang bị cho tôi kiến thức, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân
thành tới PGS.TS Nguyễn Tuấn Hưng – Vụ Tổ Chức Cán Bộ - Bộ Y Tế; PGS.TS
Đàm Thị Tuyết – Trưởng Khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y Dược – Đại học
Thái Nguyên, là những người Thầy, Cô đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình
chỉ bảo và định hướng cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận
án.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các cán bộ và nhân viên Khoa Y
tế công cộng, Ban giám hiệu Trường Trung cấp Y tế Bến Tre đã giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu đề tài Luận án.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Sở Y Tế tỉnh Bến Tre, Ban giám đốc
Trung Tâm Y Tế Dự Phòng tỉnh Bến Tre, Ban giám đốc Trung Tâm Y tế huyện Châu
Thành, Ban giám đốc Trung Tâm Y tế huyện Mỏ Cày Nam, các anh, chị, em cán bộ,
nhân viên y tế xã và các anh, chị, em cộng tác viên xã hội đã nhiệt tình hợp tác, giúp
đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu hoàn thành Luận án, tôi đã nhận được sự động
viên, chia sẻ, giúp đỡ của gia đình, anh, chị, em, bạn bè, đồng nghiệp, những người
thân. Tôi xin phép được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng

năm 2018

Phùng Ngọc Tám



CSMĐBG

Chỉ số mật độ bọ gậy

CBYT

Cán bộ y tế

COMBI

Applying Commmunication-for-Behavioural-Impact
(Áp dụng truyền thông tác động về hành vi)

CTV

Cộng tác viên

DEN-1

Dengue typ 1

DEN-2

Dengue typ 2

DEN-3

Dengue typ 3

DEN-4

vi

HQCT

Hiệu quả can thiệp

Mesocyclops

Giáp xác chân chèo Mesocyclops là loài tôm bậc thấp có
khả năng ăn bọ gậy muỗi

IgG, IgM

Immunoglobulin ( Kháng thể)

KAP

Knowledge- Attitude- Practice (Kiến thức- Thái độ- Thực hành)

LQ-BG

Lăng quăng/bọ gậy

PAHO

Pan American Health Organization (Tổ chức y tế phụ trách
Châu Mỹ)

PCSXHD


UBND

Uỷ ban nhân dân

Tổ NDTQ

Tổ Nhân dân tự quản

VSMT

Vệ sinh môi trường

WHO

World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)

WPRO

Western Pacific Region Office
(Văn phòng khu vực Tây Thái Bình Dương)


vii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN

i

LỜI CẢM ƠN


Chương I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

1.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue

3

1.2. Căn nguyên và một số yếu tố liên quan đến bệnh sốt xuất huyết Dengue
10
1.3. Một số biện pháp can thiệp phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue 17
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

28

2.1. Đối tượng nghiên cứu

28

2.2. Địa điểm nghiên cứu

29

2.3. Thời gian nghiên cứu

30

2.4. Phương pháp nghiên cứu


2.12. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

53

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

55


8

3.1. Một số đặc điểm dịch tễ học SXHD giai đoạn 2010 - 2014

55

3.2. Hiệu quả một số giải pháp can thiệp cộng đồng phòng chống SXHD 69
tại 2 huyện Châu Thành và huyện Mỏ Cày Nam tỉnh Bến Tre
Chương 4. BÀN LUẬN

81

4.1. Một số đặc điểm dịch tễ học SXHD giai đoạn 2010 - 2014

81

4.2. Hiệu quả một số giải pháp can thiệp cộng đồng phòng chống SXHD 90
tại 2 xã huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre
4.3. Những hạn chế của đề tài
104
Chương 5. KẾT LUẬN


32

Bảng 3.1.

Tình hình mắc, chết do sốt xuất huyết Dengue trên 100.000
dân giai đoạn 2010 - 2014

Bảng 3.2.

Tỷ lệ phân bố mắc SXHD giai đoạn 2010 - 2014 theo tháng
tại huyện Châu Thành và Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

Bảng 3.3.
Bảng 3.4.

Tỉ lệ phân bố mắc SXHD giai đoạn 2010 - 2014 theo nhóm

Bảng 3.5.

tuổi
Phân bố tỷ lệ mắc bệnh SXHD trung bình giai đoạn 2010
- 2014 theo giới tính
Các chỉ số giám sát côn trùng DI, HI-BG, BI, CI giai đoạn
2010 - 2014

Bảng 3.7

60
61


Mối tương quan giữa quan giữa nhiệt độ trung bình với số
ca mắc SXHD trung bình giai đoạn 2010 - 2014

Bảng 3.8.

56

Tỷ lệ phân bố mắc sốt xuất huyết Dengue giai đoạn 2010 2014 theo địa dư

Bảng 3.6.

55

64

Mối tương quan giữa lượng mưa trung bình với chỉ số côn
trùng giai đoạn 2010 - 2014 của huyện Mỏ Cày Nam

65


10

Bảng 3.13.

Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu

69



Giám sát khả năng sống của cá trong các DCCN tại các
điểm nuôi

74

Bảng 3.19.

Giám sát các chỉ số côn trùng trước và sau khi thả cá

75

Bảng 3.20.

So sánh tỷ lệ hộ gia đình đậy kín dụng cụ chứa nước ở xã
can thiệp

Bảng 3.21.

So sánh tỷ lệ dụng cụ chứa nước tại các hộ gia đình có thả
cá trước và sau can thiệp

Bảng 3.22.

75
76

So sánh tỉ lệ mắc/ chết do sốt xuất huyết Dengue tại xã can
thiệp và xã chứng sau 2 năm can thiệp


77

Biểu đồ 3.4.

Chỉ số Breteau tại xã can thiệp và xã đối chứng

78


xii

DANH MỤC HÌNH
STT

Nội dung

Trang

Hình 1.1.

Bản đồ phân bố bệnh sốt xuất huyết trên thế giới của WHO

4

Hình 1.2.

Muỗi Aedes aegypti và Aedes alpopictus trưởng thành

11



DANH MỤC HỘP
STT

Nội dung

Trang

Hộp 3.1.

Kết quả thảo luận nhóm của người dân và các cộng tác viên

66

Hộp 3.2.

Kết quả phỏng vấn sâu lãnh đạo Trung tâm y tế huyện

66

Hộp 3.3.

Kết quả phỏng vấn sâu lãnh đạo xã

67

Hộp 3.4.

Kết quả phỏng vấn sâu các lãnh đạo trạm Y tế xã


Sốt xuất huyết Dengue (hay còn gọi là sốt xuất huyết) là bệnh truyền nhiễm
cấp tính do vi rút Dengue gây nên. Bệnh lây truyền từ người sang người qua vật
chủ trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes đốt. Bệnh có thể gây thành dịch lớn
và có tỷ lệ tử vong tương đối cao với sự có mặt ở hơn 125 nước trên thế giới
[34], [89], ảnh hưởng đến kinh tế xã hội ở nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
[73],
[77].
Hiện nay sốt xuất huyết Dengue được coi là một trong số các bệnh truyền
nhiễm quan trọng nhất trên thế giới với hơn 50% dân số thế giới sinh sống ở
những nơi có nguy cơ mắc bệnh và khoảng 50% sống ở các quốc gia có lưu
hành bệnh sốt xuất huyết. Theo Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm có khoảng 100
triệu trường hợp mắc, phần lớn là trẻ em dưới 15 tuổi, tỷ lệ tử vong trung bình
khoảng 2,5 5% [73], [115].
Tại Việt Nam, sốt xuất huyết Dengue tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền
Nam và miền Trung. Năm 2014, được ghi nhận có 32.049 số ca mắc sốt xuất
huyết và 20 trường hợp tử vong. Theo Bộ Y Tế, năm 2017, cả nước ghi nhận
181.054 trường hợp mắc SXH, trong đó có 152.659 ca nhập viện với 30 trường
hợp tử vong. So với cùng kỳ năm 2016 số ca mắc tăng 2,7%, số ca tử vong giảm
9 trường hợp. Tỷ lệ tử vong của nước ta năm 2017 là 0,03% trên tổng số ca mắc,
thấp hơn các nước như Malaysia (0,23%), Philippines (0,24%), Campuchia
(0,23%)…[1], [9]. Trước đây dịch chỉ xuất hiện ở thành phố, thị xã, nay lan rộng
đến nông thôn. Mặc dù Việt Nam đã nỗ lực thực hiện nhiều biện pháp nhưng
SXHD vẫn còn là một vấn đề y tế công cộng to lớn. Theo nghiên cứu thì số tử
vong do SXHD ở khu vực phía Nam chiếm tỉ lệ trên 80% tổng số tử vong của cả
nước [34], [47].
Bến Tre là tỉnh thuộc Đồng Bằng sông Cửu Long với hệ thống sông ngòi,
kênh mương nhiều. Khí hậu tỉnh Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió


2

Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) hiện được coi là một trong số các bệnh
truyền nhiễm quan trọng nhất trên thế giới. Từ những năm 265 - 420 sau Công
nguyên, ở triều đại nhà Tần - Trung Quốc đã ghi nhận trong sử sách những triệu
chứng của loại bệnh tương thích với bệnh sốt xuất huyết (SXH) hiện nay [72],
[89]. Tại thời điểm đó, người ta cho rằng bệnh SXH có nguồn gốc từ một loại
chất độc trong nước và liên quan đến côn trùng bay [71]. Sau đó vào khoảng các
năm
1635 và 1699 ở Tây Ấn và Trung Mỹ các bệnh dịch giống với bệnh SXH, với
các bệnh tương tự đã xảy ra và lây lan khắp khu vực [72]. Năm 1780 một vụ
dịch lớn xảy ra ở Philadelphia, Pennsylvania. Sau đó các trận dịch lớn đã xảy ra
trong thế kỷ 18 đến thế kỷ 20 ở bờ biển Đại Tây Dương của Mỹ và Nam Mỹ,
đảo Caribe và lưu vực sông Mississippi, vụ bùng phát cuối cùng xảy ra vào năm
1945 ở New Orleans [72]. Sự gia tăng dịch bệnh trong Thế chiến thứ II, khi
quân đội bắt đầu phân tán trên đất liền và sử dụng phương tiện giao thông hiện
đại trong và giữa các quốc gia, do đó dịch bệnh SXH trở nên bùng phát mạnh
hơn. Vào cuối chiến tranh, do sự phát triển của vấn đề giao thông, vận chuyển và
đô thị hóa đã dẫn đến sự gia tăng truyền bệnh SXH ở nhiều nước Đông Nam Á
và sau đó là sự xuất hiện các dạng bệnh SXH [73], [74]. Cuối cùng, căn nguyên
vi rút và sự lây lan của muỗi cũng đã được xác định trong thế kỷ 20 [72].
1.1.1.2. Thực trạng sốt xuất huyết Dengue trên thế giới
Trong nửa thế kỷ qua, tỷ lệ mắc sốt xuất huyết trên toàn thế giới đã tăng 30
lần, với ước tính xấp xỉ 390 triệu ca nhiễm/năm. Những năm 2014 và 2015 được
mô tả bởi sự bùng phát bệnh sốt xuất huyết trên toàn thế giới, là mối đe dọa đối
với sức khoẻ cộng đồng, đặc biệt là ở các nước Châu Á [109]. Sự lây lan về mặt


4

địa lý của cả véc tơ muỗi và vi rút đã dẫn đến sự gia tăng toàn cầu của dịch bệnh
sốt xuất huyết và xuất hiện những hình thái nghiêm trọng trong 25 năm qua [85].

lớn hơn rất nhiều do sự giám sát bệnh vẫn còn hạn chế, báo cáo chưa đầy đủ
cũng như việc chẩn đoán bệnh còn bị bỏ sót [66], [73], [98].
Mặc dù con số thống kê về số người mắc cũng như sự ảnh hưởng về kinh tế
xã hội còn khác nhau giữa các nghiên cứu, nhưng không thể phủ nhận sự có mặt,
lây lan của SXH tại tất cả các khu vực trên thế giới.
Nghiên cứu của Raghwani J cho thấy phần lớn gánh nặng bệnh tật chỉ hạn
chế ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [91] cũng như gần 75% dân số toàn cầu
tiếp xúc với bệnh sốt xuất huyết sống ở Châu Á Thái Bình Dương [114], [115].
Tuy nhiên vào năm 2014, lần đầu tiên trong hơn 70 năm một đợt dịch sốt xuất
huyết đã xảy ra ở Nhật Bản mặc dù đây là đất nước có khí hậu ôn đới. Qua phân
tích, các nhà khoa học cho thấy dịch SXH xảy ra ở Nhật Bản là kết quả của việc
đi du lịch quốc tế từ các nước Đông Nam Á. Năm 2014, dịch sốt xuất huyết
cũng đã ảnh hưởng đến một số quốc gia Châu Á, bao gồm Trung Quốc, Thái
Lan, Việt Nam và Nhật Bản [108], [112]. Một số nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ
các ca sốt xuất huyết nặng ở khu vực Đông Nam Á cao gấp 18 lần khu vực
Châu Mỹ [99], [114]. Trong năm 2011, khu vực Đông Nam Á có tổng số
244.855 trường hợp mắc bệnh, trong đó 839 trường hợp tử vong, chiếm 0,34%.
Trong đó Philippines là nước có tỷ lệ mắc SXHD cao nhất trong khu vực với
125.975 trường hợp, 675


6

người tử vong. Việt Nam đứng hàng thứ 2 với 69.680 ca mắc mới, 61 người tử
vong [58]. Tại Úc, SXHD không phải là bệnh phổ biến, tuy nhiên ở phía Bắc
Queensland đã ghi nhận các trường hợp mắc SXH từ khu vực Đông Nam Á đem
lại [83].
Khu vực Châu Mỹ, mặc dù không có sự xuất hiện của SXHD cho đến giữa
thế kỷ 20, nhưng đến năm 2010 hầu hết các nước ở Châu Mỹ đều xảy ra dịch với
chu kỳ xuất hiện từ 3 - 5 năm [69], [115] với quy mô ngày càng tăng đặc biệt là
70%) các trường hợp sốt, bao gồm cả xuất huyết, có khả
năng được chẩn đoán nhầm và điều trị như bệnh sốt rét Plasmodium malaria
[75]. Điều này tác động tiêu cực đến bức tranh toàn diện của dịch tễ học bệnh sốt
xuất huyết trong khu vực và cho thấy sư cần thiết của việc giám sát thường
xuyên dịch bệnh cũng như các hoạt động dự phòng có liên quan.


7

Khu vực Đông Địa Trung Hải trong 2 thập kỷ qua đã có nhiều đợt bùng
phát SXHD ở 3 quốc gia - Ả Rập Saudi, Pakistan và Yemen. Năm 2011, thành
phố Lahore ở Pakistan đã trải qua một dịch sốt xuất huyết Dengue lớn với
21.685 trường hợp mắc và 350 trường hợp tử vong [82], [92].
Tại Châu Âu dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue cuối cùng ở Châu Âu xảy ra
vào khoảng năm 1926 đến năm 1928 ở Hy Lạp. Dịch này có liên quan đến Aedes
aegypti và có tỷ lệ tử vong cao [115]. Cho đến những năm 1990 khi Aedes

về các thị trấn nông thôn, khoảng cách thời gian giữa các vụ dịch cũng gần nhau
hơn [43], [54].
Mặc dù chương trình kiểm soát sốt xuất huyết Dengue quốc gia đã có từ
năm
1998, sốt Dengue vẫn là một vấn đề sức khoẻ ở Việt Nam. Sốt xuất huyết và sốt
xuất huyết Dengue là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng nhập viện, chiếm
tới 1.000.866 trường hợp được báo cáo tại Việt Nam trong giai đoạn 1991-2004,
con số cao nhất ở Tây Thái Bình Dương [113].
Dịch sốt Dengue/SXHD bùng nổ theo chu kỳ với khoảng cách trung bình từ
4 - 5 năm [47], năm 1998 cả nước ghi nhận số trường hợp mắc là 234.920 và 377
trường hợp tử vong, năm 2010 với 128.710 ca mắc, 109 ca tử vong. Giai đoạn
2011 - 2013, số ca mắc và tử vong giảm xuống theo qui luật chung do miễn dịch
cộng đồng sau vụ dịch năm 2010 [8].
Sốt Dengue /SXHD lưu hành rộng rãi ở vùng Châu thổ sông Hồng (miền
Bắc), sông Cửu Long (miền Nam) và dọc theo bờ biển miền Trung. Bệnh không
chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả vùng nông thôn, nơi có muỗi véc tơ sinh sống. Ở
những nơi khác, nếu có, bệnh được coi như là kết quả của sự xâm nhập vi rút
Dengue từ vùng có bệnh dịch lưu hành tới. Mức độ lan rộng của sốt Dengue
/SXHD tùy thuộc vào sự phát triển giao thông và sự giao lưu của dân cư giữa các
vùng. Ở những vùng núi, cao nguyên biên giới phía Bắc, không thấy xuất hiện
bệnh, kể cả những năm có dịch lớn [56].
Do đặc điểm địa lý và khí hậu nên khu vực miền Nam Việt Nam là khu vực
có tỷ lệ mắc SXHD cao nhất cả nước [12], [47] với trên 85% ca mắc và 90% ca


9

tử vong và tiếp tục có xu hướng gia tăng [6]. Trong giai đoạn từ 2001 - 2011 có
76,9% ca mắc SXHD và 83,3% ca tử vong do SXHD là ở 20 tỉnh phía Nam [54].
Nguyên nhân có thể do đặc điểm khí hậu, địa lý nhiều kênh ngòi, sông nước và

nay, năm nào cũng có ca tử vong về sốt xuất huyết Dengue và 3 năm trở lại đây
thì tỷ lệ mắc và chết vẫn còn [48].
Theo các chuyên gia, giai đoạn 2014 - 2016 là giai đoạn hiện tượng El Nino
hoạt động mạnh, gây nên thời tiết khô hạn khiến việc tích trữ nước gia tăng, gia
tăng nhiệt độ trung bình cũng như thời gian phát triển chu kỳ trứng thành muỗi
rút ngắn, kéo dài thời gian sống của muỗi và làm gia tăng mật độ muỗi khiến cho
dịch sốt xuất huyết bùng phát trở lại. Do đó việc xác định được tình hình dịch tễ
học của bệnh để từ đó áp dụng các giải pháp can thiệp trong nghiên cứu của
chúng tôi là điều hết sức cần thiết nhằm góp phần hạn chế sự gia tăng của bệnh
SXH hiện nay.
1.2. Căn nguyên và một số yếu tố liên quan đến bệnh sốt xuất huyết Dengue
1.2.1. Căn nguyên gây bệnh sốt xuất huyết Dengue
Năm 1943 các nhà khoa học đã xác định được căn nguyên gây bệnh SXHD
là do vi rút Dengue gây nên với 4 týp huyết thanh DEN - 1, DEN - 2, DEN - 3,
DEN - 4 [88]. Nhiễm vi rút Dengue lần đầu tạo ra miễn dịch bền suốt đời với týp
đã nhiễm. Ngoài ra, miễn dịch chéo một phần với 3 týp còn lại có tính bảo vệ rất
ngắn. Như vậy, nếu nhiễm lần 2 với một týp vi rút Dengue khác (nhiễm thứ
phát) bệnh sẽ nặng hơn [34].
Hiện nay, tất cả bốn týp vi rút Dengue đều được tìm thấy trong hầu hết các
môi trường nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi Aedes aegypti có mặt [65]. Các hiện
tượng toàn cầu như đô thị hoá và du lịch quốc tế là những yếu tố chủ chốt trong
việc tạo điều kiện cho sự lây lan của bệnh sốt xuất huyết cũng như sự xuất hiện
của các týp huyết thanh [88].
Có nghiên cứu cho rằng bệnh nhân nhiễm týp vi rút DENV - 2 sẽ dẫn đến
bệnh nặng hơn, trong khi nhiễm DENV - 1 thì bệnh sẽ nhẹ hơn [59]. Ngoài ra
nghiên cứu cho thấy DENV - 2 có liên quan tới sốt Dengue xuất huyết - Dengue
xuất huyết có sốc, gần đây thì liên quan tới DENV - 3 [34].


11


nhân tạo như chum, vại, phuy, hồ, bể chứa nước không đậy nắp, lọ hoa chậu cây
cảnh, chậu nước chống kiến dưới chân tủ thức ăn, lon đồ hộp, ve chai, gáo dừa,
vỏ xe hoặc bất kì một vật dụng chứa nước nào khác có thể tích trữ nước đến 7
ngày.
Muỗi Aedes cái thường đốt người vào ban ngày, mạnh nhất là vào sáng sớm
và chiều tối. Đặc biêt, chúng bay rất nhanh, nếu tìm thấy mồi là lao vào đốt và
hút máu ngay; đồng thời bám theo mồi rất dai và chỉ bay đi khi đã hút no máu.
Hoạt động tìm mồi hút máu của loài muỗi này phụ thuộc vào nhiệt độ môi
trường, nếu nhiệt độ môi trường dưới 230C thì muỗi hầu như không có khả năng
hoạt động hút máu. Vì thế Muỗi Aedes thường phát triển mạnh nhất vào mùa
mưa, thời tiết nóng ẩm, khi nhiệt độ trung bình hàng tháng vượt trên 200C.
Chu kỳ phát triển của Muỗi vằn Aedes từ lúc đẻ trứng đến phát triển thành
bọ gậy trung bình là 7 ngày, thời gian phát triển từ bọ gậy thành muỗi trưởng
thành chỉ mất khoảng 2 đến 3 ngày. Muỗi cái chuyên đi hút máu người có thể
sống từ
20 - 40 ngày. Tỷ lệ nhiễm sốt xuất huyết cao hơn ở ngoài trời và vào ban ngày,
khi những con muỗi này đốt thường xuyên nhất. Tuy nhiên, Aedes aegypti đẻ ở
trong nhà có khả năng đốt bất cứ ai trong suốt cả ngày, môi trường sống ở trong
nhà ít nhạy cảm với sự thay đổi khí hậu và làm gia tăng tuổi thọ của muỗi. Theo
các nhà nghiên cứu hầu hết muỗi Aedes aegypti cái có thể dành cả cuộc đời trong
hoặc xung quanh nhà, nơi đó chúng trở thành muỗi trưởng thành với khoảng
cách bay trung bình là 400 mét.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status