Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Xã hội càng phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh càng đợc mở rộng,
càng mang tính đa dạng, phức tạp thì nhu cầu thông tin càng trở nên bức thiết
và quan trọng.
Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế - xã
hội của một tổ chức để phục vụ nhu cầu quản lý của các đối tợng bên trong và
bên ngoài tổ chức, doanh nghiệp còn có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay- giai đoạn toàn cầu hoá nền kinh tế , sự cạnh tranh mang tính
chất phức tạp, khốc liệt. Có thể nói, chính chất lợng và hiệu quả của công tác kế
toán ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng và hiệu quả quản lý, điều hành tổ chức để
đạt đợc các mục tiêu đã đề ra.
Xuất phát từ yêu cầu và tính chất thông tin cung cấp cho các đối tợng bên
trong và bên ngoài tổ chức có sự khác biệt nên thông tin kế toán đợc phân biệt
thành thông tin KTTC và thông tin KTQT. Mặc dù KTQT mới đợc phát triển
trong giai đoạn gần đây nhng đã minh chứng đợc sự cần thiết và quan trọng của
nó đối với công tác quản trị, điều hành các tổ chức, doanh nghiệp , đặc biệt là
những đơn vị có quy mô lớn, hoạt động đa lĩnh vực, đa ngành trong phạm vi
rộng. KTQT đã, đang và dần trở thành công cụ khoa học giúp nhà quản trị thực
hiện tốt các chức năng hoạt động, kiểm soát và ra quyết định.
ở nớc ta, KTQT mới chỉ đợc đề cập và vận dụng trong thời gian gần đây.
Vì thế, việc hiểu để ứng dụng có hiệu qủa KTQT ở các doanh nghiệp có ý
nghĩa lớn lao để tăng cờng khả năng hội nhập, tạo nên sự an toàn cho nhà quản
trị khi có trong tay một công cụ khoa học hỗ trợ cho quá trình quản lý, điều
1
hành doanh nghiệp. Do vậy, xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức công tác
KTQT trong các doanh nghiệp nói chung và các DNKDDP nói riêng là một vấn
đề hết sức cần thiết. Đây chính là lý do tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài:
" Hoàn thiện mô hình KTQT trong các
doanh nghiệp Dợc phẩm"
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Trớc đây, ngời ta chỉ đơn thuần định nghĩa kế toán nh là một công việc
giữ sổ sách của nhân viên kế toán. Năm 1941, việc các giám định viên kế toán
( Anurican Institute of Certified Public Accountants - AICPA) đã định nghĩa: "
Kế toán là một nghệ thuật của việc ghi chép, phân loại và tổng hợp bằng một
phơng pháp riêng và ghi bằng tiền các nghiệp vụ, sự kiện có tính chất tài chính
và giải thích kết quả của nó ". Cách định nghĩa này về kế toán dù sao cũng đợc
phổ biến rộng rãi.
Năm 1970, tổ chức AICPA xác định chức năng của kế toán là cung cấp
thông tin, nhất là thông tin về tài chính có ích để các tổ chức kinh tế thực hiện
việc ra quyết định ( mỗi đơn vị kinh tế là một đơn vị hạch toán độc lập).
Vậy có thể hiểu, kế toán là khoa học và nghệ thuật thu nhận, xử lý và
cung cấp thông tin ở doanh nghiệp mà thông tin đó có bản chất về kinh tế .
Trong các doanh nghiệp, thông tin kế toán không những cần thiết cho những
ngời ra quyết định quản lý bên trong đơn vị nh: Ông chủ, các nhà quản trị mà
còn cần thiết cho các đối tợng bên ngoài nh: Chủ đầu t, bạn hàng, ngân hàng, cơ
quan quản lý chức năng Do mục đích sử dụng thông tin của các đối t ợng khác
nhau nên thông tin do kế toán cung cấp cũng đa dạng và khác nhau về nội dung,
phạm vi, mức độ, tính chất và thời gian cung cấp, kể cả về mặt gía trị pháp lý
của thông tin. Chính vì lý do này mà kế toán doanh nghiệp đợc chia thành
KTTC và KTQT.
4
KTQT đa ra tất cả các loại thông tin kinh tế đã đợc đo lờng, xử lý và
cung cấp cho nội bộ sử dụng để ra quyết định và quản lý ; KTTC đa ra những
thông tin kế toán mà ngoài việc nó đợc sử dụng trong nội bộ ban quản lý, còn đ-
ợc cung cấp cho các tổ chức bên ngoài. Thông tin kế toán cung cấp, về bản chất,
thờng là thông tin kinh tế - tài chính định lợng và thông tin này giúp cho các
nhà quản trị hoàn thành các chức năng lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm
tra và ra quyết định. Trong môi trờng kinh doanh hiện nay, nhu cầu về thông tin
trong công tác quản lý đã có sự gia tăng rất lớn và đa dạng do áp lực của những
thay đổi nhanh chóng của các vấn đề nh : Toàn cầu hoá, sự cạnh tranh, sự tiến
1.1.2.1. Đối tợng của KTQT.
KTQT không những đợc áp dụng cho các doanh nghiệp mà còn đợc áp
dụng cả cho những tổ chức, các đoàn thể D ới đây chỉ đề cập đến đối tợng của
KTQT trong các doanh nghiệp, các tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
- KTQT không phản ánh toàn bộ đối tợng của kế toán nói chung, mà chỉ
phản ánh thông tin cụ thể về từng loại tài sản, từng loại chi phí sản xuất kinh
doanh hoặc từng qúa trình sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị
doanh nghiệp.
- KTTC phản ánh toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp,
còn KTQT chỉ phản ánh từng phần hoạt động kinh tế tài chính đó.
1.1.2.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của KTQT.
Đối với KTQT, mô hình doanh nghiệp thể hiện dới dạng gắn các mục
đích mà doanh nghiệp theo đuổi với các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy
động và với việc tiêu dùng các nguồn lực này ( thể hiện các chi phí ).Nh vậy,
6
mục tiêu của KTQT là liên kết giữa việc tiêu dùng các nguồn lực ( các chi phí )
và nhu cầu tài trợ với các nguyên nhân của việc tiêu dùng các nguồn lực đó
( các chi phí phát sinh).
Mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi có thể rất đa dạng, nh: Bán đợc một
lợng hàng hoá nào đó; tôn trọng và thực hiện một thời hạn giao hàng cụ thể
Để thực hiện đựơc mục tiêu này, cần phải huy động các nguồn lực vào đầu t
thiết bị, dự trữ hàng tồn kho, lao động ( nhân công) nghĩa là doanh nghiệp
phải đơng đầu với một nhu cầu đầu t về vốn cố định và vốn lu động. Vì vậy,
một trong các nhiệm vụ của KTQT là tính toán và đa ra mô hình về nhu cầu vốn
( vốn lu động và vốn cố định) cho một loại sản phẩm một thời hạn giao hàng
nào đó.
Trong thực tế, KTQT phải tính toán, đo lờng giá phí, giá thành của từng
loại hàng tồn kho, từng sản phẩm , lao vụ, dịch vụ, từng loại tài sản cố định
cũng nh xác định chi phí theo từng địa điểm phát sinh của chi phí nhằm tăng c-
ờng trách nhiệm vật chất của các bộ phận, cá nhân trong doanh nghiệp , tăng c-
Ra quyết định
Kiểm tra
Thực hiện
Đánh giá
* Lập kế hoạch :
Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bớc thực
hiện để đạt đợc những mục tiêu đó. Đó có thể là kế hoạch dài hạn hoặc ngắn
hạn.
Để chức năng lập kế hoạch của quản lý đợc thực hiện tốt, để các kế
hoạch đợc lập đảm bảo tính khoa học và tính khả thi cao đòi hỏi phải dựa trên
những thông tin đầy đủ thích hợp và có cơ sở. Các thông tin này chủ yếu do
KTQT cung cấp.
* Tổ chức thực hiện.
Với chức năng tổ chức thực hiện, nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt
nhất giữa các yếu tố, tổ chức, con ngời và các nguồn lực sao cho kế hoạch đợc
thực hiện ở mức cao nhất và hiệu quả nhất. Để thực hiện tốt chức năng này, nhà
quản trị cũng phải có nhu cầu rất lớn đối với các thông tin KTQT để có thể ra đ-
ợc các quyết định ngắn hạn cũng nh dài hạn đúng đắn và phù hợp.
* Kiểm tra và đánh giá.
Nhà quản trị sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện
kế hoạch, đòi hỏi phải kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Để làm đợc
điều này, nhà quản trị cần đợc các kế toán viên quản trị cung cấp các báo cáo
thực hiện để nhận đợc những vấn đề còn tồn tại cần có tác động của quản lý.
Thông thờng, các nhà quản trị thừa hành thờng đánh giá từng phần trong
phạm vi kiểm soát của họ. Các nhà quản trị cấp cao hơn không tham gia trực
tiếp vào quá trình hoạt động hàng ngày mà đánh giá và kiểm tra dựa vào các
báo cáo thực hiện của từng bộ phận thừa hành do kế toán quản trị cung cấp.
* Ra quyết định.
Phần lớn thông tin do KTQT cung cấp nhằm phục vụ chức năng ra quyết
định của nhà quản trị. Đây là một chức năng quan trọng xuyên suốt các khâu
KTQT và KTTC có những điểm khác nhau cơ bản sau:
* Về đối tợng sử dụng thông tin.
- KTQT đa ra tất cả các loại thông tin kinh tế đã đợc đo lờng, xử lý và
cung cấp chỉ cho nội bộ doanh nghiệp sử dụng phục vụ quản trị doanh nghiệp.
- KTQT đa ra những thông tin kinh tế mà ngoài việc nó đợc sử dụng
trong nội bộ doanh nghiệp, còn đợc cung cấp cho các tổ chức bên ngoài.
* Về nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin.
Thông tin KTTC phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện
hành về kế toán của từng quốc gia,kể cả các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về
kế toán đợc các quốc gia công nhận. Trái lại, trong nền kinh tế thị trờng, do yêu
cầu phải nhạy bén và nắm bắt nhanh các cơ hội kinh doanh đa dạng nên thông
tin KTQT cần linh hoạt, nhanh chóng và thích hợp với từng quyết định cụ thể
của ngời quản lý , không buộc phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán
chung. Các quy định của Nhà nớc về KTQT ( nếu có) cũng chỉ mang tính chất
hớng dẫn.
* Về tính pháp lý của kế toán.
KTTC có tính pháp lệnh, nghĩa là hệ thống sổ, ghi chép trình bày và cung
cấp thông tin của KTTC đều phải tuân theo các quy định thống nhất nếu muốn
đợc thừa nhận. Ngợc lại, tổ chức công tác quản trị lại mang tính nội bộ, thuộc
thẩm quyền của từng doanh nghiệp phù hợp với đặc thù quản lý, yêu cầu quản
lý, điều kiện và khả năng từng doanh nghiệp.
* Về đặc điểm thông tin.
- Thông tin của KTTC chủ yếu dới hình thức giá trị; còn thông tin của
KTQT đợc biểu hiện cả hình thái hiện vật và hình thái giá trị.
11
- Thông tin của KTTC là thông tin thực hiện về những nghiệp vụ đã phát
sinh, đã xảy ra; còn thông tin của KTQT chủ yếu đặt trọng tâm cho tơng lai vì
phần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn phơng án, đề án cho một sự kiện
hoặc một quá trình cha xảy ra.
- Thông tin của KTTC chủ yếu là các thông tin thuần tuý, đợc thu thập từ
Nội dung của KTQT trong doanh nghiệp bao gồm:
- Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm. Đây là nội dung hạch
toán cơ sở để làm nền tảng tính toán cho các mục tiêu dự kiến. Thông tin về lĩnh
vực này có vai trò hết sức quan trọng, cần phải chi tiết hoá đến từng khoản mục
và đối tợng chi phí để tiến hành việc phân loại theo tiêu chuẩn thích hợp với
KTQT nh: Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lợng sản phẩm ( chi phí
bất biến, chi phí khả biến và chi phí hỗn hợp), phân loại chi phí theo mối quan
hệ của chi phí với các khoản mục trên báo cáo tài chính ( chi phí sản xuất , chi
phí thời kỳ)
Trên cơ sở phân loại chi phí, KTQT xác định các chỉ tiêu quản trị chi phí
nh chi phí tính cho sản phẩm hoàn thành, chi phí trên doanh thu; lợi nhuận trên
chi phí Từ đó xác định đựơc cần phải mở những tài khoản chi tiết nào, sổ kế
toán nào để thu thập, xử lý thông tin phục vụ yêu cầu nhiều hơn đến phơng
pháp phân bổ chi phí, từ đó để tìm ra phơng pháp phân bổ hợp lý nhất.
- KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh.
13
Nội dung cơ bản của KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh căn cứ vào
yêu cầu quản trị cụ thể về doanh thu và kết quả kinh doanh để phân loại doanh
thu theo nhóm, mặt hàng hoặc theo địa điểm kinh doanh, xác định các chỉ tiêu
dự đoán về doanh thu, kết quả và mở các tài khoản, sổ chi tiết nhằm cung cấp
các thông tin một cách cụ thể về doanh thu và kết quả kinh doanh.
- KTQT về các hoạt động đầu t tài chính.
Nội dung của KTQT về các hoạt động đầu t tài chính trong doanh nghiệp
đợc căn cứ vào yêu cầu cụ thể để xác định các chỉ tiêu đầu t, hiệu quả đầu t,
thời gian đầu t; mở các tài khoản và sổ chi tiết nhằm thu thập, xử lý hoạt động
đầu t theo từng hoạt động đầu t, từng khoản đầu t phục vụ yêu cầu quản trị
doanh nghiệp.
- KTQT về các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Nội dung KTQT các hoạt động khác trong doanh nghiệp đợc căn cứ vào
yêu cầu cụ thể quản lý các chỉ tiêu khác nh: Quản trị công nợ, tình hình và khả
các loại báo cáo này là kết quả đợc so sánh với định mức. Sau đó, ban quản trị
doanh nghiệp sẽ điều chỉnh hoạt động dựa theo những mức chênh lệch đó, sau
khi điều tra nguyên nhân của vấn đề sao cho phù hợp nhất.
Nh vậy,thông tin của KTQT không chỉ là thông tin quá khứ thông tin
thực hiện mà còn gồm có các thông tin về tơng lai ( kế hoạch , dự đoán).Mặt
khác, thông tin KTQT không chỉ là các thông tin về giá trị còn bao gồm các
thông tin khác nh: hiện vật, thời gian lao động
1.3. Tổ chức công tác KTQT trong doanh nghiệp.
15
1.3.1. Các nhân tố ảnh hởng đến tổ chức công tác KTQT trong
doanh nghiệp.
KTQT là một công cụ quan trọng đáp ứng yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
Tổ chức công tác KTQT khoa học và hợp lý là điều kiện cần thiết để thực hiện
tốt chức năng, nhiệm vụ và vai trò cũng nh đảm bảo đợc chất lợng và hiệu quả
của công tác KTQT trong doanh nghiệp. Nh chúng ta biết, không phải tất cả các
doanh nghiệp đều tiến hành tổ chức công tác KTQT nh nhau, mà tuỳ mỗi đơn
vị, mỗi doanh nghiệp mà công tác tổ chức KTQT khác nhau. Tuy nhiên, chúng
ta có thể khái quát những nhân tố ảnh hởng đến tổ chức công tác KTQT trong
doanh nghiệp nh sau:
* Các nhân tố khách quan.
- Chế độ , thể lệ về quản lý kinh tế tài chính của Nhà nớc nói chung.
- Quy mô và phạm vi hoạt động của doanh nghiệp. Chẳng hạn nh, với
một doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, về KTQT doanh thu và kết quả kinh
doanh thì chỉ cần cụ thể tới từng ngành nghề, từng mặt hàng, nhng đối với
doanh nghiệp lớn, đặc biệt là tập đoàn thì phải chi tiết tới từng khu vực, từng địa
bàn.
- Môi trờng kinh doanh : Trong điều kiện hội nhập kinh tế nh hiện nay,
môi trờng kinh doanh thay đổi sẽ trực tiếp ảnh hởng đến hoạt động của doanh
nghiệp, từ đó ảnh hởng tới tổ chức KTQT.
* Các nhân tố chủ quan.
công đoạn quan trọng nhất của một hệ thống thông tin, nó sẽ quyết định chất l-
17
ợng đầu ra của một hệ thống. Nếu thông tin đợc xử lý tốt và chính xác, thì các
thông tin đầu ra sẽ là những thông tin hữu ích giúp cho doanh nghiệp có đợc
những quyết định đúng đắn. Ngợc lại, nếu thông tin không đợc xử lý chính xác
thì thông tin đầu ra không những không giúp ích đợc cho các nhà quản lý trong
công tác ra quyết định thậm chí còn khiến các quyết định đợc ban hành một
cách sai lầm, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.
- Cung cấp thông tin KTQT cho nhà quản trị.
Sau khi xử lý và phân tích tổng hợp các thông tin liên quan đến các chỉ
tiêu quản lý, KTQT phải đảm bảo cung cấp thông tin cho nhà quản lý theo từng
tình huống cụ thể; nhận xét, đánh giá và trình bày kiến nghị cho từng phơng
án.Việc ra quyết định lựa chọn phơng án tốt nhất thuộc quyền của ngời lãnh
đạo cao nhất trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, họ phải tham khảo các ý kiến khác
nhau đã đợc trình bày trong báo cáo các KTQT và các tờ trình phong án kinh
doanh của các bộ phận quản lý, t vấn trong doanh nghiệp. Vì vậy, lựa chọn ph-
ơng án đúng hay không phụ thuộc rất nhiều vào quá trình thu nhận, xử lý và
cung cấp thông tin của KTQT.
Có thể mô tả nội dung tổ chức công tác KTQT trong doanh nghiệp theo
từng chức năng quản lý nh sau:
Sơ đồ 1
Tổ chức KTQT theo chức năng quản lý.
18
Hoạt động kinh tế
Báo cáo cho nhà
quản trị
Chọn lọc và ghi chép số liệu
( Tổ chức thu nhận thông tin)
Phân tích số liệu
(thông tin)
nghiệp. Các dữ liệu để tính giá không chỉ căn cứ vào các chi phí thích hợp cho
từng quyết định cá biệt, đặc biệt là các quyết định mang tính ngắn hạn.
Các báo cáo trong KTQT là các bảng cân đối bộ phận ( cho từng bộ
phận, trung tâm chi phí, loại tài sản ). Các báo cáo này còn đ ợc gọi là báo cáo
kế toán nội bộ, đợc lập theo kỳ hạn ngắn hơn các Báo cáo tài chính. Ngoài các
chỉ tiêu về tiền tệ, các bảng cân đối bộ phận còn sử dụng rộng rãi các thớc đo về
hiện vật và thời gian lao động. Đồng thời, ngoài các tổng hợp cân đối về các chỉ
tiêu quá khứ, chỉ tiêu đã thực hiện, KTQT còn thiết lập các cân đối trong dự
đoán, trong kế hoạch giữa nhu cầu tài chính và nguồn tài trợ, giữa yêu cầu sản
xuất - kinh doanh và các nguồn lực đợc huy động
Có thể mô tả nội dung tổ chức công tác KTQT trong doanh nghiệp theo
khâu công việc nh sau:
Sơ đồ 1 .
Tổ chức KTQT theo khâu công việc.
1.4. Sự biểu hiện của KTQT trong hệ thống kế toán Việt Nam.
20
Chứng
từ
kế toán
Báo
cáo
KTQT
Sổ
kế
toán
quản
trị
TKKT
quản trị
Ghi chép
thể nói KTQT là vấn đề hoàn toàn mới mẻ.
Từ đó có thể rói rằng, hệ thống kế toán Việt Nam là hệ thống kế toán kết
hợp giữa KTTC và KTQT , trong đó chủ yếu là KTTC. Tuy vậy, KTQT đã có sự
biểu hiện rõ ràng trong chế độ kế toán và ở sự vận dụng của các doanh nghiệp
trong quá trình thu nhận, xử lý, hệ thống hoá, cung cấp thông tin cho các nhà
quản trị.
Trong chế độ kế toán Việt Nam đã ban hành và đang áp dụng tại các
doanh nghiệp đều có hớng dẫn theo các nội dung cơ bản sau:Hệ thống tài khoản
kế toán, chế độ chứng từ kế toán , chế độ sổ kế toán, chế độ báo cáo kế
toán.Việc hớng dẫn của Nhà nớc mang tính định hớng theo những nguyên tắc
kế toán, căn cứ vào đó để các doanh nghiệp vận dụng sao cho phù hợp với đặc
điểm, điều kiện và loại hình doanh nghiệp nhằm phục vụ cung cấp thông tin cho
yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp. Đây chính là những vấn đề định hớng
cho KTQT.
1.5. Các mô hình tổ chức công tác KTQT trong doanh nghiệp.
Việc tổ chức công tác KTQT trong doanh nghiệp là một vấn đề quan
trọng và không đơn giản. Vì vậy, cần phải xem xét, lựa chọn để làm sao xây
dựng và thực thi một mô hình phù hợp và hiệu quả nhất. Hiện nay, trong các
doanh nghiệp Việt Nam, tổ chức công tác KTQT thờng đợc áp dụng theo 2 mô
hình sau:
1.5.1. Mô hình tổ chức kết hợp KTQT với KTTC.
Theo mô hình này, hệ thống KTQT đợc tổ chức kết hợp với hệ thống
KTTC. Cụ thể nh sau:
22
- Về tổ chức bộ máy kế toán : KTQT và KTTC đợc tổ chức thành một hệ
thống thống nhất, không phân chia thành bộ phận KTQT và bộ phận KTTC mà
chỉ phân chia thành các bộ phận kế toán thực hiện từng phần hành công việc kế
toán theo chức trách, nhiệm vụ đợc phân công. Các bộ phận này vừa làm nhiệm
vụ KTQT, vừa làm nhiệm vụ KTTC.
- Về tài khoản kế toán : KTTC sử dụng các tài khoản kế toán tổng hợp,
ánh các nghiệp vụ kinh tế " nội sinh " trong nội bộ doanh nghiệp.
- Về sổ kế toán : xây dựng hệ thống sổ kế toán riêng phục vụ cho việc ghi
chép các nghiệp vụ thuộc KTQT.
- Về báo cáo kế toán : Theo mô hình này, các báo cáo KTQT đợc lập
riêng dới dạng các bảng cân đối bộ phận ( báo cáo kế toán nội bộ) với kỳ hạn
ngắn hơn các báo cáo tài chính. Ngoài các chỉ tiêu về tiền tệ, các Bảng cân đối
bộ phận còn sử dụng rộng rãi các thớc đo về hiện vật và thời gian lao động ;
ngoài các chỉ tiêu quá khứ, các chỉ tiêu đã thực hiện, KTQT còn thiết lập các
cân đối trong dự đoán, trong kế hoạch.
+ Ưu điểm: Phân định ranh giới công việc rõ ràng, mang tính chuyên
môn hoá cao, chuyên sâu về lĩnh vực giúp cho từng bộ phận có điều kiện nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Nhợc điểm: Cồng kềnh, kém linh hoạt, hiệu quả kinh tế thấp.
+ Điều kiện áp dụng: Thích hợp với các doanh nghiệp có quy môn lớn
với trình độ cơ giới hoá cao. Phù hợp với kế toán pháp và các nớc Đông Âu.
kết luận chơng 1
24
Qua quá trình nghiên cứu về cơ sở lý luận chung về KTQT nh: khái
niệm, đối tợng, nhiệm vụ, vai trò của KTQT thể hiện qua việc cung cấp thông
tin cho nhiều đối tợng sử dụng khác nhau. Ta thấy, nhu cầu sử dụng thông tin
KTQT là vô cùng cần thiết đối với các nhà quản trị doanh nghiệp. Chính nhu
cầu này là cơ sở hình thành nên môn KTQT.
Từ nhiều quan điểm khác nhau về KTQT giúp ta rút ra bản chất, nội
dung, chức năng cơ bản của KTQT . Chơng này đã đề cập đến những điểm
giống và khác nhau cơ bản giữa KTQT và KTTC , đồng thời chỉ ra sự biểu hiện
của KTQT trong hệ thống kế toán Việt Nam và các mô hình tổ chức công tác
KTQT ở Việt Nam .
25