Mục lục
Lời nói đầu
Trang
Chơng 1. Lý luận chung về kế toán quản trị---------------------------------------3
1.1.Khái quát chung về kế toán quản trị----------------------------------------------3
1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị ------------------------------------------------3
1.1.2 Vai trò, chức năng, mục đích của kế toán quản trị--------------------------4
1.2.Các quan điểm cơ bản về tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp-----5
1.2.1Yêu cầu và những nhân tố ảnh hởng đến tổ chức kế toán quản trị---------5
1.2.2Các quan điểm cơ bản về tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp--9
1.3. Nội dung tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp----------------------10
1.3.1 Tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong doanh nghiệp----------------------10
1.3.2 Tổ chức thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kế toán quản trị-----------12
Chơng 2 Thực trạng tổ chức mô hình kế toán quản trị---------------------------18
2.1 Những biểu hiện của kế toán quản trị trong chế độ kế toán Việt Nam hiên
nay----------------------------------------------------------------------------------------18
2.2Thực trạng tổ chức mô hình kế toán quản trị trong các Doanh nghiệp-------19
2.2.1 Thực trạng tổ chức mô hình kế toán quản trị trong các Doanh nghiệp Nhà
nớc----------------------------------------------------------------------------------------19
2.2.2 Thực trạng tổ chức mô hình kế toán quản trị trong các loại hình Doanh
nghiệp khác-----------------------------------------------------------------------------22
2.3 Những nhậ xét về việc tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp hiện
nay----------------------------------------------------------------------------------------23
2.3.1 Những kết quả đã đạt đợc------------------------------------------------------23
2.3.2 Những tồn tại cần khắc phục--------------------------------------------------24
Chơng 3 Nội dung xây dựng mô hình kế toán quản trị----------------------------25
3.1 Sự cần thiết phải xây dựng mô hình kế toán quản trị-------------------------25
3.2 Những yêu cầu của việc xây dựng mô hình kế toán quản trị----------------26
3.3 Nội dung xây dựng mô hình kế toán quản trị ------------------------------- 27
3.3.1. Xây dựng mô hình kế toán quản trị nguyên vật liệu-----------------------28
3.3.2. Xây dựng mô hình kế toán quản trị nhân công-----------------------------35
Institute of Certified Public Accountants - AICPA) năm 1941 đã viết: Kế toán
là nghệ thuật của việc ghi chép, phân loại và tổng hợp bằng một phơng pháp
riêng và ghi bằng tiền các nghiệp vụ, sự kiện có tính chất tài chính và giải thích
kết quả của nó.
Sự phát triển không ngừng của kinh tế xã hội theo xu hớng khu vực hóa
và quốc tế hóa đã tạo ra những thời cơ và thách thức mới cho các doanh nghiệp
đòi hỏi các doanh nghiệp phải đa ra những quyết định kinh tế nhanh nhậy và
phù hợp. Doanh nghiệp thành công hay thất bại, tồn tại hay phá sản là phụ
thuộc vào chính các quyết định quản lý của chủ doanh nghiệp bởi cơ chế tự chịu
trách nhiệm và quy luật đặc thù của nền kinh tế thị trờng đã tạo ra một môi tr-
ờng kinh doanh ngày càng rộng mở với sức cạnh tranh ngày càng gay gắt và
quyết liệt. Do vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp không chỉ còn cần các số liệu
kế toán tổng hợp phản ánh những gì đã xảy ra mà còn phải đợc cung cấp đợc
những số liệu kế toán theo từng vấn đề mà mình cần sử dụng để sử dụng vào ra
các quyết định việc quản lý hàng ngày liên quan tới các hoạt động của doanh
nghiệp. Những thông tin còn đợc sử dụng để lập ra các kế hoạch sản xuất kinh
doanh hay ra các quyết định sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp nh đặt giá
bán, mở đợt khuyến mại, điều chỉnh tỷ trọng các loại hàng hoá bán ra. Chính từ
những lý do đó mà đã hình thành trong doanh nghiệp một hệ thống công việc
3
nhằm đáp ứng yêu cầu của các nhà quản trị mà kế toán quản trị đợc hình thành
nhằm đáp ứng những yêu cầu đó.
Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành nên hệ thống kế toán của
doanh nghiệp do đó kế toán quản trị cũng thu nhận, xử lý rộng rãi các số liệu
ghi chép hàng ngày của kế toán trên cơ sở đó phân tích số liệu này để dự báo về
tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong tơng lai của doanh nghiệp. Những
thông tin này sẽ đợc cung cấp cho nhà quản trị từ đó nhà quản trị ra những
quyết định quản lý phù hợp đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra tốt phù hợp
với mục tiêu của doanh nghiệp và luôn giữ cho doanh nghiệp ở thế chủ động
trong kinh doanh.
doanh hiện tại và trong tơng lai của doanh nghiệp. Kế toán quản trị sẽ giúp nhà
quản trị dự đoán kết quả thực hiện kế hoạch và luôn có thể đối chiếu với tình
hình hoạt động hiện tại của doanh nghiệp từ đó có những điều chỉnh để cho hoạt
động của doanh nghiệp theo đúng định hớng mà doanh nghiệp đã đề ra.
Về mục đích, kế toán quản trị có mục đích là cung cấp thông tin về hoạt
động sản xuất kinh doanh trong phạm vi yêu cầu quản lý cụ thể của từng cấp
quản lý trong doanh nghiệp. Điều này thể hiện rõ ràng rằng thông tin do kế toán
quản trị cung cấp chỉ phục vụ cho các cấp quản lý bên trong doanh nghiệp mà
không cung cấp cho bất cứ một đối tợng nào bên ngoài doanh nghiệp. Đây cũng
là sự khác biệt lớn nhất giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Nh vậy, vai trò, chức năng và mục đích của kế toán quản trị luôn thể hiện
gắn liền với hoạt động của các cấp quản trị trong từng doanh nghiệp.
1.2 Các quan điểm cơ bản về tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp.
1.2.1 Yêu cầu và những nhân tố ảnh hởng đến tổ chức kế toán quản trị.
Chức năng quan trọng nhất của kế toán quản trị là cung cấp các thông tin
về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho các cấp quản
trị trong doanh nghiệp nhằm giúp các nhà quản trị ra các quyết định quản lý do
vây việc tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp phải đảm bảo cung cấp các
thông tin có chất lợng, chính xác, kịp thời và tiết kiệm chi phí nhằm đạt hiệu
5
quả kinh tế cao nhất hay nói cách khác chính là đảm bảo cung cấp thông tin hữu
ích cho nhà quản trị trên cơ sở đảm bảo tính hiệu quả của công tác kế toán.
Do những yêu cầu nh vậy nên việc tổ chức kế toán quản trị phải rất khoa
học và hợp lý. Ngoài ra, cần phải chú ý đến các nhân tố ảnh hởng đến việc tổ
chức kế toán quản trị để tổ chức kế toán quản trị cho phù hợp với từng điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể của từng doanh nghiệp. Có thể kể đến bốn nhóm nhân tố cơ
bản cần xem xét khi tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp. Những nhân
tố đó là:
Nhóm 1: ảnh hởng bởi loại hình kế toán áp dụng.
Đây là một yếu tố quan trọng và có tính quyết định mô hình kế toán quản
chức kế toán quản trị phức tạp hơn, công phu hơn đảm bảo việc theo dõi chi phí,
kết quả của doanh nghiệp để cung cấp thông tin chính xác hơn, đầy đủ hơn cho
nhà quản trị và ngợc lại.
Nhóm 3: ảnh hởng bởi đặc điểm quy trình công nghệ và tính chất loại
hình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp bao gồm nhiều
quy trình công nghệ nhỏ thì đòi hỏi việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về
chi phí sản xuất sản phẩm, giá thành của bán thành phẩm, thành phẩm của từng
giai đoạn công nghệ và thành phẩm cuối cùng sẽ có sự phức tạp hơn nhiếu so
với doanh nghiệp có quy trình công nghệ giản đơn, không chia nhỏ quy trình
sản xuất ra thành nhiều công đoạn.
Mặt khác, nếu doanh nghiệp sản xuất hàng đơn chiếc, sản xuất hàng loạt
nhỏ thì việc tổ chức kế toán quản trị sẽ khác so với doanh nghiệp sản xuất hàng
loạt đại trà với khối lợng lớn. Nếu doanh nghiệp sản xuất lập kế hoạch sản xuất
chủ yếu theo đơn đặt hàng thì tổ chức kế toán quản trị khác so với doanh nghiệp
sản xuất lập kế hoạch theo dự báo của doanh nghiệp mà không theo đơn đặt
hàng.
7
Nhóm 4: Phụ thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý kinh
doanh, yêu cầu và trình độ của nhà quản lý của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất, quản lý nh thế nào thì kế toán quản
trị cũng phải đợc tổ chức tơng ứng để thuận tiện cho việc thu thập, xử lý và cung
cấp thông tin cho việc lập các báo cáo bộ phận về chi phí, doanh thu, kết quả
cho phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin cần thiết cho nhà quản trị doanh
nghiệp.
Kế toán quản trị cung cấp thông tin theo yêu cầu quản lý của nhà quản trị
nên tùy thuộc vào yêu cầu về thông tin của nhà quản trị mà tổ chức kế toán
quản trị cho phù hợp. Khi nhà quản trị yêu cầu thông tin rõ ràng, cụ thể đến
mức độ nào thì cần phải tổ chức việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kế
toán quản trị phải ở mức độ ấy. Thông thờng yêu cầu về thông tin phụ thuộc vào
chính và kế toán quản trị từ đó vừa có thể quản lý tổng hợp và quản lý chi tiết
đối với từng chỉ tiêu thông tin. Không những thế mà doanh nghiệp còn dễ phân
công chuyên môn hóa công việc, thuận lợi cho việc cơ giới hóa công tác kế toán
tạo điều kiện cho tiết kiệm thời gian và chi phí mà không ảnh hởng đến chất l-
ợng thông tin. Nó rất phù hợp với tình hình của các doanh nghiệp nớc ta hiện
nay.
Cách tổ chức này có u đIểm lớn nh vậy nhng nó lại đòi hỏi kế toán viên
có trình độ cao và ngời tổ chức phân công công việc phải hiểu rõ nhiệm vụ của
kế toán tài chính và kế toán quản trị trong doanh nghiệp và hiểu chính xác trình
độ và năng lực của nhân viên để phân công công việc cho phù hợp năng lực của
từng ngời. Các nhân viên cũng phải hiểu rõ phần việc kế toán tài chính và kế
toán quản trị mà mình sẽ làm.
Nhợc điểm: Không thực hiện đợc việc chuyên môn hóa giữa kế toán tài
chính và kế toán quản trị do vậy sẽ rất khó khăn cho việc lập các báo cáo nhất là
đối với báo cáo tài chính.
9
Quan điểm thứ hai: Tổ chức kế toán quản trị độc lập với kế toán tài
chính thành hai bộ máy kế toán trong doanh nghiệp.
Theo quan điểm này, kế toán quản trị sử dung một hệ thống tài khoản và
một hệ thống sổ sách riêng biệt với kế toán tài chính. Hệ thống tài khoản này sẽ
đợc thiết kế theo từng nội dung mà kế toán quản trị phản ánh và phơng pháp ghi
chép thu thập thông tin phải đảm bảo phản ánh đợc những nội dung mà kế toán
quản trị yêu cầu. Kế toán quản trị thực hiện việc lập dự toán cho từng loại công
việc, cho từng bộ phận và sau đó tập hợp các số liệu thực tế về chi phí, giá
thành, kết quả để so sánh và đánh giá và từ đó lập các báo cáo kế toán quản
trị cần thiết.
Ưu điểm: Tạo điều kiện cho việc chuyên môn hóa giữa kế toán tài chính
và kế toán quản trị nên việc lập các báo cáo kế toán sẽ rễ ràng hơn nên việc
cung cấp thông tin sẽ nhanh chóng hơn.
Nhợc điểm: Nhà quản trị sẽ không có cái nhìn tổng quát về tình hình của
Thứ t: Đối với các doanh nghiệp việc tổ chức kế toán tài chính và kế toán
quản trị cần có mối quan hệ chặt trẽ, thống nhất với nhau để tiện cho việc quản
lý, kiểm soát, đối chiếu của Nhà nớc khi cần thiết nhng sự kiểm soát và quản lý
này phải đảm bảo đợc quyền tự chủ của doanh nghiệp.
Chúng ta cũng đã biết việc tổ chức kế toán quản trị theo mô hình này sẽ
gây nên sự hạn chế trong việc chuyên môn hoátheo kế toán tài chính và kế toán
quản trị nên có thể cung cấp thông tin không kịp thồi cho nhà quản trị. Điều này
có thể khắc phục bằng cách nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các cán bộ kế toán
đồng thời quy định cụ thể loại thông tin cần cung cấp, thời gian cung cấp để
đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ của kế toán quản trị.
1.3.2 Tổ chức thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kế toán quản trị.
Việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin đợc chia làm hai phần. Đó
là:
Một là: Tổ chức thu thập, xử lý và cung cấp thông tin quá khứ trong kế
toán quản trị.
11
Quá trình thực hiện kế toán quản trị nói chung bao gồm bốn nội dung cơ
bản sau: Tổ chức hệ thống chứng từ; Tổ chức hệ thống tài khoản; Tổ chức hệ
thống sổ; Tổ chức hệ thống báo cáo.
Tổ chức hệ thống chứng từ.
Hệ thống chứng từ mà doanh nghiệp sử dụng phải thích hợp với từng loại
nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở doanh nghiệp để có thể ghi chép đợc đầy
đủ thông tin về nội dumg các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Các doanh nghiệp
đều phải sử dụng hệ thống chứng từ bắt buộc để thu thập thông tin, hệ thống
hoá thông tin phục vụ cho kế toán tài chính lập Báo cáo tài chính theo đúng quy
định của Nhà nớc. Để phục vụ cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp, doanh
nghiệp cần thiết kế các chứng từ phù hợp vời đặc điểm của doanh nghiệp và
phản ánh đầy đủ các yếu tố và nội dung để phục vụ cho việc thu thập, xử lý, hệ
thống hoá thông tin và lập Báo cáo kế toán quản trị theo yêu cầu quản lý của
doanh nghiệp.
Trong hệ thống tài khoản thống nhất, Nhà nớc chỉ quy định bắt buộc sử
dụng các tài khoản cấp 1 và mộâpsố tài khoản cấp 2 cần thiết để có thể thực
hiện công tác kế toán tài chính và lập các Báo cáo tài chính định kỳ của doanh
nghiệp. Để phục vụ cho kế toán quản trị, các doanh nghiệp có thể mở thêm các
tài khoản cấp 2, 3, 4 để phù hợp với yêu cầu, trình độ quản lý và nhu cầu về
mức độ chi tiết của thông tin. Tuy nhiên,yêu cầu về thông tin của kế toán quản
trị cung cấp cụ thể và chi tiết đến mức độ nào là do của nhà quản trị. Việc thiết
kế hệ thống tài khoản cho kế toán quản trị phải đảm bảo đúng nguyên tắc tổ
chức chức hệ thống tài khoản, đơn giản và tiện lợi cho công tác kế toán. Trong
thời đại khoa học kỹ thuật hiện đại, doanh nghiệp xử lý thông tin bằng các ph-
ơng tiện kỹ thuật do vậy cần phải tiến hành mã hoá các tài khoản kế toán tổng
hợp và chi tiết để thuận tiện cho việc hạch toán kế toán và xử lý thông tin kế
toán theo yêu cầu.
Tổ chức hệ thống sổ.
13
Hệ thống sổ kế toán đợc sử dụng để thu thập, hệ thống hoá toàn bộ thông
tin về hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp và nhằm phục vụ cho
việclập Báo cáo kế toán tài chính của doanh nghiệp. Sổ kế toán đợc thiết kế theo
các mẫu có kết cấu phù hợp để tiện lợi cho việc ghi chép, phân loại và hệ thống
hoá thông tin theo tài khoản tổng hợp và chi tiết hoặc kết hợp giữa tài khoản
tổng hợp và tài khoản chi tiết.
Sổ kế toán tổng hợp ghi chép và phản ánh các chỉ tiêu kinh tế tài chính
theo các tài khoản cấp 1. Thông tin mà sổ tổng hợp ghi chép sẽ cung cấp thông
tin một cách khái quát, tổng hợp cho những ngời quản lý chung của doanh
nghiệp.
Sổ kế toán chi tiết ghi chép tỉ mỉ, cụ thể, chi tiết những thông tin mà đã đ-
ợc ghi chép trong sổ tổng hợp nhng theo từng tài khoản cấp 2, 3, 4 riêng đáp
ứng yêu cầu thông tin chi tiết của nhà quản trị.
Sổ kế toán tổng hợp và chi tiết ghi chép, phản ánh các chỉ tiêu trên tài
khoản cấp 1 và chi tiết thành các tài khoản cấp 2, 3,4 t ơng ứng trên cùng một
thông tin liên quan đến tơng lai của doanh nghiệp. Nó sẽ giúp cho nhà quản trị
chủ động hơn trong quá trình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Quy trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tơng lai bao gồm các
công việc sau:
Xác định loại thông tin tơng lai cần thu thập.
Mỗi loại thông tin đều có ảnh hởng đến quá trình ra quyết định của nhà
quản trị. Nếu nhà quản trị đợc cung cấp những thông tin chính xác, kịp thời và
phù hợp thì sẽ giúp cho nhà quản trị ra đợc những quyết định quản lý đúng đắn
và kịp thời, ngợc lại nếu những thông tin đó không chính xác và kịp thời thì sẽ
vừa làm cho nhà quản trị lãng phí thời gian và có thể ra những quyết định sai
lầm làm ảnh hởng đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
15
Loại thông tin cần thu thập phụ thuộc vào yêu cầu của các nhà quản trị vì
những thông tin ấy trực tiếp phục vụ cho nhả quản trị trong quá trình ra quyết
định nhng những yêu cầu về thông tin mà nhà quản trị cần cũng phải phụ thuộc
vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Nếu những thông tin mà kế toán quản trị
thu thập không phục vụ cho nhà quản trị thì sẽ gây ra sự lãng phí về thời gian và
tiền bạc của doanh nghiệp.
Tiến hành thu thập và xử lý thông tin tơng lai.
Việc tiến hành thu thập thông tin tơng lai của kế toán quản trị là quá trình
sàng lọc những thông tin mà bộ phận kế toán đã thu thập đợc cả ở bên trong và
bên ngoài doanh nghiệp vì trong những thông tin ấy có những thông tin liên
quan đến tơng lai của doanh nghiệp và cũng có những thông tin không liên quan
đến tơng lai của doanh nghiệp. Những thông tin bên trong doanh nghiệp thì có
thể thu thập một cách rễ ràng nhng nhng thông tin bên ngoài doanh nghiệp thì
phải thông qua quá trình thăm dò, khảo sát thực tế, các thông tin đại chúng và
có thể bằng nhiều cách khác nữa.
Các thông tin sau khi đã đợc thu thập sẽ đợc tập hợp lại sau đó giao cho
những nhân viên kế toán chuyên trách xử lý. Trớc tiên những nhân viên này
định phải sử dụng một số chứng từ bắt buộc, một số tài khoản cấp 1 và cấp 2 bắt
buộc, một số mẫu sổ bắt buộc, một số báo cáo tài chính bắt buộc đối với tất cả
các doanh nghiệp nhng vẫn cho phép và khuyến khích các doanh nghiệp tự thiết
kế ra những mẫu chứng từ mới, những tài khoản cấp 3 và cấp 4, những mẫu sổ
mới và những mẫu báo cáo mới phù hợp với đặc điểm hoạt động và tình hình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cũng để theo dõi chi tiết thêm theo
yêu cầu quản lý doanh nghiệp của các nhà quản trị.
Nh vậy, trong chế độ kế toán Việt Nam hiện nay vẫn thực sự cha có sự
tách biệt rõ ràng giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, chúng vẫn tồn tại
đan xen lẫn nhau trong cùng một hệ thống kế toán. Hiện nay Nhà nớc đã có
những hớng dẫn về tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp nhng vẫn cha có
những văn bản chính thức nào quy định bắt buộc về việc tổ chức kế toán quản
trị trong doanh nghiệp nhng trong chế độ kế toán của nớc ta hiện nay cũng đã
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tổ chức kế toán quản trị giúp nhà quản trị có
đợc những thông tin cần thiết phục vụcho việc ra các quyết định quản lý.
2.2 Thực trạng tổ chức mô hình kế toán quản trị trong các Doanh nghiệp.
18