BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------
TRẦN THỊ THU
KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM DỊCH VỤ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
DU LỊCH HÀNG KHÔNG HÀ ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, Năm – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------
TRẦN THỊ THU
KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM DỊCH VỤ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
DU LỊCH HÀNG KHÔNG HÀ ANH
Chuyên ngành
: Kế toán
Mã số
: 60 34 03 01
đình.
Trước hết tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị
Hồng Lam, người đã hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa sau Đại học cùng
các nhà khoa học, các thầy cô giáo Trường Đại học Thương Mại Hà Nội đã
trang bị cho tôi những khiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập giúp
tôi hoàn thành khóa học.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban lãnh đạo, các Cán bộ
phòng kế toán của Công ty Cổ phần du lịch Hàng Không Hà Anh đã hỗ trợ,
giúp tác giả rất nhiều trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập thông tin của
đơn vị liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thành viên lớp CH22B-KT và
gia đình đã động viên, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp ý kiến quý báu làm cơ
sở cho tác giả hoàn thành Luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Trần Thị Thu
6
MỤC LỤC
7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT
Bảo hiểm y tế
BPBTL
Bảng phân bổ tiền lương
BTC
Bộ tài chính
GBN
Giấy báo nợ
GTGT
Giá trị gia tăng
HĐ
Hợp đồng
KKĐK
Kiểm kê định kỳ
KKTX
TK
Tài khoản
VNĐ
Việt Nam Đồng
DANH MỤC SƠ ĐỒ
8
9
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại các Doanh nghiệp đang kinh doanh hiện nay nói chung cũng như
Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch nói riêng, để doanh nghiệp có thể
tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường mở ngày nay thì hoạt động
sản xuất kinh doanh tối thiểu phải bù đắp được chi phí sản xuất. Vì lẽ vậy,
doanh nghiệp cần phải theo dõi cũng như hạch toán các chi phí đầu vào một
cách hợp lý nhằm đưa ra được các biện pháp nhằm hạn chế các chi phí không
cần thiết, tránh lãng phí cũng như thất thoát nguồn tiền trong doanh nghiệp.
Ngoài những yếu tố chi phí tác động từ bên ngoài thì các Doanh nghiệp
cần chủ động trong việc kiểm soát chi phí sản xuất, làm tốt được khâu tính giá
thành sản phẩm. Trong nền kinh tế hội nhập khu vực hiện nay, khi các Doanh
nghiệp nước ngoài ồ ạt vào đầu tư trong nước ta thì các Doanh nghiệp Việt có
những cơ hội cũng như thách thức không hề nhỏ để chiếm lĩnh được thì
được nhiều tác giả lựa chọn do đặc thù các ngành khác nhau dẫn đến việc việc
hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại mỗi Doanh nghiệp
mang những nét đặc thù riêng. Vì vậy, tùy thuộc vào mỗi tác giả nghiên cứu
có cách nhìn nhận về những lĩnh vực kinh doanh khác nhau để từ đó có những
nhìn nhận, đánh giá ở nhiều phương diện.
Luận văn thạc sĩ: “Kế toán chi phí và giá thành sản phẩm tại công ty CP
May mặc Phương Đông” của tác giả Lê Hoài Thương năm 2017 tại trường
Đại học Thương Mại. Về lý luận đề tài đã trình bày được khái quát về chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Tiếp đó đề tài đã
tập trung nghiên cứu trình bày kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
trên nội dung là các mô hình kế toán CPSX-Z trong DNSX. Về mặt thực tiễn
đề tài đã trình bày được tổng quan hoạt động, quản lý, kế toán chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm tại một số doanh nghiệp kinh doanh nghành may mặc.
11
Nêu lên những tồn tại về việc quản lý chi phí, hạch toán giá thành sản phẩm
may mặc và đề ra một số phương hướng khắc phục những tồn tại về việc quản lý
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty CP May mặc Phương Đông.
Luận văn thạc sĩ: “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại
công ty cổ phần xi măng VICEM Bỉm Sơn” tác giả Lê Diệu Linh năm 2017
tại trường Đại học Thương Mại. Đề tài làm rõ được những vấn đề lý luận
chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, đồng thời tập trung phân
tích được sự chi phối của các chuẩn mực kế toán Việt Nam đến kế toán chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Phân tích được kế toán chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm trên được cả 2 góc độ KTTC và KTQT. Khái quát
được đặc điểm tổ chức, bộ máy quản lý và tổ chức công tác kế toán và quy
trình sản xuất tại công ty. Trên cơ sở thực trạng chỉ ra những ưu điểm cũng
như hạn chế trong công tác kế toán để từ đó tác giả đã đưa ra được nhóm giải
Về mặt lý luận:
“Luận văn hệ thống hóa những lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất,
kế toán tính giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nói
chung và kinh doanh lĩnh vực dịch vụ du lịch nói riêng.”
•
Về mặt thực tiễn:
“Tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất cũng
như giá thành sản phẩm dịch vụ du lịchtại công ty Cổ phần Du lịch Hàng
Không Hà Anh.”
“Từ đó chỉ ra nhữngtồn tại và tìm hiểu nguyên nhân, đề xuất các giải
pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm dịch vụ
du lịch tại công ty Cổ phần Du lịch Hàng Không Hà Anh.”
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Kế toán chi phí sản xuất, kế toán tính giá thành
sản phẩm dịch vụ du lịch.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung về nghiên cứu thực trạng kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch tại Công ty
Cổ phần Du lịch Hàng Không Hà Anh dưới góc độ kế toán tài chính.
Thời gian nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu 2018 của công ty.
13
5.
và cuối cùng là lập báo cáo kế toán.
Phương pháp phỏng vấn:
Bước 1:
14
•
Xác định đối tượng phỏng vấn: Với mục đích nhằm thu thập các thông tin về
•
tổ chức công tác kế toán chi phí và giá thành sản phẩm tour du lịch.
Xác định đối tượng phỏng vấn: phỏng vấn trực tiếp với trưởng phòng hành
chính, trưởng phòng kinh doanh, trưởng phòng kế toán, kế toán viên; những
người có liên quan đến việc tổ chức và thực hiện công tác kế toán chi phí và
giá thành, là những thông tin mang tính định tính mà tác giả muốn làm rõ
•
trong quá trình nghiên cứu.
Thời gian phỏng vấn: Giờ hành chính tại các phòng ban của các đối tượng nêu
•
trên.
Xây dựng các câu hỏi phỏng vấn: Tập chung và những vấn đề chính liên quan
đến hạch toán chi phi sản xuất và giá thành sản phẩm tour du lịch tại công ty.
Về mặt thực tiễn: Đề tài đánh giá thực trạng “ Kế toán chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm du lịch tại công ty Cổ phần Du lịch Hàng Không Hà
Anh”, đây là cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm. Đồng thời đưa ra một số ý kiến đề xuất, đóng
góp với Công ty trong việc tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
d.
Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí và giá thành sản phẩm dịch vụ
trong các doanh nghiệp du lịch
Chương 2: Thục trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm dịch vụ
tại Công ty Cổ phần du lịch Hàng không Hà Anh
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm du lịch tại Công ty Cổ phần Du lịch Hàng không Hà Anh
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM DỊCH VỤ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
DU LỊCH
1.1
Một số vấn đề lý thuyết chung về chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm trong Doanh nghiệp Du lịch
1.1.1 Đặc điểm hoạt động của Doanh nghiệp Du lịch
1.1.1.1. Khái
niệm hoạt động kinh doanh du lịch
Theo Luật du lịch năm 2005 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ
Thứ tư, Với đặc thù sản phẩm du lịch thường thường mang vô hình và là
sự kết hợp của nhiều sản phẩm dịch vụ khác nên không có quá trình nhập kho,
xuất kho và thường không có sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Thứ năm, Nhìn chung, tổ chức hoạt động du lịch có xu hướng không ổn
đinh, phân tán do lượng khách hàng sử dụng dịch vụ luôn biến động, có sự di
động và phức tạp về đối tượng.
17
Thứ sáu, Trong cùng một thời điểm nhất định, quá trình sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm được đồng thời diễn ra.
1.1.2 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong các Doanh nghiệp
kinh doanh Du lịch
1.1.2.1 Khái niệm chi phí sản xuất
Hiện nay, các Doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch được hiểu
thực chất là quá trình tiêu dùng các yếu tố sản xuất kinh doanh (tư liệu sản
xuất) để tạo ra sản phẩm. Các tư liệu sản xuất này có thể kể đến như đối
tượng lao động, sức lao động, các sản phẩm dịch vụ hàng hóa đầu vào…
nhằm tạo ra, sản xuất ra một sản phẩm dịch vụ mới đưa ra thị trường để cung
cấp cho khách hàng. Khái niệm đơn giản nhất có thể hiểu về chi phí là “Chi
phí được sử dụng để phản ánh giá trị của các nguồn lực đã hao phí để sản xuất
ra một đơn vị sản phẩm dịch vụ nào đó”.
Theo chuẩn mực kế toán số 01 (VAS 01) chuẩn mực chung định nghĩa:
“Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán
dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát
sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản
phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo định nghĩa trên chi phí được
xem xét theo từng kỳ kế toán, là những khoản mục trên báo cáo tài chính. Theo
Thông thường có thể kể tới cách phân loại chủ yếu sau đây:
•
Phân loại theo nội dung kinh tế của chi phí
“Theo các phân loại này được căn cứ theo nội dung kinh tế của chi phí
để sắp xếp phân loại, những khoản chi phí có cùng nội dung kinh tế được sắp
xếp thành từng loại và từng nhóm; không kể đến chi phí phát sinh ở đâu hay
dùng vào mục đích gì trong quá trình sản xuất, bao gồm 7 yếu tố chi phí sau:
-
Chi phí nguyên vật liệu là toàn bộ các chi phí phát sinh để mua sắm các đối
tượng lao động cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trong kỳ.
19
-
Chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong
-
kỳ.
Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương bao gồm tổng số tiền lương và
-
“Cách phân loại này được căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí để
sắp xếp, phân loại các khoản chi phí có chung mục đích vào một nhóm như sau:
-
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí bao gồm chi phí về nguyên
vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ và vật liệu khác tham gia trực tiếp vào việc
-
sản xuất chế tạo ra sản phẩm hay thực hiện dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp phản ánh chi phí lao động trực tiếp để sản xuất ra
sản phẩm, dịch vụ trong các doanh nghiệp, chi phí này thường bao gồm chi
20
phí về tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo
-
lương cho nhân công lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm.
Chi phí sản xuất chung phản ánh những chi phí phát sinh ở các phân xưởng,
bộ phận sản xuất của doanh nghiệp ngoài hai loại chi phí nói trên. Có thể kể
-
Theo đó, chi phí trực tiếp được hiểu là:“Những chi phí có quan hệ trực tiếp đến
một đối tượng dịch vụ chịu chi phí nhất định. Do đó kế toán có thể có căn cứ số
-
liệu từ chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí.”
Chi phí gián tiếp là: “Là những chi phí có liên quan đồng thời đến nhiều đối
tượng dịch vụ chịu chi phí khác nhau. Do đó kế toán phải tập hợp lại cuối kì
tiến hành phân bổ cho các đối tượng dịch vụ liên quan theo những tiêu chuẩn
nhất định”.
Với phương pháp trên, kế toán có thể tập hợp chi phí một cách rõ ràng
và chính xác cho từng đối tượng chịu chi phí. Đối với các chi phí trực tiếp sẽ
được tập hợp theo phương pháp trực tiếp; chi phí gián tiếp sẽ được phân bổ
theo tiêu thức phù hợp để phân bổ cho những đối tượng chịu chi phí.
1.1.3 Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm trong các Doanh
nghiệp Du lịch
1.1.3.1.Khái niệm giá thành sản phẩm
Trong một doanh nghiệp việc tính giá thành sản phẩm dịch vụ có tầm
quan trọng sống còn. Tính được giá thành sản phẩm sẽ cho phép DN có một
chiến lược về giá và kiểm soát được lợi nhuận để sản phẩm mang tính cạnh
tranh cao mà vẫn có lãi.
Giá thành sản phẩm dịch vụ được định nghĩa: “Là biểu hiện bằng tiền
các chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm (công việc, lao vụ)
dịch vụ nhất định đã hoàn thành”. (trích từ giáo trình “Kế toán hoạt động
Thương mại Dịch vụ”- Trường Đại học Thương Mại)
Giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch được hiểu là: “toàn bộ các hao phí về
•
Phân loại theo thời điểm và cơ sở nguồn số liệu
Giá thành kế hoạch được hiểu: “Là giá thành sản phẩm dịch vụ được
tính trên cơ sở chi phí sản xuất dịch vụ kế hoạch, sản lượng dịch vụ kế hoạch.
Giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp được tính trước
khi bắt đâu quá trình sản xuất sản phẩm dịch vụ. Giá thành kế hoạch là mục
tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành, kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp”.
Giá thành định mức: “Là giá thành dịch vụ được tính trên định mức chi
phí hiện hành. Việc tính giá thành định mức cũng thực hiện trước khi tiến
hành quá trình sản xuất sản phẩm dịch vụ. Giá thành định mức là thước đo để
23
xác định kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp để
từ đó có cơ sở đánh giá các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đang
áp dụng”.
Giá thành thực tế: “Là loại giá thành được xác định trên cơ sở số liệu chi
phí sản xuất sản phẩm dịch vụ thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ.
Giá thành thực tế chỉ có thể xác định được sau khi đã kết thúc quá trình sản
xuất sản phẩm dịch vu. Giá thành thực tế sản phẩm dịch vụ là chỉ tiêu kinh tế
tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức áp
dụng các giải pháp kinh tế - kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm
dịch vụ, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ
của doanh nghiệp”.
•
Phân loai theo Theo phạm vi phát sinh chi phí tính vào giá thành
tại thời điểm tính giá thành của sản phẩm). Tại DN có những chi phí sản xuất
đã phát sinh trong kỳ kế toán tuy nhiên chưa có sản phẩm hoàn thành vì thế
những sản phẩm này chưa có giá thành sản phẩm.
Thứ hai, sự biểu hiện về lượng chỉ ra rằng: Chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm khác nhau khi xuất hiện chi phí sản xuất dở dang, điều này được thể
hiện qua công thức:
=
Tổng
Tổng chi
=
giá thành sản
phí sản xuất dở
phẩm
dang đầu kỳ
Tổng chi
Tổng chi
+ phí sản xuất phát
- phí sản xuất dở
sinh trong kỳ
dang cuối kỳ
Thông qua công thức trên ta thấy chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, chi phí sản xuất là điều kiện tiền đề
để tính đước giá thành sản phẩm, là cơ sở để kế toán xây dựng giá thành sản
nghệ khác nhau, chi phí kinh doanh cũng không giống nhau.
Sản phẩm của hoạt động du lịch và dịch vụ nói chung không có hình thái vật
chất , không có quá trình nhập, xuất kho, chất lượng sản phẩm nhiều khi
không ổn định, thường không có sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm du lịch và dịch vụ được tiến hành đồng
thời, ngay cùng một địa điểm
Những đặc điểm của doanh nghiệp kể trên ảnh hưởng đến công tác kế
toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm du lịch:
Kế toán du lịch phải theo dõi chi phí theo hợp đồng, theo tour du lịch.
Chi phí do hướng dẫn viên thực hiện sẽ được ứng trước tiền theo tour, khi kết
thúc tour, hoặc hợp đồng mới thanh toán với phòng kế toán.
Các hoá đơn khách sạn, nhà hàng có khi nhận được trễ so với việc thanh toán
của HDV
Có tình trạng hợp đồng làm với 1 đơn vị cùng ngành đề thực hiện 1 phần khối