BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
PHẠM DUY ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRẠM BƠM ĐIỆN CỦA TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
PHẠM DUY ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRẠM BƠM ĐIỆN CỦA TỈNH AN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý xây dựng
Mã số: 60.58.03.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Xuân Phú
Tuy nhiên, trong khuân khổ luận văn do điều kiện thời gian và trình độ có
hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự chỉ
bảo của các thầy cô cũng như những ý kiến đóng góp quý báu của bạn bè và đồng
nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn./.
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2013
Học viên thực hiện
Phạm Duy Anh Tuấn
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp được xác định là thế mạnh của An Giang với 3 sản phẩm chiến
lược (lúa gạo, cá tra và rau màu) đang được tiếp tục đầu tư phát triển theo mô hình
sản xuất hàng hóa. Trong những năm vừa qua An Giang đạt thành tựu to lớn trong
sản xuất nông nghiệp, đi đầu trong việc phát triển mô hình cánh đồng mẫu lớn, mô
hình liên kết “bốn nhà”.
Để đảm bảo sự phát triển bền vững nguồn nước, giữ vững an ninh lương thực
đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển sản xuất Nông nghiệp và Kinh tế nông thôn.
Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước trong những năm vừa qua An Giang được
đầu tư xây dựng hàng loạt hệ thống công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp và đa
mục tiêu.Các công trình sau khi đi vào phục vụ đã đóng góp không nhỏ vào phát
triển sản xuất, nâng cao đời sống nhận dân và phát triển kinh tế địa phương.
Để thực hiện chủ trương và chính sách của Chính phủ, của bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn phát triển lúa vụ 3 (vụ thu đông) và mô hình cánh đồng mẫu
lớn đạt kết quả tốt thì công tác đầu tư xây dựng cũng như quản lý khai thác các công
trình thủy lợi phải đảm bảo tưới, tiêu kịp thời và hiệu quả.Trong đó việc đầu tư hệ
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích so sánh và một số phương pháp kết hợp khác.
5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
5.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Luận văn góp phần hệ thống hóa những cơ sở lý luận cơ bản về việc đầu tư xây
dựng công trình.Ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của việc đánh giá hiệu quả của
việc đầu tư xây dựng công trình.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài chỉ ra được những tồn tại và đã đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu
quả của việc đầu tư xây dựng hệ thống trạm bơm điện của tỉnh An Giang.
3
6. Kết quả dự kiến đạt được
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về việc phân tích đánh giá hiệu quả
kinh tế -xã hội của các dự án đầu tư xây dựng
- Đánh giá được hiện trạng hệ thống trạm bơm điện của tỉnh An Giang
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế - xã hội trong việc tư xây dựng hệ thống trạm
bơm điện của tỉnh An Giang.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trong việc
đầu tư xây dựng hệ thống trạm bơm điện.
7. Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương chính:
Chương 1. Cơ sở lý luận và tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc đầu tư xây dựng
công trình thủy lợi.
Chương 2.Phân tích đánh giá hiệu quả của hệ thống trạm bơm điện tỉnh An Giang.
Chương 3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc đầu tư xây
dựng hệ thống trạm bơm điện.
càng to lớn, ngoài mục tiêu phục vụ nông nghiệp, phòng chống thiên tai đã đi vào
5
quản lý khai thác, phát triển sử dụng hợp lý tài nguyên nước phục vụ cho các ngành
kinh tế, đời sống nhân dân và bảo vệ phát triển môi trường sinh thái.
Trong những năm qua, cùng với tiến trình phát triển kinh tế, nhà nước ta đã đầu
tư nhiều công trình, hệ thống công trình thủy lợi lớn, nhỏ, hình thành nên một hệ
thống cơ sở vật chất hạ tầng hết sức to lớn, quan trọng phục vụ đa mục tiêu như:
tưới tiêu cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy, phát điện, cắt lũ,
ngăn mặn, giữ ngọt, du lịch…đảm bảo cho sản xuất và đời sống dân sinh. Đặc biệt,
thủy lợi đã góp phần ổn định sản xuất, giữ vững và nâng cao năng xuất sản lượng
cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, đưa nước
ta từ một nước thiếu lương thực trở thành một nước không chỉ đủ lương thực phục
vụ nhu cầu trong nước mà trở thành một quốc gia xuất khẩu lương thực hàng đầu
thế giới. Có thể nói rằng, hệ thống các công trình thủy lợi có một vị trí vô cùng quan
trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội, góp phần đảm bảo đời sống an ninh và bảo
vệ môi trường. Vai trò của hệ thống công trình thủy lợi có thể được cụ thể hóa ở các
mặt sau:
1.1.2.1. Đảm bảo tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp
Việc tưới tiêu chủ động đã góp phần tăng diện tích, tăng vụ, tăng năng suất sản
lượng cây trồng, đặc biệt là cây lúa. Ngoài ra việc tưới tiêu chủ động còn góp phần
cho việc sản xuất cây trồng có giá trị hàng hóa cao như rau màu, cây công nghiệp và
cây ăn quả.
1.1.2.2. Góp phần phát triển du lịch
Các công trình thủy lợi đặc biệt là các hồ chứa nước luôn được tận dụng và kết
hợp phát triển du lịch sinh thái như: hồ Đồng Mô, Kẻ Gỗ, Núi Cốc, Đại Lải…, một
số sân gôn và khu nghỉ dưỡng cũng được kết hợp xây dựng quanh khu vực các hồ.
Một số hệ thống thủy lợi cũng được kết hợp thành tuyến giao thông – du lịch. Ngoài
phòng chống cháy rừng, phát triển rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn. Các kênh
mương, mặt đập dâng, đập hồ chứa, cầu máng được tận dụng kết hợp giao thông
đường bộ.Hồ chứa, kênh tưới, tiêu được kết hợp làm đường giao thông thủy được
phát triển mạnh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
7
1.1.2.8. Góp phần phòng chống giảm nhẹ thiên tai và bảo vệ môi trường
Các công trình thủy lợi có tác dụng phòng chống úng ngập cho diện tích đất
canh tác và làng mạc, đặc biệt là những vùng trũng, góp phần cải tạo và phát triển
môi trường sinh thái, cải thiện đời sống nhân dân. Điều tiết nước trong mùa lũ để bổ
sung cho mùa kiệt, chống lại hạn hán, chống xa mạc hóa, chống xâm nhập mặn…
Hệ thống đê sông, đê biển, công trình bảo vệ bờ, hồ chứa có tác dụng phòng chống
lũ lụt từ sông biển, chống xói lở bờ sông, bờ biển,… Ngoài ra các công trình thủy
lợi còn điều tiết nước giũa mùa lũ và mùa kiệt, làm tăng lượng dòng chảy mùa kiệt,
dòng chảy sinh tháicho sông ngòi và bổ sung lượng nước lớn cho nước ngầm. Công
trình thủy lợi có vai trò to lớn trong việc cải tạo đất, giúp đất có độ ẩm cần thiết để
không bị bạc màu, đá ong hóa, chống cát bay, cát nhảy và thoát hóa đất. Các hồ
chứa có tác động tích cực cải tạo điều kiện vi khí hậu của một vùng, làm tăng độ ẩm
không khí, độ ẩm đất, tạo nên các thảm phủ thực vật chống xói mòn, rửa trôi đất đai.
1.2.Tình hình đầu tư xây dựng hệ thống công trình thủy lợi ở nước ta
1.2.1. Quá trình phát triển thủy lợi Việt Nam
1.2.1.1. Giai đoạn trước năm 1955
Từ xưa, ông cha ta đã tiến hành làm thủy lợi với những công trình đơn giản, dẫn
thủy nhập điền, quai đê lấn biển, đắp đê chống lụt, tạo nên nền văn minh lúa nước ở
nhiều vùng châu thổ.
Giai đoạn đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, với chủ trương khai thác tài nguyên,
người Pháp đã đầu tư xây dựng 13 hệ thống thủy lợi ở các tỉnh miền Bắc và miền
Trung. Vùng đồng bằng Sông Cửu Long cũng đào một số hệ thống kênh rạch để
- Nghiên cứu khai thác sử dụng tổng hợp dòng chảy chính sông Đồng Nai để
cấp nước, tưới, phat điện và giảm lũ cho hạ du ở Miền Đông Nam Bộ.
1.2.1.4. Giai đoạn từ 1986 đến 2000 ( giai đoạn đổi mới):
- Tiếp tục củng cố và phát triển các hệ thống thủy lợi ở các vùng để tăng khả
năng cấp nước chủ động và ổn định; nâng cao mức đảm bảo an toàn chống lũ cho
các vùng có đê sông, đê biển bảo vệ.
9
- Phát triển mạnh thủy lợi ở đồng bằng sông Cửu Long với các giải pháp dẫn
ngọt, ém phèn, thau chua rửa mặn và kiểm soát lũ.
- Đầu tư cao hơn cho cấp nước sinh hoạt, công nghiệp và tưới cho nông
nghiệp, thủy sản và giảm thiểu tổn thất lũ bão cho miền Trung; Cấp nước sinh hoạt,
tưới, chăn nuôi, giảm nhẹ lũ và khai thác thủy năng để ổn định dân cư, xóa đói giảm
nghèo, giữ vững an ninh quốc phòng miền núi, Tây Nguyên.
1.2.1.5. Giai đoạn 2001 đến 2011 ( giai đoạn bắt đầu công nghiệp hóa);
- Trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước tiếp tục chủ trương đầu tư cải tạo
nâng cấp công trình theo hướng hiện đại , bền vững. Nhiều dự án với sự hỗ trợ quốc
tế như dự án WB1, WB2, WB3, ADB1, ADB2, ADB3,… đã đầu tư chiều sâu, bổ
sung nguồn nước, cải tạo và nâng cấp hệ thống từ đầu mối đến mặt ruộng, nâng cao
hiệu quả hoạt động của hệ thống nhằm đảm bảo nguồn nước phục vụ cho gần 4 triệu
ha lúa, cấp nước cho cây trồng cạn, nuôi trồng thủy sản, nước công nghiệp và sinh
hoạt. Từ nguồn ngân sách Nhà nước, những năm qua Bộ nông nghiệp và PTNT đã
đầu tư thực hiện gần 250 công trình; trong đó có 160 công trình đã hoàn thành đưa
vào sử dụng, tăng thêm diện tích tưới lên 100 ngàn ha, tiêu 150 ngàn ha, ngăn mặn
250 ngàn ha, tạo nguồn 220 ngàn ha. Tổng năng lực tưới đến năm 2011 đạt khoảng
9 triệu ha gieo trồng (trong đó riêng tưới lúa đạt 6,77 triệu ha/năm), năng lực tiêu
đạt 1,8 triệu ha cây trồng các loại.
1.2.2. Hiện trạng công trình thủy lợi
nông nghiệp và cấp khoảng 6 tỷ m3 nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp.
1.2.3. Những mặt còn tồn tại trong đầu tư xây dựng thủy lợi
Tuy những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực thủy lợi của chúng ta là rất to
lớn và quan trọng, nhưng vẫn còn những mặt tồn tại cần được nghiên cứu, xem xét
để khắc phục. Những mặt tồn tại chính chủ yếu như sau:
- Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và nuôi trồng thủy sản làm thay đổi
diện tích cơ cấu sử dụng đất tạo ra những yêu cầu mới đối với công tác thủy lợi.
Nhu cầu cấp nước sinh hoạt ở nông thôn, thành thị, nhu cầu tiêu thoát nước tại nhiều
khu vực tăng lên nhanh chóng. Thủy lợi chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của các
đô thị lớn. Một số tỉnh thành phố lớn đang bị ngập lụt nặng do triều cường như: TP
Hồ CHí Minh, Cần Thơ, Cà Mau, Hải Phòng và Vĩnh Long. Còn một số thành phố
11
bị ngập úng do lũ như TP Huế và các khu đô thị khu vực miền Trung. TP Hà Nội và
các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng thì bị ngập úng do mưa.
- Các công trình phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, mặc dù cũng đã được đầu
tư xây dựng nhiều hồ chứa vùng thượng lưu và kết hợp hệ thống đê điều dưới hạ du
nhưng hiện nay hệ thống đê biển, đê sông và cống dưới đê còn nhiều bất cập. Phần
lớn là đê được xây dựng từ lâu không đảm bảo mặt cắt thiết kế hiện nay, chỉ chống
lũ đầu vụ và cuối vụ, chính vụ khu vực miền Trung, các cống dưới đê bị hư hỏng
nhiều. Hiện tượng bồi lấp, xói lở ở các cửa sông miền Trung còn diễn ra nhiều và
chưa được khắc phục.
- Nước thải không được xử lý hoặc xử lý không triệt để đổ vào kênh gây ô
nhiễm nguồn nước trong hệ thống thủy lợi như các hệ thống thủy nông Bắc Hưng
Hải, Sông Nhuệ, Bắc Đuống, Bắc Nam Hà,…
- Mâu thuẫn quyền lợi, thiếu sự phối kết hợp giữa các ngành, địa phương nên
công trình chưa phát huy hết hiệu quả phục vụ đa mục tiêu. Nhiều công trình hồ
chứa lớn trên dòng chính có hiệu quả cao về chống lũ, phát điện, cấp nước đã được
thiên tai thích ứng với biến đổi khí hậu và xây dựng nông thôn mới. Hệ thống thủy
lợi vơi hàng ngàn hồ đập, trạm bơm, hàng chục ngàn km kênh mương, đê kè được
hình thành là một thành tựu hết sức to lớn của đất nước. Sự phát triển của nông
nghiệp và nông thôn đã góp phần quan trọng vào thành công của công cuộc xóa đói
giảm nghèo, nâng cao đời sống của nông dân, làm cơ sở ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội trong nước. Đồng thời, những thành tựu này đã góp phần nâng cao vị thế
của Việt Nam trên trường quốc tế, nổi bật là những thành tựu trong việc giải quyết
vấn đề an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, xuất khẩu nông, thủy sản với một
số mặt hàng có vị thế cao trên thị trường quốc tế. Có thể khái quát những mặt hiệu
quả mà thủy lợi đóng góp cho đất nước trong thời gian qua như sau:
1.3.1. Hiệu quả tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp
Tính đến nay trên phạm vi cả nước, các hệ thống thủy lợi lớn, vừa và nhỏ tương
đối đầy đủ đã đảm bảo phục vụ cho nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế.
Các hệ thống thủy lợi đã đảm bảo tưới tiêu trực tiếp cho hơn 3,45 triệu ha đất
nông nghiệp, tiêu úng vụ mùa khoảng 1,7 triệu ha, ngăn mặn cho gần 1 triệu ha, cải
tạo 1,6 triệu ha đất chua phèn ở đồng bằng sông Cửu Long. Góp phần đưa sản lượng
13
lương thực đạt 48,6 triệu tấn ( năm 2012). Các công trình thủy lợi còn tưới trên 1
triệu ha rau màu, cây công nghiệp và cây ăn quả.
Trong điều kiện hiện nay dân đông, đất canh tác ít, nên đất canh tác quay vòng
2-3 vụ. Đến nay toàn bộ các công trình thủy lợi trên toàn quốc đã tưới cho 7,61 triệu
ha lúa và 1 triệu ha rau màu cây công nghiệp. Trong 7,61 triệu ha lúa được tưới thì
có 2,89 triệu ha lúa Đông Xuân; 2,25 triệu ha lúa Hè Thu; 2,51 triệu ha lúa mùa.
Với tổng diện tích gieo trồng lúa và rau màu cây công nghiệp được tưới đạt 8,6 triệu
ha. Nhờ có các biện pháp thủy lợi cũng như cải tiến khoa học kỹ thuật cùng với việc
đưa giống mới vào sản xuất nên trong vòng 10 năm qua sản lượng lương thực tăng
bình quân hàng năm khoảng trên 1 triệu tấn/năm.
trăm thủy điện nhỏ với tổng công suất khoảng 110 MW.
TT
Tên công trình thủy điện
Công suất (MW)
Lưu vực sông
1
Sơn La
2400
Sông Đà
2
Hòa Bình
1920
Sông Đà
3
Thác Bà
108
15
1.3.5. Góp phần quản lý tài nguyên nước thích ứng biến đổi khí hậu
Đã có nhiều công trình thủy lợi như hồ chứa, các hệ thống chuyển nước lưu vực
đã thực sự góp phần to lớn vào việc điều hòa nguồn nước giữa mùa nước thừa và
mùa nước thiếu, giữa năm thiếu nước và năm thừa nước, giữa vùng thừa nước và
vùng khan hiếm nước, biến nguồn nước ở dạng tiềm năng đổ ra biển thành nguồn
nước có ích cho quốc kế dân sinh.
Nhiều hệ thống đê bao, kè biển được đầu tư xây dựng kiên cố thích ứng chống
chọi sự diễn biến bất thường thời tiết cũng như sự dâng lên của nước biển, đảm bảo
ổn định cho sản xuất nông nghiệp.
1.4. Các tiêu chí đáng giá hiệu quả kinh tế của công trình thủy lợi
1.4.1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế của công trình thủy lợi
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
lực để đạt được mục tiêu nhất định của một quá trình.
Như vậy có thể hiểu hiệu quả kinh tế của một dự án đầu tư được đặc trưng bằng
các chỉ tiêu qua phương pháp định tính hoặc qua phương pháp định lượng. Thể hiện
quan hệ giữa chi phí bỏ ra của dự án và các kết quả đạt được theo mục tiêu của dự
án.
Một dự án đầu tư xây dựng công trình được xem là hiệu quả khi hiệu quả đó
được đánh giá trên nhiều mặt (kinh tế, xã hội, môi trường,…). Trong đó, hiệu quả
kinh tế là một phần của hiệu quả công trình và được đánh giá bằng giá trị đạt được
trên chi phí bỏ ra
1.4.2. Tầm quan trọng của việc đánh giá hiệu quả kinh tế dự án đầu tư
Mục đính của việc phân tích kinh tế là nhằm xem xét và đánh giá khả năng và
mức độ đóng góp về mặt lợi ích của dự án xây dựng công trình cho nền kinh tế quốc
dân. Phân tích kinh tế nhằm giúp cơ quan có thẩm quyền đưa ra được quyết định
nên hay không nên triển khai dự án dựa trên cơ sở mức độ khả thi kinh tế của dự án;
- Phân tích kinh tế đối với nhà đầu tư đó là căn cứ chủ yếu để thuyết phục Nhà
nước, các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án, thuyết phục các ngân hàng cho
vay vốn, thuyết phục nhân dân địa phương ủng hộ chủ đầu tư thực hiện dự án.
17
- Đối với Nhà nước, phân tích kinh tế là căn cứ chủ yếu để Nhà nước xét duyệt
để cấp giấy phép đầu tư;
- Đối với các tổ chức viện trợ dự án, phân tích kinh tế cũng là một căn cứ quan
trọng để họ chấp thuận viện trợ, nhất là đối với các tổ chức viện trợ nhân đạo, viện
trợ cho các mục đích xã hội, viện trợ cho bảo vệ môi trường…
- Đối với các dự án phục vụ lợi ích công cộng cho Nhà nước trực tiếp bỏ vốn
thì phân tích lợi ích kinh tế đóng vai trò chủ yếu trong dự án, loại dự án này hiện
nay ở nước ta hiện nay khá phổ biến và chiếm một nguồn vốn khá lớn mà các dự án
đầu tư xây dựng thủy lợi, giao thông là một minh chứng.
- Đối với các dự án đã đi vào quản lý khai thác, việc phân tích kinh tế của dự
án luôn giữ vai trò quan trọng trong việc rút ra các bài học, đánh giá những kết quả
đạt được và tìm ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của dự án.
1.4.3. Thực chất hiệu quả kinh tế của các công trình thủy lợi
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của một dự án xây dựng công trình thủy lợi là một
việc làm hết sức phức tạp và khó khăn. Chúng ta không thể dùng một chỉ tiêu đơn
độc hay một phương pháp để xác định, mà cần phải dùng nhiều chỉ tiêu, nhiều nhóm
chỉ tiêu, nhiều phương pháp, vì mỗi chỉ tiêu, mỗi nhóm chỉ tiêu, nhóm phương pháp
chỉ phản ánh, thể hiện được một mặt hiệu quả kinh tế của công trình. Hiệu quả kinh
tế của dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi được thể hiện và chịu ảnh hưởng
bởi:
- Thành quả và chất lượng của công trình thủy lợi được đánh giá thông qua sản
phẩm nông nghiệp, năng suất, sản lượng, chất lượng, giá trị sản lượng của sản phẩm
nông nghiệp là cơ sở căn cứ quan trọng để xác định hiệu quả kinh tế của công trình
tích đất nông nghiệp thì hiệu quả kinh tế của công trình được xác định trên kết quả
của việc thực hiện: là nâng cao năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường.
- Khi nghiên cứu xác định hiệu quả kinh tế của công trình thủy lợi, ngoài việc
đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế còn phải đánh giá hiệu quả về mặt bảo vệ môi
trường và việc cải thiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội khác.
- Khi phân tích tính toán hiệu quả vốn đầu tư, cần xem tới sự gián đoạn về mặt
thời gian thực hiện dự án trong giai đoạn bỏ vốn và giai đoạn thu nhận kết quả đó là
19
thời gian xây dựng vốn bị ứ đọng và thời gian công trình đạt được công suất thiết
kế.
- Khi lập dự án, thiết kế công trình, nhất thiết phải đưa ra các phương án để
xác định hiệu quả kinh tế so sánh của các phương án. Mặt khác cần phải đánh giá
hiệu quả kinh tế của các phương án lựa chọn với tiêu chuẩn hiệu quả đã được quy
định. Không nên tiến hành xây dựng công trình bằng mọi giá, nếu công trình không
hiệu quả.
- Ngoài việc phân tích những nguồn lợi mà dự án xây dựng công trình đem lại,
cũng phải cần phân tích, đánh giá những thiệt hại do việc xây dựng công trình gây
ra một cách khách quan và trung thực.
- Không được xem xét hiệu quả kinh tế theo giác độ lợi ích cục bộ và lợi
nhuận đơn thuần của một dự án công trình , mà phải xuất phát từ lợi ích toàn cục
toàn diện của cộng đồng, của Quốc gia.
- Không đơn thuần xem xét hiệu quả kinh tế là mức tăng sản lượng của một
công trình nào đó, điều quan trọng là mức tăng sản lượng của tổng hợp tất cả các
công trình (kể cả công nghiệp, sản xuất hàng hóa, xuất khẩu,…).
- Trong trường hợp đặc biệt, không nên chỉ xem xét hiệu quả kinh tế của công
trình là nguồn lợi ích kinh tế. Có những khi vì mục đích chính trị, quốc phòng, nhu
cầu cấp thiết của dân sinh, vẫn phải tiến hành xây dựng công trình. Trong trường
tư cho một đơn vị diện tích đất gieo trồng; chỉ tiêu về lượng vốn đầu tư cho một đơn
vị giá trị sản lượng nông nghiệp tăng thêm; chỉ tiêu hệ số hiệu quả vốn đầu tư; chỉ
tiêu về trang bị vốn cho lao động;…
- Nhóm chỉ tiêu thời gian hoàn vốn và bù vốn đầu tư chênh lệch. Nhóm chỉ
tiêu này nhằm đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư của dự án cho chủ đầu tư. Chỉ
tiêu thời gian bù vốn đầu tư chênh lệch dùng trong so sánh lựa chọn phương án. Chỉ
tiêu thời gian hoàn vốn dùng trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế của một phương
án so với tiêu chuẩn kỳ vọng của chủ đầu tư về thời gian hoàn vốn.
- Nhóm chỉ tiêu phân tích chi phí lợi ích, đây là phương pháp hiện đang được
sử dụng khá phổ biến. Một trong những ưu điểm vượt trội của phương pháp này so
với các phương pháp sử dụng các chỉ tiêu nêu trên là xét yếu tố thời gian của dòng
tiền dự án. Một cách tiếp cận rất phù hợp trong điều kiện nền kinh tế thị trường.