Chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại - Pdf 53

Tóm lược
Hiện nay nền kinh tế của nước ta đang ngày càng phát triển, đặc biệt là sự hội nhập
với thế giới làm cho hoạt động thương mại phát triển không ngừng, các hợp đồng thương
mại ký kết ngày càng nhiều. Song song với sự phát triển số lượng các hợp đồng thì nội
dung của hợp đồng ngày càng được quan tâm nhiều hơn, nội dung ngày càng chi tiết hơn,
đặc biệt là sự quan tâm thỏa thuận các điều khoản về chế tài thương mại nói chung và chế
tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại nói riêng. Tuy nhiên quy định của pháp luật còn
nhiều thiếu xót, còn bất cập dẫn tới việc khó khăn khi áp dụng quy định về phạt vi phạm
hợp đồng thương mại, khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp. Từ thực tế đó khóa
luận nghiên cứu một số vấn đề về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại theo quy
định của Luật thương mại 2005 như: các khái niệm liên quan đến hợp đồng thương mại,
chế tài thương mại và chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại. Khóa luận tập trung chỉ
ra thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương
mại, thực trạng thực hiện quy định pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương
mại của thương nhân và thực tế xét xử của tòa án. Dựa trên những phân tích, những bất
cập đã được chỉ ra khóa luận kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp
luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại.


Lời cảm ơn
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập rèn luyện ở giảng đường Đại học
Thương Mại đến nay, từ việc học tập cho đến thực tập cuối khóa em đã nhận được rất
nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô ở các bộ môn và Khoa Kinh tế - Luật để em
có thể hoàn thành tốt chương trình học của mình.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Khoa Kinh tế
- Luật với tri thức và tâm huyết của mình đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng
em trong suốt thời gian học tập tại trường. Và đặc biệt, trong thời gian này, khi chúng em
thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp, các thầy cô đã dành rất nhiều thời gian để chỉ bảo và
hướng dẫn cho chúng em.
Em xin trân thành cảm ơn Cô Hoàng Thanh Giang đã tận tâm hướng dẫn em và
giúp em hoàn thành bài khóa luận này.


Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu.........................................................4

5.

Phương pháp nghiên cứu......................................................................................5

6.

Kết cấu khóa luận tốt nghiệp................................................................................5

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng thương mại , chế tài thương mại và
chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại........................................................................6
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hợp đồng thương mại, chế tài thương mại
và chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại................................................................6
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hợp đồng thương mại.........................6
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến chế tài thương mại..............................8
1.1.3. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương
mại........................................................................................................................... 14
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng thương mại, chế tài
thương mại và chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại...........................................17
1.2.1. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng thương mại...17
1.2.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại.......19
1.2.3. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về chế tài phạt vi phạm hợp
đồng thương mại......................................................................................................22
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại
và thực tiễn thực hiện tại Công ty luật hợp danh Sự Thật.................................................28
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng tới chế tài phạt vi phạm hợp đồng
thương mại................................................................................................................... 28


nguyện, bình đẳng giúp cho các bên cùng có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận và thực hiện các
mục tiêu nghề nghiệp của mình. Pháp luật hợp đồng với sứ mệnh là nền tảng pháp lý của
mọi sự thoả thuận tự nguyện luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quan hệ
hợp đồng bình đẳng, an toàn cùng có lợi cho tổ chức, cá nhân. Từ năm 2005, khi Luật
Thương mại (2005) và Bộ luật Dân sự (2005) được ban hành, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế
năm 1989 bị huỷ bỏ, sự điều chỉnh đối với các quan hệ hợp đồng nói chung và hợp đồng
trong lĩnh vực thương mại nói riêng đã có sự thay đổi căn bản. Pháp luật đã quy định rõ
nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện các điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng.
Nếu một bên có hành vi vi phạm gây thiệt hại cho bên kia thì phải gánh chịu những hậu
quả pháp lý bất lợi. Việc quy định các hình thức chế tài trong thương mại có ý nghĩa quan
trọng nhằm đảm bảo ổn định các quan hệ hợp đồng, trật tự pháp luật, khôi phục lợi ích
của bên bị vi phạm, giáo dục ý thức pháp luật về hợp đồng.
Tiếp nhận sự đổi mới của hệ thống pháp luật về hợp đồng trong những năm gần
đây, nhu cầu tìm hiểu về vấn đề chế tài trong thương mại ngày càng trở nên bức thiết
nhằm ổn định các quan hệ hợp đồng, nhất là khi Việt Nam đã tham ra vào “sân chơi” quốc
tế về các vấn đề thương mại (Việt Nam tham gia vào tổ chức Thương mại thế giới WTO).
Tuy nhiên quy định của pháp luật về các hình thức chế tài thương mại nói chung và chế
tài phạt vi phạm hợp đồng nói riêng còn có một số bất cập, quy định của pháp luật còn sơ
sài. Mặt khác nhiều thương nhân và những chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng
thương mại chưa tiếp cận được một cách toàn diện, kỹ lưỡng về các hình thức chế tài
thương mại cũng như chế tài phạt vi phạm nói riêng.

1


Hiện nay, chế tài phạt vi phạm là một trong những chế tài được các thương nhân
thỏa thuận áp dụng khá phổ biến trong hợp đồng thương mại và cũng xuất hiện nhiều
trong các vụ tranh chấp trong khi đó quy định pháp luật vẫn còn những bất cập gây khó
khăn cho thương nhân khi áp dụng chế tài và dẫn tới tranh chấp. Nhận thức rõ được điều
đó em đã lựa chọn đề tài : “Chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại – Thực tiễn thực

còn một số vấn đề gây tranh cãi, gây khó khăn cho các cơ quan giải quyết tranh chấp và
các bên trong việc xác định hình thức xử lý đối với bên có hành vi vi phạm hợp đồng.
Những vấn đề này phần lớn xuất phát từ sự bất cập của các quy định về chế tài trong
thương mại. Bài viết đi sâu phân tích về một số bất cập của chế tài trong thương mại cần
được nghiên cứu sửa đổi để đạt được hiệu quả cao hơn trong quá trình điều chỉnh các vấn
đề trong hoạt động thương mại.
Hai bài viết đã chỉ ra được những bất cập của các chế tài thương mại theo quy định
luật thương mại 2005 và phương hướng hoàn thiện quy định về các chế tài thương mại.
Tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết đăng trên tạp trí nên tác giả chưa trình bày các vấn đề
lý luận một cách đầy đủ về chế tài thương mại, chưa phân tích một cách chi tiết, kỹ lưỡng
các giải pháp, phương hướng hoàn thiện quy định pháp luật về chế tài thương mại mà chỉ
tập trung chỉ ra một cách ngắn gọn những điểm chưa hợp lý trong quy định của pháp luật.
Bài viết thứ ba là: “Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo Luật thương mại năm
2005” của Thạc sỹ Nguyễn Việt Khoa - Giảng viên Khoa Luật kinh tế, Đại học Kinh Tế
thành phố Hồ Chí Minh đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử. Bài viết đã làm rõ
các vấn đề pháp lý liên quan đến chế tài phạt vi phạm như vi phạm hợp đồng, phân biệt
được giữa chế tài phạt vi phạm với chế tài buộc bồi thường thiệt hại, phân tích vấn đề giới
hạn của mức phạt vi phạm, phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, đề cập đến mức phạt vi
phạm hợp đồng trên thực tế xét xử của tòa án. Tác giả đã chỉ ra những điểm chưa phù
hợp, chưa rõ ràng, những bất cập cần sửa đổi, hoàn thiện đồng thời đề xuất các kiến nghị
để hoàn thiện quy định pháp luật về chế tài phạt vi phạm.
Bài viết thứ tư là luận văn: “Các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng trong
thương mại” trên website luanvan365.com. Luận văn nghiên cứu về một số vấn đề như
phân tích những nét chung về hợp đồng và hợp đồng trong thương mại, phân tích một số
vấn đề chung về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và chế tài trong thương mại, phân tích
và đánh giá về các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại cụ thể theo
quy định của pháp luật hiện hành, phân tích thực tiễn áp dụng chế tài thương mại từ một
số vụ án và nêu ra một số kiến nghị về chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại.
Luận văn đã phân tích được các vấn đề kể trên nhưng còn chưa sâu sắc do tác giả đã
nghiên cứu tất cả các chế tài, là một đề tài rộng, có nhiều vấn đề.

đồng thương mại, chế tài thương mại, chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại; cơ sở
4


ban hành và nội dụng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng thương mại, chế tài thương mại
và chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại; Chỉ ra những bất cập trong quy định pháp
luật về phạt vi phạm hợp đồng thương mại và khó khăn trong thực tiễn áp dụng chế tài
phạt vi phạm hợp đồng thương mại; Đưa ra một số quan điểm hoàn thiện quy định pháp
luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại và kiến nghị một số giải pháp hoàn
thiện các quy định pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại.
*Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Khóa luận tập trung nghiên cứu quy định pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp
đồng thương mại từ khi Luật thương mại 2005 ra đời đến nay. Các quy định pháp luật
được nghiên cứu là các quy định về chế tài phạt vi phạm hợp đồng thương mại theo quy
định của pháp luật Việt Nam. Khóa luận nghiên cứu các bài viết của các nhà nghiên cứu
dựa trên quy định pháp luật về chế tài phạt vi phạm trong Luật thương mại 2005, so sánh
quy định của Luật thương mại 2005 với quy định của Bộ luật dân sự 2005 để làm rõ vấn
đề.
5. Phương pháp nghiên cứu
Bài khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp, so sánh,
đối chiếu thông tin. Dựa trên việc nghiên cứu các quy định trong Luật thương mại 2005,
Bộ luật dân sự 2005, các bài viết của các nhà nghiên cứu, khóa luận có liên quan đến chế
tài thương mại từ đó phân tích những quy định pháp luật về chế tài phạt vi phạm hợp
đồng thương mại trên các khía cạnh khác nhau. Từ những phân tích đã làm được sẽ đưa ra
những kết luận vấn đề nghiên cứu, kiến nghị một số giải pháp để hoàn thiện quy định về
chế tài phạt vi phạm hợp đồng
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận tốt nghiệp
bao gồm 3 chương:
Chương 1 - Một số vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng thương mại, chế tài thương

thì sẽ đảm bảo được sự công bằng trong quan hệ hợp đồng. Nguyên tắc tự do ký kết hợp
đồng đưa đến một hệ quả là hợp đồng khi đã được ký kết thì có giá trị bắt buộc thực hiện.
Việc thay đổi hợp đồng cũng chỉ có thể được thực hiện bởi sự thoả thuận của các chủ thể
trong hợp đồng và không ai có quyền can thiệp vào quan hệ của họ cũng như không có
quyền làm thay đổi ý chí của họ. Khi nói đến hợp đồng ta hiểu các chủ thể trong đó bình
đẳng cả về quyền và nghĩa vụ. Nhưng trên thực tế các bên tham gia ký kết hợp đồng
6


thường không ngang bằng nhau mà có một bên mạnh hơn và một bên yếu hơn về kinh tế.
Do đó không có sự tự do ký kết hợp đồng mà thường là một bên phụ thuộc vào ý chí của
bên kia, bằng việc thông qua hợp đồng do bên mạnh hơn định sẵn. Chính vì vậy, hợp
đồng không còn kết quả của sự thể hiện ý chí chung của các bên nữa mà nó trở thành hình
thức biểu hiện của sự bất bình đẳng giữa các bên với nhau. Do đó, đòi hỏi Nhà nước phải
can thiệp đến các quan hệ này thông qua pháp luật và chế định hợp đồng ra đời giữ một vị
trí rất quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng. Sự thay đổi từ quan điểm
đề cao lợi ích cá nhân sang đề cao lợi ích xã hội đã làm thay đổi các nguyên tắc này.
Thứ hai, hợp đồng là tập hợp những cam kết được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Chế định hợp đồng luôn tôn trọng sự tự do của các bên giao kết, song sự tự do đó
phải giới hạn trong khuôn khổ pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ bảo vệ những cam
kết không xâm hại đến trật tự pháp luật, trật tự công cộng. Xuất phát từ nguyên tắc cơ bản
trong quan hệ dân sự là tôn trọng quyền tự do ý chí của mọi cá nhân và các chủ thể khác
trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của mình, pháp luật các nước đều cho phép các chủ
thể được hoàn toàn tự do giao kết hợp đồng, miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã
hội. Việc hình thành các hạn chế của nguyên tắc tự do trong ký kết hợp đồng xuất phát từ
quan điểm bảo vệ trật tự công và lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, pháp luật sẽ bảo vệ lợi
ích và quyền của các bên song lợi ích này phải không được xâm hại đến trật tự và lợi ích
công.
Thứ ba, chế định hợp đồng mang tính bắt buộc song cũng hết sức linh hoạt, mềm
dẻo.

lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoạt động thương mại thực hiện
ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật này hoặc
luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hoạt động không nhằm mục
đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt
Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó áp dụng
luật này.
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến chế tài thương mại
(i) Khái niệm chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại
Chế tài thương mại và chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại là hai khái niệm
không hoàn toàn đồng nhất. Tuy nhiên, thực tiễn pháp lý ở Việt Nam vẫn có cách nhận
diện khác nhau về vấn đề này.
Theo nghĩa rộng, chế tài trong thương mại là những hình thức chế tài áp dụng với
các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại.
8


Hành vi vi phạm ở đây là hành vi xâm phạm trái pháp luật đến lợi ích của đối tác,
người tiêu dùng, xã hội và trật tự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại, bao gồm:
Thứ nhất, hành vi vi phạm được quy định tại Điều 320, Luật Thương mại (2005).
Theo đó, các hành vi vi phạm pháp luật về thương mại bao gồm:
+ Vi phạm các quy định về đăng ký kinh doanh; giấy phép kinh doanh của thương
nhân; thành lập và hoạt động của văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân Việt
Nam và của thương nhân nước ngoài.
+ Vi phạm các quy định về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trong nước và hàng hóa,
dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập; chuyển khẩu; quá
cảnh;
+ Vi phạm chế độ thuế, hóa đơn, chứng từ, sổ và báo cáo kế toán;
+ Vi phạm các quy định về giá hàng hóa, dịch vụ;
+ Vi phạm các quy định về nghi nhãn hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu;

phạm hợp đồng thương mại bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi pham, bồi
thường thiệt hại... Như vậy, hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại không chỉ bao
gồm các hành vi vi phạm chế độ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại, xâm phạm
trật tự quản lý hoạt động thương mại của Nhà nước (được quy định tại Điều 320, Luật
Thương mại (2005)) mà còn bao gồm những hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Phù
hợp với từng loại hành vi vi phạm, pháp luật hiện hành quy định các hình thức trách
nhiệm pháp lý với nhiều loại chế tài khác nhau. Theo nghĩa này, chế tài trong thương mại
có thể được áp dụng đối với mọi vi phạm pháp luật thương mại: từ những hành vi làm tổn
hại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích của người tiêu dùng như đầu cơ lũng đoạn thị
trường….đến các vi phạm pháp luật có tính chất “riêng tư” giữa các thương nhân, như
hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết trong hợp đồng. Những
hình thức chế tài được áp dụng trong các trường hợp này có thể là chế tài hành chính, chế
tài hình sự hoặc chế tài mang tính chất dân sự, phù hợp với tính chất của từng loại hành vi
vi phạm. Về phạm vi áp dụng, chế tài thương mại được áp dụng đối với mọi hành vi vi
phạm trong lĩnh vực thương mại. Chủ thể quyết định áp dụng biện pháp chế tài là cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quản lý Nhà nước đối với chế tài hành chính, Tòa án
đối với chế tài hình sự…) hoặc chính thương nhân bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng.
10


Theo nghĩa hẹp, chế tài thương mại là hình thức chế tài áp dụng đối với các chủ
thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các cam kết theo hợp
đồng, theo đó bên có hành vi vi phạm hợp đồng thương mại phải gánh chịu một hậu quả
pháp lý bất lợi do hành vi vi phạm đó gây ra.
Như vậy, chế tài thương mại (theo nghĩa hẹp) được hiểu đồng nghĩa với chế tài do
vi phạm hợp đồng thương mại. Theo Điều 292, Luật Thương mại (2005), các loại chế tài
trong thương mại bao gồm: Buộc thực hiện đúng hợp đồng; Phạt vi phạm; Buộc bồi
thường thiệt hại ; Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; Đình chỉ thực hiện hợp đồng; Hủy bỏ
hợp đồng; Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản
của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, đó là:
Một là, bên vi phạm phải dùng tiền (tài sản) thuộc quyền sở hữu hoặc quyền quản
lý của doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp Nhà nước) để thực hiện nghĩa vụ nộp phạt,
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không
đầy đủ cam kết trong hợp đồng. Việc nộp tiền phạt hay bồi thường thiệt hại được thực
hiện theo sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.
Hai là, bên vi phạm buộc phải có những chi phí hợp lý cần thiết để thực hiện nghĩa
vụ hợp đồng khi bên bị vi phạm áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng (ví dụ: chi phí
để sửa chữa sai xót, loại trừ khuyết tật của hàng hoá...)
Ba là, việc áp dụng các hình thức chế tài tạm ngừng, đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng
ít nhiều cũng ảnh hưởng đến lợi ích hạch toán của bên vi phạm.
Thứ ba, cơ sở phát sinh chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại là hành vi
vi phạm hợp đồng thương mại.
Hợp đồng có hiệu lực pháp luật trở thành “luật” đối với các bên, là cơ sở phát sinh
quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên. Việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng,
không đầy đủ những nghĩa vụ pháp lý đó được coi là hành vi vi pham hợp đồng đã ký kết.
Đối với hợp đồng có nội dung trái pháp luật, không có hiệu lực pháp luật thì không làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với các bên ngay từ thời điểm ký kết. Vì vậy, hành vi
không thực hiện hay thực hiện không đúng, không đầy đủ những cam kết trong hợp đồng
đó không được coi là sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và các bên không phải thực hiện
trách nhiệm hợp đồng.
Hành vi vi phạm được biểu hiện ở việc không thực hiện, thực hiện không đúng,
không đầy đủ các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Nếu các
12


quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng được thực hiện đầy đủ thì trách nhiệm hợp đồng không
được đặt ra. Tuy nhiên, hợp đồng có hiệu lực pháp luật và vi phạm hợp đồng chỉ là điều
kiện pháp lý để một bên có quyền yêu cầu bên kia thực hiện trách nhiệm hợp đồng. Trên
thực tế, bên có hành vi vi phạm hợp đồng có bị áp dụng chế tài hay không còn phải phụ

bên bị vi phạm là chủ thể được thụ hưởng trọn vẹn sự bù đắp mà bên vi phạm đã thực
hiện.
Thứ năm, chủ thể có quyền lựa chọn và quyết định áp dụng các hình thức chế tài
do vi phạm hợp đồng thương mại là bên bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng.
Khi có hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại, bên bị vi phạm có quyền yêu
cầu bên vi phạm thực hiện một hay nhiều hình thức chế tài theo sự cam kết trong hợp
đồng hoặc theo quy định pháp luật. Trường hợp yêu cầu thực hiện chế tài trong thương
mại không được đáp ứng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nội dung đơn khởi kiện chính là sự thể hiện quyền
lựa chọn và quyết định áp dụng các chế tài của bên bị vi phạm đối với bên vi phạm hợp
đồng thương mại đã ký kết. Trong khuôn khổ pháp luật, thương nhân bị vi phạm có thể
yêu cầu thương nhân có hành vi vi phạm thực hiện một phần nghĩa vụ tài sản. Tòa án hay
trọng tài khi được yêu cầu giải quyết tranh chấp phải tôn trọng quyền tự định đoạt của
nguyên đơn hoặc cũng có thể là yêu cầu phản tố của bị đơn. Việc tòa án hay trọng tài ban
hành phán quyết buộc bị đơn phải nộp tiền phạt hay tiền bồi thường thiệt hại thể hiện việc
những cơ quan này đã chấp nhận một phần hay toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Thực
chất, tòa án hay trọng tài không trực tiếp quyết định áp dụng hình thức chế tài nào, hay có
áp dụng chế tài hay không đối với bên vi phạm mà quyền quyết định thuộc về bên bị vi
phạm. Tòa án hay trọng tài đóng vai trò công nhận yêu cầu của đương sự.
1.1.3. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến chế tài phạt vi phạm hợp đồng
thương mại
Theo Luật Thương Mại (2005): “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên
vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận”
(Điều 300 Luật Thương Mại 2005).
Theo Bộ luật Dân sự (2005): “Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong
hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”
(Khoản 1, Điều 422 Bộ luật Dân Sự 2005).
Từ hai khái niệm trên, khi phân tích vào câu chữ, có thể thấy rằng đề cập đến phạt
vi phạm từ khi đó là “sự thỏa thuận” giữa hai bên, và điều khoản này nhằm đưa ra phần
nghĩa vụ mà bên còn lại phải thực hiện nếu bị vi phạm. Trong khi đó, theo Luật Thương

Anh Sơn, Tiến sỹ Lê Thị Bích Thọ, Một số ý kiến về phạt vi phạm hợp đồng theo quy
định của pháp luật Việt nam, Tạp chí Khoa học pháp lý số 01/2005, trang 42-48)
Thứ hai, khi có sự vi phạm thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng bởi vì bản chất của việc trả tiền phạt vi phạm là sự đền bù vật chất cho bên bị vi
15


phạm. Và sự đền bù vật chất này được quy định cụ thể với một % theo luật định. Theo
quan điểm của Tiến sỹ Dương Anh Sơn Và Tiến sỹ Lê Thị Bích Thọ, phạt vi phạm là một
trong hai hình thức của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng không thể mang tính trừng phạt
mà chỉ có chức năng đền bù. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng không coi tính
trừng phạt là chức năng của phạt vi phạm. Cách nhìn nhận này trong pháp luật của các
nước rõ ràng phù hợp với thực tiễn lưu thông dân sự và thương mại. Trong thực tiễn có
những trường hợp mặc dù có hành vi vi phạm hợp đồng nhưng thiệt hại không xảy ra, nếu
bên bị vi phạm trong trường hợp đó yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt đã thoả thuận trước
thì rõ ràng là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, vì đó là phần trách nhiệm mà
chính các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng (Tiến sỹ Dương Anh Sơn, Tiến sỹ Lê Thị
Bích Thọ, Một số ý kiến về phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt nam,
Tạp chí Khoa học pháp lý số 01/2005, trang 42-48.)
Nhằm bảo đảm phân biệt rõ giá trị pháp lý, ý nghĩa riêng biệt của mỗi điều khoản
(nhiều khi phải mất nhiều công sức qua đàm phán, thỏa thuận mới đạt được), cũng như
nhằm ngăn chặn hành vi lợi dụng, lạm dụng của một bên yêu cầu hủy bỏ giao dịch vì sự
vô hiệu của một điều khoản mà trong nhiều tình huống là không cần thiết và không bảo vệ
được quyền và lợi ích của bên (các bên) còn lại. Tuy nhiên đều này không có nghĩa là các
bên được quyền tự do thỏa thuận nội dung của điều khoản này mà nó còn tùy thuộc vào
luật điều chỉnh hợp đồng nơi mà pháp luật có thể có những quy định khác và chặt chẽ hơn
quyền của các bên khi thỏa thuận điều khoản vô hiệu , nhất là các quy định bảo vệ nguyên
tắc pháp luật quốc gia.
Thứ ba, phạt vi phạm hợp đồng có vai trò răn đe, ngăn chặn vi phạm hợp đồng
(trong trường hợp có vi phạm thì bên vi phạm sẽ phải nộp "phạt" không phụ thuộc vào

khẳng định trong mọi hệ thống pháp luật. Trong hệ thống pháp luật của một quốc gia,
pháp luật về hợp đồng giữ vị trí vô cùng quan trọng. Vai trò trung tâm của hợp đồng trong
hệ thống kinh tế và pháp luật không phải là ngẫu nhiên, đặc biệt là trong nền kinh tế thị
trường, nơi mà mọi hàng hoá, dịch vụ... phải được tự do lưu thông trên thị trường thì vai
trò của hợp đồng ngày càng được thể hiện rõ hơn, bởi lẽ trong các quan hệ hợp đồng thì ý
chí của các bên mang tính quyết định. Về mặt nguyên tắc, pháp luật tôn trọng ý chí của
các bên và chỉ can thiệp trong các trường hợp mà ở đó có sự giới hạn của pháp luật.
Theo quy định hiện hành có thể nhận diện hợp đồng trong thương mại theo một số
tiêu chí pháp lý chủ yếu như sau:
Về chủ thể hợp đồng: hợp đồng thương mại được thiết lập chủ yếu giữa các chủ thể
kinh doanh (chủ yếu là thương nhân). Theo quy định của Luật Thương mại (2005),
thương nhân bao gồm: tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động kinh
doanh một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Có những quan hệ hợp
17


đồng trong thương mại đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân, như: hợp đồng đại diện
cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại...
Có những hợp đồng thương mại chỉ đòi hỏi ít nhất một bên là thương nhân, như: hợp
đồng uỷ thác mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hoá, hợp đồng môi
giới thương mại, hợp đồng dịch vụ xây dựng, hợp đồng bảo hiểm ... Cá biệt, có những
hợp đồng thương mại không nhất thiết chủ thể hợp đồng phải là thương nhân, như: hợp
đồng giao kết giữa các chủ thể kinh doanh là những người bán hàng rong, quà vặt, buôn
chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp (những người này không phải
đăng ký kinh doanh, do đó họ không phải là thương nhân).
Về hình thức: Hợp đồng trong thương mại được thiết lập theo cách thức mà hai bên
thoả thuận, có thể được thể hiện bằng hình thức lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể.
Trong một số trường hợp, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp đồng bằng hình
thức văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương với văn bản (hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế, hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá, hợp

khác thì áp dụng quy định của luật đó. Hoạt động thương mại không được quy định trong
Luật Thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự.
1.2.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại
Chế tài thương mại là chế định cơ bản của pháp luật thương mại, có ảnh hưởng
trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng thương mại. Thông qua đó, các thương nhân có thể
điều tiết hành vi của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, qua đó, tạo ra sự ổn định
tương đối cho sự phát triển của nền kinh tế, bảo vệ được bên thiện chí, ngay tình trong các
hoạt động thương mại. Các chế tài này ngày càng được các bên sử dụng nhiều hơn như
một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của mình trong các quan hệ hợp đồng.
Theo điều 292 Luật Thương mại (2005) thì chế tài trong thương mại bao gồm các
chế tài sau:
Đầu tiên là chế tài “ Buộc thực hiện đúng hợp đồng”
Nội dung của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm buộc
bên vi phạm thực hiện đúng các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để
hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí tổn thất phát sinh.
Khi bên vi phạm giao hàng thiếu, cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng, bên bị
vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao đủ hàng, cung ứng dịch vụ đúng theo
thoả thuận trong hợp đồng. Nếu bên vi phạm giao hàng kém chất lượng, cung ứng dịch vụ
không đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm loại trừ khuyết tật
của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo
đúng hợp đồng. Trường hợp bên vi phạm không thực hiện yêu cầu thực hiện đúng hợp
19


đồng, bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác theo
đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải bù chênh lệch giá.
Bên bị vi phạm cũng có thể tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và
yâu cầu bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý (Điều 297, Luật Thương mại
(2005)
Bên có quyền lợi bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng không chỉ là bên mua hàng

Nội dung của chế tài bồi thường thiệt hại là bên vi phạm phải trả cho bên bị vi
phạm giá trị vật chất bị tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng của mình gây ra.
Về nguyên tắc, bên vi phạm phải “bồi thường toàn bộ” những thiệt hại vật chất cho
bên bị vi phạm, không giới hạn bởi giá trị hợp đồng. Tuy nhiên, các khoản thiệt hại đòi
bồi thường phải nằm trong phạm vi được pháp luật ghi nhận. Việc bồi thường thiệt hại
được tiến hành theo nguyên tắc “bồi thường toàn bộ”, do vậy mà có những trường hợp số
tiền bồi thường của một bên lớn hơn cả giá trị hợp đồng đã bị vi phạm. Toàn bộ thiệt hại
bao gồm: giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm
gây ra, chi phí ngăn chặn hạn chế hậu quả của vi phạm, khoản lợi trực tiếp mà bên bên bị
vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
Thứ ba là các chế tài “Tạm ngừng thực hiện hợp đồng”, “Đình chỉ thực hiện
hợp đồng”, “Hủy bỏ hợp đồng.”
Chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và huỷ bỏ hợp
đồng thể hiện sự tự vệ và thái độ phản ứng trực tiếp của bên bị vi phạm đối với bên vi vi
phạm hợp đồng.
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng: là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa
vụ trong hợp đồng. Khi hợp đồng thương mại bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn
còn hiệu lực.
Đình chỉ thực hiện hợp đồng: là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng. Khi hợp đồng thương mại bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực từ
thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc
thực hiện nghĩa vụ đối ứng.
Huỷ bỏ hợp đồng: là sự kiện pháp lý mà hậu quả của nó làm cho nội dung hợp
đồng bị huỷ bỏ không có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Huỷ bỏ hợp đồng có thể là huỷ
bỏ một phần hợp đồng hoặc huỷ bỏ toàn bộ hợp đồng.
Huỷ bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng,
các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status