một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu trong doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu
Kinh doanh thơng mại quốc tế là hình thức mua bán hàng hoá dịch vụ giữa
các cá nhân, tập thể, doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau nhằm thu đợc lợi
nhuận.
Mục đích của kinh doanh thơng mại quốc tế là nhằm tối đa hoá hoặc ổn định
lợi nhuận của doanh nghiệp thông qua mở rộng thị trờng tiêu thụ, bù đắp các chi
phí đầu t, thực hiện giảm chi phí đầu t theo qui mô và tìm kiếm nguồn nhân lực,
lợi thế từ nớc ngoài... Nhờ phát triển kinh doanh ra thị trờng quốc tế các doanh
nghiệp có thể tận dụng tối đa các năng lực sản xuất đã đầu t, tăng hiệu quả kinh
doanh nhờ tăng số lợng sản phẩm bán ra khắp toàn cầu, tận dụng chi phí lao động
rẻ, chi phí năng lợng, nguyên liệu thấp ... Cho phép doanh nghiệp có thêm một số
chiến lợc cạnh tranh với phạm vi đa quốc gia mà các doanh nghiệp kinh doanh
nội địa không có đợc. Hoạt động kinh doanh thơng mại của doanh nghiệp chủ yếu
thông qua xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá.
Vậy xuất khẩu hàng hoá là gì? nó có vai trò nh thế nào trong nền kinh tế
quốc dân?
I. Khái niệm, vai trò và các nhân tố ảnh hởng tới hoạt động xuất khẩu trong nền
kinh tế quốc dân .
1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu :
Hoạt động xuất khẩu là quá trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc
gia và lấy ngoại tệ làm phơng tiện thanh toán. sự trao đổi mua bán hàng hoá là
một hình thức của các mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về
kinh tế giữa những ngời sản xuất hàng hoá riêng biệt của từng quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế
xét có điều kiện không gian và thời gian. Nó không phải là những hành vi mua
bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thơng mại
có tổ chức cả bên trong và bên ngoài đất nớc nhằm thu đợc ngoại tệ, những lợi ích
kinh tế xã hội, thúc đẩy hoạt động sản xuất hàng hoá trong nớc phát triển, góp
phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế và từng bớc nâng cao đời sống nhân dân. Các mối
quan hệ này xuất hiện khi có sự phân công lao động quốc tế và chuyên môn hoá
với quốc gia chủ thể và nó chỉ ra những lĩnh vực, sản phẩm có thể chuyên môn
hoá đợc, những công nghệ và t liệu sản xuất ở trong nớc còn thiếu để sản xuất ra
những sản phẩm xuất khẩu đạt đợc chất lợng quốc tế. Vì thế, nó đóng vai trò quan
trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới nhằm mục tiêu phát triển đất nớc mở
rộng quan hệ đối ngoại. Xuất khẩu có những vai trò sau:
2.1) Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ quốc tế trong nớc.
Xuất khẩu vừa mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại vừa làm cho nền kinh
tế trong nớc gắn chặt với phân công lao động quốc tế . Thông thờng họat động
xuất khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại nên nó thúc đẩy các
quan hệ này phát triển .Nh xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan
hệ tín dụng, đầu t, vận tải quốc tế ...phát triển. Đến lợt mình, các quan hệ kinh tế
đối ngoại tạo tiền đề mở rộng xuất khẩu.
2.2)Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu.
Vì quá trình công nghiệp hoá đất nớc phát triển, ổn định nền kinh tế đòi hỏi
phải có một lợng vốn tơng đối lớn để nhập khẩu máy móc, trang thiết bị, kỹ thuật,
vật t, công nghệ tiên tiến...Mà nguồn vốn dùng cho nhập khẩu hình thành từ :
- Vay nợ, viện trợ.
- Liên doanh, đầu t từ nớc ngoài.
- Thuế
- Xuất khẩu.
- Từ các hoạt động du lịch, dịch vụ.
- Trong các nguồn trên, thì chỉ có xuất khẩu là nguồn chính cho nhập khẩu và
quyết định đến qui mô, tốc độ của hoạt động nhập khẩu .
2.3) Xuất khẩu góp phần tạo ra việc làm và cải thiện đời sống cho nhân dân.
Hoạt động xuất khẩu phát triển tạo cơ hội mở rộng sản xuất, thu hút nguồn
lao động d thừa trong xã hội, tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng
phục vụ đời sống của nhân dân.
2.4)Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hớng
ngoại.
Thay đổi cơ cấu kinh tế và tiêu dùng một cách có lợi nhất là một trong những
Hoạt động xuất khẩu diễn ra khi có sự tham gia của các chủ thể ở các quốc
gia khác nhau. ở mỗi quốc gia đều có bộ luật riêng, trình độ luật pháp hành pháp,
t pháp, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế ở các quốc gia đó. Các yếu tố
pháp luật này không chỉ chi phối tới tất cả các hoạt động kinh doanh quốc tế.
Nh vậy để có thể tham gia vào hoạt động thơng mại quốc tể thì trớc hết
doanh nghiệp phải hiểu rõ môi trờng luật pháp ở chính quốc gia đó và quốc gia
của đối tác cùng các thông lệ quốc tế hiện hành vì chính các yếu tố đó có thể tạo
điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trờng, tạo ra những cơ hội mới cho các
doanh nghiệp để tăng doanh số bán hàng, tăng lợi nhuận kinh doanh, khai thác đ-
ợc các cơ hội trong kinh doanh, mở rộng hoạt động kinh doanh trên thị trờng thế
giới.
3.2. Yếu tố chính trị
Chính trị là tổng thể các quan điểm, các phơng pháp hoạt động thực tế nhất
định của Đảng, Nhà nớc, của giai cấp. Nó bao gồm cả yếu tố khách quan và yếu
tố chủ quan. Vì vậy, chính trị cũng có thể cản trở quá trình quốc tế hoá các hoạt
động kinh doanh phát triển theo hớng nhất định.
Việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan thiết lập các quan hệ là
sự tác động mang tính tích cực, làm tăng cờng sự liên kết các thị trờng và thúc đẩy
tốc độ tăng trởng của hoạt động xuất khẩu.
Chính sách của chính phủ đặt ra để bảo vệ các doanh nghiệp trong nớc và thị
trờng nội địa khỏi sự cạnh tranh của nớc ngoài với các chính sách kinh tế có lợi
cho doanh nghiệp trong nớc bằng các hình thức nh hàng rào thuế quan.
Nhng ngợc lại sự không ổn định về chính trị sẽ làm chậm tốc độ tăng trởng
kinh tế và bóp nghẹt các mối giao lu về công nghệ. Nhiều nơi trên thế giới hiện
nay có sự bất ổn về chính trị và cuộc chiến tranh sắc tộc diễn ra mạnh mẽ, tại đây
sự an toàn trong kinh doanh là không cao hoặc không có. Điều này đã và đang sẽ
buộc các doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động kinh doanh trên thị trờng và
phân bổ lại nguồn lực sang thị trờng khác có độ an toàn cao hơn.
Với các yếu tố chính trị có ảnh hởng đến việc mở rộng phạm vi tiêu thụ sản
phẩm và mở ra các cơ hội kinh doanh mói cho các doanh nghiệp. Song chính các
luỹ.
Khoa học công nghệ tạo điều kiện cho cả doanh nghiệp có đợc sự nhậy bén
trong việc nhận biết các thông tin, sự kiện đang xẩy ra xung quanh giúp cho
doanh nghiệp tìm hiểu và nắm bắt chíng xác về bạn hàng, khách hàng, đối tác làm
ăn và các phơng diện, từ đó có thể hạn chế đợc sự rủi ro trong kinh doanh. Mặt
khác doanh nghiệp có thể áp dụng thành tựu khoa học công nghệ vào việc thiết kế
và cải tiến sản phẩm, phân tích và dự báo xu thế biến động của thị trờng và kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Khi có sự đào tạo chuyên môn sâu tới mức
chuyên môn hoá cao hơn để tăng năng suất lao động hạ giá thành sản phẩm, giữ
đợc thế cạnh tranh trên thị trờng.
3.5. Yếu tố văn hoá - xã hội
Văn hoá - Xã hội là tổng thể các đặc trng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri
thức và tình cảm ...khắc hoạ nên bản sắc văn hoá của một gia đình, cộng đồng,
làng xóm, vùng miền, quốc gia, xã hội....Văn hoá chính là toàn bộ của cải vật
chất, tinh thần do con ngời tạo ra trong lịch sử để vơn tới cái đúng,cái đẹp,cái hợp
lí và sự phát triển bền vững, an toàn cho cộng đồng, nhân loại, xã hội. Nói cách
khác văn hoá là nền tảng tinh thần của XH, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc
đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Do đó văn hoá là một trong những yếu tố có tác động mạnh mẽ tới nhu cầu
thị trờng, nó có tính chất quyết định tới hoạt động kinh doanh xuất khẩu của các
doanh nghiệp thơng mại.
Hoạt động xuất khẩu đợc coi là hoạt động hết sức phức tạp vì nó chịu sự tác
động của nền văn hoá xã hội của nhiều quốc gia có quan hệ ngoại thơng. Vì vậy
để mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải quan tâm
nghiên cứu sản xuất các sản phẩm phù hợp với các yếu tố văn hoá của quốc gia
địa phơng đó.
3.6. Các yếu tố về tỉ giá hối đoái
Trong hoạt động thơng mại quốc tế thờng lấy ngoại tệ làm phơng tiện thanh
toán. Do đó, tỉ giá hối đoái có ảnh hởng rất lớn đối với hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu vì tỉ giá hối đoái đợc dùng để tính giá trị giữa các đồng tiền khác nhau
kinh doanh mà còn ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
3.7.3. Nguồn lực trong doanh nghiệp
Các nguồn lực trong doanh nghiệp gồm nguồn lực con ngời, nguồn vốn kinh
doanh, nguồn tài sản cố định nh các thiết bị văn phòng, máy móc, phân xởng...
Hoạt động xuất khẩu chỉ có thể tiến hành khi đã có sự nghiên cứu về thị tr-
ờng nh: nghiên cứu hàng hoá, bạn hàng đối tác, phơng thức giao dịch, đàm phán
kí kết hợp đồng. Do đó vấn đề là phải có một đội ngũ cán bộ kinh doanh có
chuyên môn trong lĩnh vực này, họ có khả năng phân tích và giải quyết các thủ tục
hành chính trong xuất khẩu. Đồng thời doanh nghiệp vẫn cần có một đội ngũ cán
bộ có khả năng kinh nghiệm trong việc thu gom đóng gói bảo quản hàng hoá, kết
hợp với đội ngũ cán bộ thị trờng để tìm kiếm bạn hàng, quảng cáo tạo ra một sức
mạnh thúc đẩy hoạt động xuất khẩu phát triển.
3.8 Các yếu tố thuộc về sản phẩm
Trớc đây các doanh nghiệp thờng sản xuất những cái gì mà mình có và theo
đơn đặt hàng, chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nớc. Cùng với sự thay đổi của thời gian,
nền kinh tế đã chuyển sang cơ chế thị trờng muốn đợc tồn tại và phát triển doanh
nghiệp cần phải quán triệt việc sản xuất cái gì ngời mua cần. Hoạt động xuất khẩu
cũng đòi hỏi nh vậy, không thể xuất khẩu những gì mình sản xuất đợc, mà xuất
khẩu những cái gì mà thị trờng cần xuất khẩu chỉ có thể phát triển nhanh chóng,
mạnh mẽ khi sản phẩm xuất khẩu đáp ứng đợc nhu cầu và mong muốn của khách
hàng.