Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế hoạch và quản trị kế hoạch sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường - Pdf 67

Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế hoạch và quản trị kế hoạch sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
I. Thực chất và nôi dung của kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
1. Thực chất kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1. Hoạt động sản xuất kinh doanh
Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình
đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lợi.(1)
Như vậy kinh doanh không chỉ bao gồm các hoạt động thương mại (Theo
cách hiểu truyền thống) mà có nội dung rất rộng bao gồm: Đầu tư, sản xuất
chế biến, các hoạt động thương mại gắn với sản xuất, chế biến, hoạt động
thương mại thuần tuý.
Sản xuất là hoạt động tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao
động tác động vào đối tượng lao động.
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong dó sản phẩm sản
xuất ra để trao đổi, để bán trên thị trường. Do vậy, sản xuất kinh doanh phải
gắn liền với thị trường, không có thị trường thì không có khái niệm kinh
doanh.
Hoạt động sản xuất kinh doanh phải gắn liền với vận động của đồng vốn.
Chủ thể kinh doanh không chỉ có vốn mà còn cần phải biêt cách thực hiện vận
động đồng vốn đó không ngừng. Nếu gạt bỏ nguồn gốc bóc lột trong công thức
tư bản của C.Mac có thể xem công thức này là công thức kinh doanh T-H-SX...H’-
T’: chủ thể kinh doanh dùng vốn của mình dưới hình thức tiền tệ (T) mua
những tư liệu sản xuất (H) để sản xuất (SX) ra những hàng hoá (H’) theo nhu
cầu của thị trường nhằm thu được số tiền lớn hơn (T’).
Mục đích của kinh doanh chủ yếu là sinh lợi- lợi nhuận (T’-T>0).
1.2. Thực chất của kế hoạch sản xuất kinh doanh
Kế hoạch sản xuất kinh doanh là một công cụ quản lý của các doanh nghiệp
và tổ chức kinh tế nhằm đem lại hiệu qủa cho các doanh nghiệp và tổ chức đó.
Cũng như mọi phạm trù quản lý khác, công tác kế hoạch có nhiều cách tiếp

Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp chỉ là những chi tiêu pháp lệnh Nhà nước giao cho các đơn vị.
Cùng với các chỉ tiêu đó, Nhà nước quy định giá bán, điạ điểm tiêu thụ, ba vấn
đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp đều do Nhà nước quy định. Do vậy nhiều xí
nghiệp hoạt động không có tính sáng tạo, tự chủ, không kích thích sản xuất
phát triển.
Khi chuyển sang mô hình kinh tế hỗn hợp, cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, kế hoạch là khâu đầu tiên, là bộ phận quan trọng của công tác
quản lý. Không có kế hoạch, một doanh nghiệp hay bất kỳ tổ chức nào sẽ như
con thuyền không lái, chỉ chạy vòng quanh vì chẳng ai biết nó định đi tới đâu.
Hoạt động kế hoạch hoá giúp các doanh nghiệp chủ động hoạch định các mục
tiêu cũng như thực hiện chúng. Nó giúp cho mọi người biết mục tiêu cần đạt
được và cần phải làm gì để thực hiện mục tiêu đó. Thiếu kế hoạch doanh
nghiệp sẽ không tiến tới mục tiêu một cách hữu hiệu. Hơn nữa nó vạch ra
những tác động quản trị nhằm đối phó với các khó khăn khác nhau theo thời
gian (tuỳ thuộc vào thời gian của chiến lược, chương trình, dự án kế hoạch tác
nghiệp...) là công cụ để điều hành và chỉ huy sản xuất, là cơ sở xác định nhiệm
vụ và mối quan hệ công tác giữa các bộ phận và giữa những người lao động
trong quá trình thực thi các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.
(1) Văn bản luật kinh tế nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam

(2) Văn kiện Đại Hội Đảng VIII
Kế hoạch hoá góp phần giúp doanh nghiệp giành thắng lợi trong cạnh tranh
bằng cách xây dựng các kế hoạch khai thác triệt để lợi thế so sánh, tập trung
các biện pháp tận dụng thế mạnh của doanh nghiệp. Kế hoạch sản xuất kinh
doanh bảo đảm sự an toàn, chống rủi ro kinh doanh cho các doanh nghiệp
thông qua việc định ra những vùng an toàn, trong đó khả năng rủi ro vẫn có
thể xảy ra nhưng chỉ là thấp nhất. Các kế hoạch dự phòng cho phép ứng đối
một cách nhanh nhạy với những thay đổi trước đây chưa lường hết được. Tuy
vậy cần tránh tư tưởng được ăn cả ngã về không. Khi xây dựng kế hoạch

kế hoạch sản xuất kinh doanh, là cơ sở để xây dựng kế hoạch hàng năm. Mặt
khác thông qua việc lập kế hoạch hàng năm, có thể phát hiện những chỗ chưa
cân đối, không hợp lý của kế hoạch chiến lược thể hiện trong nhiệm vụ và nội
dung của kế hoạch hàng năm, có thể phát hiện những chỗ chưa cân đối,
không hợp lý của kế hoạch chiến lược để kịp thời điều chỉnh và có những biện
pháp thích hợp.
- Nếu căn cứ vào mối quan hệ gắn bó giữa các loại hoạt động kế hoạch hoá
thì hệ thống kế hoạch bao gồm:
+ Bộ phận kế hoạch mục tiêu là bộ phận quan trọng nhất nhằm hoạch định
các mục tiêu chính sách giải pháp về sản phẩm, thị trường, quy mô và cơ cấu
hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó cũng xác định các chỉ tiêu tài chính cơ bản
nhằm xác định hiệu quả của sản xuất kinh doanh gắn với từng phương án
được hoạch định.
+ Các kế hoạch điều kiện hay hỗ trợ nhằm xác định các mục tiêu, giải pháp
phương án huy động, khai thác các khả năng và nguồn lực nhằm thực hiện có
hiệu quả các phương án kế hoạch mục tiêu. Việc xác định kế hoạch này căn cứ
và gắn bó với kế hoạch mục tiêu nhằm đảm bảo tính đồng bộ trong mục tiêu,
giải pháp, điều kiện thực hiện các hoạt động kế hoạch hoá và quản lý. độ dài về
thời gian và yêu cầu của kế hoạch mục tiêu sẽ quyết định các vấn đề tương ứng
của kế hoạch điều kiện. Hơn nữa, việc xây dựng và thực hiện kế hoạch điều
kiện là nhằm đảm bảo và nâng cao tính khả thi của phương án và chương
trình kế hoạch của doanh nghiệp.
3.2.Nội dung của kế hoạch sản xuất kinh doanh
- Nội dung của kế hoạch dài hạn là xác định một cách đúng đắn các chỉ tiêu
quan trọng nhất như mặt hàng, cơ cấu mặt hàng và sản lượng mặt hàng; khối
lượng vật tư kỹ thuật; tổng số công nhân viên chức; tổng quỹ tiền lương và
nhịp độ tăng năng suất lao động; chỉ tiêu tiến bộ khoa học kỹ thuật; vốn đầu tư
cơ bản, mức độ cải thiện đời sống công nhân viên chức.
Nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch dài hạn là nghiên cứu và đưa và áp dụng
các biện pháp tích cực, thích hợp nhằm huy động hợp lý và có hiệu quả đến

và mở rộng sản xuất kinh doanh trên cơ sở xác định hợp lý vốn đầu tư cho xây
dựng cơ bản và sưả chữa tài sản cố định của doanh nghiệp. Nội dung của kế
hoạch được thể hiện qua các chỉ tiêu về xây dựng cơ bản.
+ Kế hoạch giá thành sản phẩm: là kế hoạch đảm bảo việc xác định hợp lý và
tiết kiệm các loại chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm. Nội dung bao gồm
các chỉ tiêu như: giá thành đơn vị sản phẩm chủ yếu, giá thành toàn bộ, tỷ lệ
giá thành...
+ Kế hoạch tài chính: là kế hoạch tổng hợp toàn bộ kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp dưới hình thức tiền tệ. Nó phản ánh tổng
chi phí cho các dự án, hiệu quả kinh tế sẽ đạt được của dự án đó... nội dung
gồm các chỉ tiêu khấu hao tài sản cố định, định mức vốn lưu động, các chỉ tiêu
luân chuyển vốn lưu động.
+ Kế hoạch đời sống: là bộ phận kế hoạch phản ánh mức độ cải thiện đời sống
của công nhân viên chức, mức độ sử dụng quỹ phúc lợi.
Các bộ phận kế hoạch trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy khi xây
dựng cũng như khi chỉ đạo thực hiện phải chú ý đến các mối quan hệ đó.
II. Những nội dung chủ yếu của quản trị kế hoạch sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
1. Những nội dung chủ yếu của quản trị quá trình xây dựng kế hoạch của
doanh nghiệp .
1.1.Xác lập các căn cứ và các bước xây dựng kế hoạch phù hợp với đặc điểm
của doanh nghiệp
Để xây dựng kế hoạch, mọi doanh nghiệp phải phân tích và xác lập những
căn cứ cần thiết bao gồm các căn cứ chủ yếu sau:
- Quán triệt các định hướng phát triển, chính sách chế độ của Nhà
nước có liên quan đến lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Mô hình kinh tế phát triển theo tinh thần nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ
VII nêu rõ “nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(2) thì trước khi
trực tiếp điều tiết và hướng dẫn hoạt động của doanh nghiệp thị trường đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status