BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TỔNG CỤC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
ĐỀ CƯƠNG
“DỰ ÁN TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI”
Tháng 11/2015
MỤC LỤC
I. Tên Dự án ................................................................................................................... 1
II. Tên nhà tài trợ .......................................................................................................... 1
III. Tên cơ quan chủ quản, chủ dự án ......................................................................... 1
IV. Thời gian thực hiện dự án ...................................................................................... 1
V. Bối cảnh và sự cần thiết của dự án.......................................................................... 1
V.1. Sự cần thiết, vai trò, vị trí của Dự án trong quy hoạch, kế hoạch phát triển của
đất nước và ngành .......................................................................................................... 1
V.1.1. Bối cảnh................................................................................................................................ 1
V.1.2. Sự cần thiết phải thực hiện dự án ...................................................................................... 2
V.2. Khái quát các chương trình, dự án khác đã và đang thực hiện bằng những
nguồn vốn khác nhau nhằm mục đích hỗ trợ giải quyết các vấn đề có liên quan ...... 6
V.3. Nhu cầu tài trợ dự án bằng nguồn ODA và vốn vay ưu đãi ............................... 10
VI. Cơ sở đề xuất nhà tài trợ ...................................................................................... 12
VII. Mục tiêu của dự án .............................................................................................. 13
VII.1. Mục tiêu tổng quát ............................................................................................................. 13
VII.2. Mục tiêu cụ thể ................................................................................................................... 13
VIII. Đối tượng thụ hưởng của dự án ........................................................................ 14
IX. Tóm tắt các kết quả chủ yếu của dự án............................................................... 14
IX.1. Kết quả chính của dự án ..................................................................................... 14
quản lý, sử dụng đất ....................................................................................................... 46
PHỤ LỤC 04 Dự kiến nội dung Tiểu hợp phần 2.1 “Nâng cấp, hoàn thiện và triển
khai phần mềm cho Hệ thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu (MPLIS) ........... 48
PHỤ LỤC 05 Dự kiến nội dung Tiểu hợp phần 2.2.“Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai
quốc gia” ........................................................................................................................ 57
PHỤ LỤC 06 Dự kiến nội dung Tiểu hợp phần 2.3. “Tăng cường sự tham gia của
người dân, doanh nghiệp và liên thông dữ liệu giữa các cấp, các ngành” .................... 63
PHỤ LỤC 07 Dự kiến nội dung Tiểu hợp phần 3.2 “Hỗ trợ theo dõi và đánh giá dự
án” .................................................................................................................................. 67
PHỤ LỤC 08 Dự kiến nội dung Tiểu hợp phần 3.3 Quỹ sáng tạo............................... 70
PHỤ LỤC 09 Các tiêu chí lựa chọn địa bàn tham gia dự án......................................... 74
PHỤ LỤC 10 Dự kiến địa bàn các huyện tham gia thực hiện Dự án........................... 76
TỪ VIẾT TẮT
BCĐQG Ban Chỉ đạo Quốc gia
BQLDA Ban Quản lý dự án
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
CNTT Công nghệ thông tin
CSDL Cơ sở dữ liệu
DVKT Dịch vụ kỹ thuật
GCN Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở và
tài sản gắn liền trên đất
IDA Vốn vay ưu đãi của Hiệp hội phát triển quốc tế
IT Công nghệ Thông tin
KOICA Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc
LIS Hệ thống thông tin đất đai
M&E Theo dõi và Đánh giá
MIS Hệ thống thông tin quản lý
bộ đáng kể trong phát triển kinh tế, xã hội và giảm nghèo. Công cuộc đổi mới
kinh tế đã đưa Việt Nam từ một nước nghèo với GDP đầu người dưới 100 Đô-la
Mỹ/năm (năm 1993) trở thành nước có thu nhập trung bình đầu người 1730 Đôla Mỹ/năm vào cuối năm 2013. Tỷ lệ người nghèo cũng giảm từ 58% xuống còn
10%. Phần lớn các chỉ tiêu an sinh xã hội đã được cải thiện đáng kể.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế phát triển chậm lại do biến động
kinh tế thế giới kết hợp với sự mất cân bằng trong nước. Mặc dù Chính phủ đã
triển khai tái cơ cấu trên những lĩnh vực trọng yếu để tìm hướng phát triển, vẫn
tồn tại nhiều rủi ro trong trung và dài hạn ảnh hưởng đến khả năng ổn định kinh
tế. Tốc độ xóa đói giảm nghèo chậm lại với tình trạng đói nghèo ngày càng tập
trung vào các nhóm các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ và dân tộc thiểu số.
Các hộ gia đình dễ bị thương tổn hơn vì các biến động kinh tế vĩ mô, thiên tai và
suy thoái môi trường. Việc đối phó với các thách thức này gặp khó khăn do tiến
bộ trong quản lý, điều hành và thực thi trách nhiệm giải trình của các cơ quan
nhà nước trước người dân về những quyết định hành chính của mình còn chậm
1
so với các thành tựu phát triển kinh tế.
b) Bối cảnh ngành quản lý đất đai
Với tổng diện tích khoảng 33 triệu ha (trong đó có 25 triệu ha đất nông,
lâm nghiệp) và 90 triệu dân (năm 2014), tài nguyên đất đai tính theo đầu người
của Việt Nam thuộc loại thấp nhất trên thế giới. Chính phủ đã tiến hành nhiều
biện pháp để đảm bảo giao đất, công nhận quyền sử dụng đất một cách công
bằng cho các hộ sử dụng đất quy mô nhỏ. Điều này đã được thế giới công nhận
là một động lực chính dẫn đến tốc độ phát triên kinh tế và xóa đói giảm nghèo
nhanh ở Việt Nam. Trong 20 năm qua, khoảng 42 triệu Giấy Chứng nhận Quyền
Sử dụng Đất và Sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất (GCN) được cấp chủ
yếu là cho các hộ gia đình sử dụng đất quy mô nhỏ, với tổng diện tích đạt 23
triệu ha. Trong đó khoảng 20 triệu GCN có tên người sử dụng đất là nữ giới (với
tư cách cá nhân sử dụng đất hoặc người đồng sử dụng đất với chồng). Mặc dù
ngành quản lý đất đai vẫn tiếp tục là hạn chế cơ bản, khoảng cách giữa khung
chính sách và hiệu quả thực thi pháp luật vẫn còn khá lớn, đặc biệt, khung chính
sách không được thực thi một cách thống nhất giữa các địa phương trong cả
nước.
Một trong những nguyên nhân chính gây ra hạn chế về năng lực thực thi
ở các cơ quan quản lý đất đai là do các cơ quan này chưa có đủ năng lực và các
công cụ cần thiết để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao, đặc biệt là
năng lực và các công cụ để vận hành hệ thống quản lý đất đai dựa trên nền tảng
công nghệ thông tin hiện đại. Hạ tầng thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai
quốc gia – yếu tố cốt lõi để hỗ trợ vận hành công tác chuyên môn, cải cách thủ
tục hành chính cũng như phục vụ cho việc phối, kết hợp với các bên có liên
quan khác – vẫn còn vừa thiếu vừa yếu kém. Thông tin đăng ký đất đai vẫn chưa
hoàn thiện và độ tin cậy thấp, nhu cầu khai thác về thông tin đất đai chưa được
đáp ứng đầy đủ; hệ thống cung cấp dịch vụ công về đất đai vẫn còn nhiều bất
cập do thiếu khung pháp lý, nhân lực yếu, trang thiết bị làm việc và nguồn lực
tài chính thiếu; chưa xây dựng được hệ thống theo dõi, đánh giá hiệu quả,…
Đảng và Chính phủ đã có một loạt các quyết sách nhằm xây dựng và vận
hành một hệ thống thông tin đất đai hiệu quả, trong đó ưu tiên cho việc xây
dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia và triển khai hệ thống thông tin đất đai quốc
gia đa mục tiêu thống nhất trên cả nước. Hệ thống thông tin đất đai quốc gia,
thống nhất, đa mục tiêu với các quy trình nghiệp vụ được chuẩn hóa, thực hiện
thao tác trực tuyến (online) sẽ nâng cao tính hiệu quả của công tác chuyên môn,
cũng như cho phép chia sẻ và tiếp cận rộng rãi hơn đối với các thông tin đất đai,
không chỉ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, mà cả khu vực tư nhân và người
dân. Hệ thống này cũng cho phép các bên có liên quan tiếp cận dễ dàng, minh
bạch, công bằng hơn các thông tin và dịch vụ đất đai, từ đó, hỗ trợ hiệu quả cho
quá trình ra quyết định của các cơ quan nhà nước, hỗ trợ cho việc lập kế hoạch,
quản lý, theo dõi và giám sát việc sử dụng tài nguyên đất, hỗ trợ quá trình cải
cách hành chính và phát triển thị trường đất đai, thị trường bất động sản.
Vai trò, tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng hệ thống thông tin và cơ
bất động sản.
- Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 8/6/2012 của Chính phủ ban hành
chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-TƯ ngày 16/01/2012
của Ban chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng hệ thống kết cậu hạ tầng
đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
đại vào năm 2020; trong đó, để thực hiện định hướng phát triển hạ tầng thông
tin, Nghị quyết đã xác định:
• Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công dân, đất đai, nhà ở, doanh
nghiệp, làm cơ sở cho việc ứng dụng công nghệ thông tin quản lý các nguồn lực
phát triển đất nước. Đẩy nhanh tiến trình thực hiện thẻ công dân điện tử, Chính
phủ điện tử và cam kết ASEAN điện tử.
• Giao Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chủ quản xây dựng cơ
sở dữ liệu quốc gia về đất đai với thời gian thực hiện 2012-2020.
- Quyết định số 1892/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
14/12/2012 về việc Phê duyệt Đề án nâng cao năng lực quản lý nhà nước ngành
quản lý đất đai giai đoạn 2011-2020 có nêu nhiệm vụ:
4
• Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước
về đất đai thông qua việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách,
pháp luật về đất đai; Đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Xây dựng hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai; Thực hiện cải cách
hành chính trong lĩnh vực đất đai.
• Kiện toàn hệ thống tổ chức ngành Quản lý đất đai theo hướng quản lý
thống nhất, đủ năng lực thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước và các dịch
vụ công về đất đai.
• Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Quản lý đất đai.
Hệ thống cơ sở chia sẻ dữ liệu thông tin chung về bất động sản.
- Quyết định số 714/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
22/5/2015 về việc ban hành Danh mục cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia cần ưu
tiên triển khai tạo nền tảng phát triển chính phủ điện tử bao gồm 6 cơ sở dữ liệu
gồm CSDL quốc gia về dân cư, CSDL đất đai quốc gia, CSDL quốc gia về đăng
ký doanh nghiệp, CSDL quốc gia về thống kê tổng hợp và dân số, CSDL quốc
gia về tài chính và CSDl Quốc gia về bảo hiểm. Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi
trường được giao các nhiệm vụ sau: (1) Đề xuất xây dựng mới, hoặc điều chỉnh,
bổ sung trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các
văn bản quy phạm pháp luật về cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; (2) Triển khai xây
dựng cơ sở dữ liệu quốc gia; (3) Thực hiện quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu quốc
gia; (4) Tổ chức khai thác, cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia.
- Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 01/9//2015 của Thủ tướng Chính phủ về
đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và
môi trường, trong đó có một số yêu cầu:
• Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước; tăng
cường cung cấp dịch vụ công trực tuyến; khẩn trương hoàn thành xây dựng, vận
hành cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi trường, trong đó tập trung hoàn thành
việc xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đất đai đa mục tiêu theo chỉ đạo
của Chính phủ; tiếp tục triển khai nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thông tin tài
nguyên và môi trường.
• Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng
cơ chế tài chính cho hoạt động cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực
tài nguyên và môi trường; ưu tiên bố trí đủ kinh phí xây dựng hệ thống thông
tin, cơ sở dữ liệu đất đai.
• Chú trọng lồng ghép và liên thông thủ tục hành chính giữa các lĩnh
vực tài nguyên và môi trường với các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, tài chính, xây
dựng và các lĩnh vực khác có liên quan.
Nguồn vốn để triển khai thực hiện các nhiệm vụ nêu trên sẽ được huy
động từ: (1) Ngân sách Nhà nước; (2) Ngân sách địa phương; (3) Nguồn kinh
địa chính, chiếm 72,2% tổng diện tích tự nhiên, cụ thể như sau:
- Diện tích đã có bản đồ địa chính theo hệ quy chiếu VN-2000 dạng số
được đo đạc chủ yếu từ năm 2001 đến nay là: 19.002.469 ha chiếm 57,7% tổng
diện tích tự nhiên;
- Diện tích đã có bản đồ địa chính theo hệ quy chiếu HN-72, chủ yếu ở
dạng giấy, được đo đạc chủ yếu từ năm 1995 đến năm 2001 là: 4.765.683 ha
chiếm 14,5% tổng diện tích tự nhiên. Loại bản đồ này đến nay đã bị biến động
rất lớn so với thực tế do việc cập nhật, chỉnh lý thường xuyên không được thực
hiện đầy đủ.
(b) Kết quả về cấp Giấy chứng nhận
Theo kết quả tổng hợp báo cáo của các địa phương, tính đến nay, cả nước
đã cấp 41.800.000 giấy chứng nhận với tổng diện tích hơn 22.900.000 ha, đạt
94,9% diện tích các loại đất cần cấp.
(c) Kết quả về lập các loại sổ sách địa chính
Kết quả lập sổ sách địa chính của các địa phương trong cả nước như sau:
7
- Sổ mục kê đất đai: hiện có 8.426/11.112 đơn vị cấp xã đã có Sổ mục kê
(đạt 75,8% số xã);
- Sổ địa chính: 8.244/11.112 đơn vị cấp xã có Sổ địa chính (đạt 74,2% số
xã).
Tuy nhiên, hầu hết dữ liệu sổ sách địa chính đều ở dạng giấy và không
được chỉnh lý thường xuyên.
(d) Kết quả xây dựng Cơ sở dữ liệu đất đai
Đến nay, trên địa bàn cả nước đã có 158/709 đơn vị cấp huyện đã được
đầu tư xây dựng CSDL đất đai. Tuy nhiên, mới có 106 huyện đã đưa CSDL vào
vận hành cho công tác quản lý nhà nước về đất đai và khai thác thông tin, cụ thể
như sau:
• Có 2 tỉnh, thành phố đang thử nghiệm phần mềm VietLIS (kết quả của
Dự án xây dựng mô hình hệ thống thông tin đất đai đa mục tiêu sử dụng nguồn
vốn KOICA - Hàn Quốc): Bắc Ninh và thành phố Đà Nẵng.
Đánh giá chung:
Trong thời gian vừa qua, đã có sự tham gia của cả hệ thống chính trị
trong việc đo đạc địa chính, xây dựng hồ sơ đăng ký đất đai, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất nhằm tạo nền tảng cho việc xây dựng CSDL đất đai và
hệ thống thông tin đất đai phục vụ công tác quản lý đất đai được hiệu quả, góp
phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy vậy, kết quả đạt được cho đến
thời điểm này vẫn còn rất khiêm tốn, hồ sơ, tài liệu đã được đầu tư xây dựng qua
các thời kỳ chưa được đưa vào sử dụng một cách hiệu quả, thậm chí còn phổ
biến tình trạng thông tin không được cập nhật dẫn đến lạc hậu, không còn giá trị
sử dụng; công tác quản lý, tổ chức thực hiện giữa các địa phương không thống
nhất, còn sự khác biệt rất lớn giữa các địa phương về mức đầu tư hàng năm cho
công tác này. Bên cạnh đó, việc tiếp cận với công nghệ mới, ứng dụng triệt để
thế mạnh của công nghệ thông tin để phục vụ cho công tác quản lý đất đai còn
chưa được quan tâm thích đáng. Tóm lại, mặc dù nhiệm vụ xây dựng CSDL đất
đai đã đạt được những kết quả nêu trên nhưng so với yêu cầu của công tác quản
lý đất đai, yêu cầu chia sẻ thông tin đất đai với các ngành kinh tế - xã hội và
cung cấp dịch vụ cho tổ chức, người dân vẫn còn rất nhiều việc cần tiếp tục
được đầu tư, cụ thể như:
- Về phạm vi nhiệm vụ: so với yêu cầu của Quyết định số 1975/QĐ-TTg
thì phạm vi nhiệm vụ đã được thực hiện còn rất khiêm tốn, chúng ta mới đầu tư
xây dựng CSDL địa chính cho 158/709 đơn vị cấp huyện và CSDL đất trồng lúa
cho 9027 đơn vị cấp xã, các hạng mục khác theo thiết kế vẫn chưa được thực
hiện hoặc thực hiện nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
- Về mô hình, kiến trúc hệ thống: chưa chính thức xác định mô hình và
kiến trúc hệ thống thông tin đất đai thống nhất cho quốc gia.
- Về phần mềm quản lý: việc xây dựng, quản trị CSDL ở các địa phương
rất khác nhau, có những địa phương tại cùng một thời điểm áp dụng nhiều loại
Việc tăng cường quản lý đất đai với trọng tâm là xây dựng cơ sở dữ liệu
và vận hành Hệ thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu sẽ đóng vai trò
quan trọng để hướng tới hoàn thiện cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện
triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, xây dựng
“Chính phủ điện tử”. Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên
và Môi trường với vai trò là Bộ chủ quản, chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý,
cập nhật Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và vận hành thông suốt Hệ thống
thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu. Để thực hiện công tác này, nhu cầu kinh
phí được tính toán dự kiến như sau:
- Chuẩn hóa, chỉnh lý hệ thống bản đồ hiện có: 12.153 tỷ đồng;
đồng;
- Chuẩn hóa hệ thống hồ sơ địa chính, cấp mới/cấp đổi GCN: 5.476 tỷ
- Xây dựng và tích hợp CSDL địa chính: 4.504 tỷ đồng;
- Xây dựng và tích hợp CSDL quy hoạch sử dụng đất: 425 tỷ đồng;
- Xây dựng và tích hợp CSDL giá đất: 275 tỷ đồng;
- Xây dựng và tích hợp CSDL chất lượng đất: 275 tỷ đồng;
10
- Trang, thiết bị vận hành hệ thống: 1.252 tỷ đồng
Như vậy, tổng nhu cầu kinh phí cho việc xây dựng CSDL đất đai quốc
gia và thiết bị vận hành hệ thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu sẽ cần
khoảng 24.360 tỷ VNĐ (tương đương khoảng 1,16 tỷ USD). Trong đó, đã đầu tư
từ các Chương trình, dự án nói trên khoảng 8.050 tỷ (tương đương 380 triệu
USD) với các kết quả được thể hiện tại mục V.2 nêu trên.
Từ tình hình thực tế nêu trên, nhằm kế thừa, phát huy tối đa các kết quả
thu được từ các nỗ lực và các dự án quản lý đất đai đã triển khai trước đây, đồng
thời, nhằm tiếp tục tăng cường hiệu quả và tính minh bạch của công tác quản lý
đất đai, Tổng cục Quản lý đất đai - Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất thực
thông tin phản hồi một cách thuận tiện, nhanh chóng hơn trên môi trường mạng
hoặc trực tiếp tại các Văn phòng Đăng ký đất đai. Ở giác độ thể chế, cơ sở hạ
tầng thông tin và môi trường nghiệp vụ số hóa cũng góp phần mở rộng chia sẻ
thông tin và tăng cường phối hợp, điều phối giữa các cơ quan liên quan đến đất
đai, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đất đai – tài sản đặc biệt quan
trọng của đất nước, từ đó tạo cơ sở để tăng hiệu quả và tính bền vững trong sử
dụng đất đai, tạo điều kiện để nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình
của các cơ quan quản lý nhà nước, giảm khiếu kiện về đất đai và các bất ổn
trong xã hội; góp phần xây dựng thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản
hiệu quả nhằm đáp ứng các nhu cầu đa dạng của nền kinh tế, từ đó thúc đẩy phát
triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân.
- Việc tăng cường quản lý đất đai và cải thiện dịch vụ quản lý đất đai
còn giúp tăng thu từ đất và dịch vụ công trong quản lý đất đai cho các cơ quan
quản lý nhà nước cấp Trung ương và địa phương, trong đó có ngành quản lý đất
đai, để hỗ trợ cho các mục tiêu quản lý đất đai bền vững, quản lý phát triển đô
thị, duy trì an ninh, quản lý các cơ sở hạ tầng và thực hiện các nhiệm vụ quản lý
quan trọng khác (ví dụ phát triển hạ tầng, giao thông, thuế,…).
VI. Cơ sở đề xuất nhà tài trợ
Việt Nam và Ngân hàng Thế giới chính thức nối lại quan hệ thành viên
vào năm 1976. Kể từ đó, quan hệ này luôn được củng cố và phát triển. Trong
lĩnh vực quản lý đất đai, NHTG đã hỗ trợ Bộ Tài nguyên và Môi trường
(BTNMT) thực hiện Dự án Hoàn thiện và Hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai
Việt Nam (VLAP) từ năm 2008-2015. Dự án này tập trung vào các nhiệm vụ đo
đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, xây dựng hồ sơ địa chính, cấp GCN
và xây dựng CSDL địa chính cho các huyện thuộc địa bàn thực hiện Dự án. Dự
án VLAP có thể coi là dự án tiền đề để Việt Nam bắt tay xây dựng một hệ thống
quản lý đất đai hiện đại.
Đề xuất “Dự án Tăng cường Quản lý đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai” đề
nghị sử dụng vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Thế giới hoàn toàn phù hợp với
định hướng, chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam trong thời gian
và (iii) Tăng cường sự tham gia của cộng đồng thông qua việc tăng cường sự
tiếp cận đối với thông tin và các dịch vụ về đất đai.
VII. Mục tiêu của dự án
VII.1. Mục tiêu tổng quát
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả và minh bạch của công tác quản lý đất đai tại
địa bàn thực hiện dự án thông qua việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai và phát
triển, vận hành một hệ thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu nhằm đáp
ứng tốt hơn nhu cầu của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân.
VII.2. Mục tiêu cụ thể
• Xây dựng và triển khai hệ thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu
thống nhất trên cơ sở kiến trúc hệ thống, phần mềm quản lý hệ thống thống nhất
trên toàn quốc và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia (bao gồm dữ liệu địa
chính, dữ liệu quy hoạch sử dụng đất, dữ liệu giá đất, dữ liệu chất lượng đất, dữ
liệu thống kê, kiểm kê đất đai) phục vụ công tác quản lý đất đai, cung cấp dịch
vụ công về đất đai và chia sẻ thông tin đất đai với các ngành có liên quan (thuế,
công chứng, quy hoạch, quản lý xây dựng và đô thị,…) và với người dân, doanh
nghiệp.
13
• Hỗ trợ tăng cường công tác quản lý sử dụng đất đai và đảm bảo thực
hiện thống nhất Luật Đất đai 2013 ở các cấp, tập trung vào hoàn thiện việc cung
cấp dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai thông qua việc hiện đại hóa các Văn
phòng đăng ký đất đai từ việc cải tiến quy trình, tiêu chuẩn dịch vụ tới việc trang
bị thiết bị đầu - cuối của các Văn phòng đăng ký đất đai và đào tạo cán bộ; nâng
cao hiệu quả của công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức; thiết lập hệ thống
theo dõi và đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất.
VIII. Đối tượng thụ hưởng của dự án
• Đối tượng thụ hưởng trực tiếp của dự án bao gồm các cơ quan Chính
(iv) Tổng số 31 Văn phòng Đăng ký đất đai và 165 chi nhánh Văn phòng
Đăng ký đất đai được hiện đại hóa, kết nối với Hệ thống thông tin đất đai quốc
gia và thực hiện cung cấp dịch vụ quản lý đất đai cho các tất cả các bên liên
quan theo nhu cầu, thúc đẩy phát triển thị trường bất động sản hiệu quả và minh
bạch.
(v) Kế hoạch truyền thông nâng cao nhận thức được xây dựng và thực
hiện có định hướng hiệu quả hơn nhằm thay đổi nhận thức của người sử dụng
đất về quyền và nghĩa vụ của mình, đặc biệt trong việc đăng ký quyền sử dụng
đất và đăng ký giao dịch đất đai.
(vi) Hệ thống theo dõi, đánh giá việc quản lý, sử dụng đất được xây dựng
và triển khai ở các khu vực dự án, từ đó tổng hợp kinh nghiệm, hoàn thiện hệ
thống để triển khai trên cả nước.
IX.2. Kết quả các Hợp phần
Dự kiến Dự án sẽ có ba Hợp phần là: (1) Tăng cường chất lượng cung cấp
dịch vụ đất đai; (2) Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia và triển khai Hệ
thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu; và (3) Quản lý Dự án. Các Hợp
phần này sẽ thực hiện các hoạt động nhằm hướng tới các kết quả sau đây:
IX.2.1. Hợp phần 1: Tăng cường chất lượng cung cấp dịch vụ đất đai
Hợp phần này nhằm giúp hỗ trợ thiết lập khuôn khổ thể chế cần thiết theo
hướng hoàn thiện quy trình và các chuẩn dịch vụ, nâng cao năng lực cán bộ của
các Văn phòng Đăng ký đất đai trên phạm vi cả nước đi đôi với việc nâng cao
nhận thức cộng đồng và tăng cường theo dõi, đánh giá việc quản lý sử dụng để đảm
bảo thi hành nhất quán Luật Đất đai 2013. Cụ thể, Hợp phần này sẽ hỗ trợ: (a) Hoàn
thiện khuôn khổ thể chế để vận hành Hệ thống thông tin đất đai quốc gia đa
mục tiêu, (b) Truyền thông và nâng cao nhận thức cộng đồng; và (c) Thiết lập
và thực hiện Hệ thống theo dõi và đánh giá việc quản lý và sử dụng đất. Cụ thể
như sau:
IX.2.1.1. Tiểu hợp phần 1.1: Hoàn thiện khuôn khổ thể chế để vận hành Hệ
thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu
Tiểu hợp phần này sẽ hỗ trợ:
tích cực của cộng đồng trong việc giám sát và thực hiện pháp luật đất đai, nhất là
đối với các đối tượng dễ bị tổn thương như phụ nữ và dân tộc thiểu số.
Dự kiến nội dung Tiểu hợp phần 1.2. Truyền thông và nâng cao nhận thức
cộng đồng được trình bày tại Phụ lục 02.
IX.2.1.3. Tiểu hợp phần 1.3. Theo dõi, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất
Tiểu hợp phần này sẽ hỗ trợ xây dựng và thực hiện Hệ thống theo dõi và
đánh giá định lượng việc quản lý và sử dụng đất đai một cách thường kỳ và bền
vững theo yêu cầu của Luật Đất đai 2013 trên cơ sở kinh nghiệm của Việt Nam
và Thế giới.
Dự kiến nội dung Tiểu hợp phần 1.3. Theo dõi, đánh giá tình hình quản lý,
sử dụng đất được trình bày tại Phụ lục 03.
IX.2.2. Hợp phần 2: Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và triển khai hệ thống thông tin
đất đai quốc gia đa mục tiêu
Quyết định số 1975/QĐ-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai” là
bước ngoặt lớn tạo nền tảng cho công tác quản trị đất đai một cách thống nhất,
hiệu quả, minh bạch, sẽ góp phần thành công trong việc đơn giản hóa và minh
16
bạch hóa các thủ tục hành chính tạo nền tảng cho việc xây dựng chính phủ điện
tử trong lĩnh vực đất đai và lĩnh vực quản lý của các Bộ Ngành liên quan. Chính
vì vậy, tại Quyết định số 714/QĐ-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng
Chính phủ đã xác định “cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia” phải được ưu tiên triển
khai để tạo nền tảng phát triển chính phủ điện tử. Đồng thời, ngày 01 tháng 9
năm 2015 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 24/CT-TTg về việc tập trung
hoàn thành xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đất đai đa mục tiêu.
Từ các kết quả đã được phân tích cho thấy thực trạng về hệ thống thông
tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu
cầu về quản trị hệ thống và chia sẻ thông tin, chưa thể tạo ra nền tảng cho việc
- Đảm bảo tính thống nhất về chia sẻ/khai thác thông tin dữ liệu đất đai
giữa các bộ/ngành tại Trung ương và các tại địa phương;
- Đảm bảo việc đầu tư xây dựng Hệ thống theo một sự điều phối chung,
có kế hoạch cụ thể, có kiểm tra, giám sát, rút kinh nghiệm trong toàn bộ quá
trình thực hiện dự án và đây là trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường
với tư cách là Bộ chủ quản, của Tổng cục Quản lý đất đai với tư cách là chủ đầu
tư xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, hệ thống thông tin đất đai quốc gia
đa mục tiêu đã được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ tại Quyết định số
1975/QĐ-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2013, Quyết định số 714/QĐ-TTg ngày 22
tháng 5 năm 2015. Để loại bỏ các tồn tại, đảm bảo các yêu cầu nêu trên, việc
triển khai xây dựng hệ thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu, cơ sở dữ
liệu đất đai quốc gia cần thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
(1) Hệ thống thông tin đất đai quốc gia: được thống nhất từ Trung ương
đến địa phương từ mô hình cấu trúc hệ thống đến thông tin dữ liệu và quy trình
quản lý, vận hành;
(2) Việc tổ chức triển khai đầu tư xây dựng phải đảm bảo tính thống nhất,
đồng bộ toàn hệ thống với một chủ đầu tư duy nhất là cấp Trung ương.
Hợp phần 2 sẽ hỗ trợ thiết lập cơ sở hạ tầng dữ liệu đất đai phục vụ công
tác quản lý đất đai và dịch vụ công liên quan, chia sẻ thông tin đất đai với các
Bộ, ngành có liên quan và người dân, doanh nghiệp.
Hợp phần này gồm có 03 tiểu hợp phần:
- Tiểu hợp phần 2.1. Nâng cấp, hoàn thiện và triển khai phần mềm cho Hệ
thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu (MPLIS);
- Tiểu hợp phần 2.2. Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia;
- Tiểu hợp phần 2.3. Tăng cường sự tham gia của người dân, doanh nghiệp
và liên thông dữ liệu giữa các cấp, các ngành.
Các hoạt động này sẽ được thực hiện với sự điều phối, phối hợp chặt chẽ
với các hoạt động liên quan đang tiến hành hoặc dự kiến với nguồn lực từ các
nguồn khác như Ngân sách nhà nước trung ương hoặc địa phương hay các nguồn
tài trợ khác có thể huy động được trong giai đoạn 2016-2020.
đai. Cụ thể, kiến trúc và phần mềm cho MPLIS được nâng cấp, hoàn thiện phải
mở rộng các chức năng hiện có của các phần mềm đang sử dụng, vốn phục vụ
cho việc thực hiện các chức năng nghiệp vụ của một Văn phòng Đăng ký đất đai
để hỗ trợ cho các chức năng mới trong quản lý đất đai theo Luật đất đai 2013
như quản lý, thu thập, tích hợp và chia sẻ thông tin về quy hoạch đất đai, giá đất,
chất lượng đất,... Ngoài ra, phần mềm cho MPLIS còn hỗ trợ việc chuyển đổi dữ
liệu về thửa đất từ các các phần mềm hiện đang được sử dụng ở các địa phương
đảm bảo việc trao đổi đồng bộ hóa dữ liệu hiệu quả giữa các cấp, các ngành
cũng như cung cấp thông tin đất đai cho các tổ chức, cá nhân liên quan khác.
Phần mềm cho MPLIS được nâng cấp, hoàn thiện phục vụ việc xây dựng,
quản lý, cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia đa mục tiêu bao
gồm các phân hệ chính như sau: phân hệ địa chính; phân hệ quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất; phân hệ giá đất; phân hệ chất lượng đất; phân hệ thống kê, kiểm kê
đất đai.
19
Dự kiến nội dung Tiểu hợp phần 2.1. Nâng cấp, hoàn thiện và triển khai
phần mềm cho hệ thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu được trình bày tại
Phụ lục 04.
IX.2.2.2.Tiểu hợp phần 2.2. Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia là một ưu tiên của Chính
phủ. Tiểu hợp phần này hỗ trợ việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia
trong quá trình triển khai phần mềm cho MPLIS trong phạm vi dự kiến là 165
huyện thuộc 31 tỉnh, thành phố được lựa chọn. Cụ thể tiểu hợp phần này sẽ hỗ
trợ việc thiết lập CSDL cho hệ thống bao gồm các loại dữ liệu: a) địa chính; b)
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; c) giá đất; d) chất lượng đất; đ) thống kê, kiểm
kê đất đai.
Về nguyên tắc, khi xây dựng CSDL sẽ sử dụng tối đa các nguồn tài liệu
vụ quản lý đất đai. Theo kinh nghiệm thế giới, mức độ tham gia của người dân
nói chung sẽ ít hơn so với giới chuyên môn hay các bộ ngành có liên quan (như
cơ quan thuế, xây dựng, công chứng, hoặc tòa án …) hay lĩnh vực tư nhân (như
ngân hàng thương mại và công ty bất động sản …) và vì thế cần có cách tiếp cận
riêng cho mỗi nhóm. Ngoài ra, an toàn thông tin và bảo đảm riêng tư cũng là
một yêu cầu ưu tiên. Cân nhắc việc thu phí tiếp cận thông tin trong Cổng thông
tin ở hai mức: (a) Công chúng tiếp cận thông tin công không mất phí hoặc với
mức phí rất thấp; và (b) người dùng chuyên nghiệp và doanh nghiệp trả mức phí
cao hơn nhưng tiếp cận được nhiều thông tin hơn…
Bên cạnh đó nhằm đáp ứng được yêu cầu của Chính phủ về đẩy mạnh cải
cách thủ tục hành chính và tăng cường các hoạt động giao dịch điện tử trong thời
gian tới, Dự án sẽ xây dựng cơ chế, phương pháp sử dụng và triển khai hệ thống
dịch vụ công điện tử cho các bên liên quan là những đối tượng tham gia vào hệ
thống MPLIS như cơ quan thuế, ngân hàng, công chứng, ... và người dân.
Xây dựng phân hệ dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực đất đai nhằm
minh bạch hóa thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham
gia hệ thống MPLIS với mục tiêu thực hiện các giao dịch điện tử trong đăng ký
đất đai, nhà ở và tài sản gắn liền với đất tạo thuận lợi cho người sử dụng đất,
người sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện việc đăng ký các giao dịch về đất
đai, tài sản gắn liền với đất bằng phương tiện điện tử; hỗ trợ người sử dụng đất
thực hiện các quyền của mình trong giao dịch đất đai; góp phần công khai, minh
bạch hóa thông tin, giảm thiểu phiền hà trong thủ tục hành chính.
Hệ thống giao dịch đất đai điện tử được thiết kế tổng thể: Chuyển quyền
sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đăng ký thế chấp, bảo lãnh
bằng giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất. Các dữ liệu sau khi thực hiện giao dịch điện tử được đồng bộ hóa và lưu trữ
trong hệ thống MPLIS Trung tâm.
Dự kiến nội dung Tiểu hợp phần 2.3. Tăng cường sự tham gia của người
dân, doanh nghiệp, liên thông dữ liệu giữa các cấp, các ngành được trình bày tại
Phụ lục 06.