SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH LỘC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
GIÚP HỌC SINH LỚP 5A Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
VĨNH THÀNH HỌC TỐT NỘI DUNG
GIẢI TOÁN VỀ TỈ SỐ PHẦN TRĂM
Người thực hiện: Trần Thị Loan
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Vĩnh Thành
SKKN thuộc môn: Toán
VĨNH LỘC, NĂM 2018
MỤC LỤC
TT
NỘI DUNG
Trang
1
PHẦN 1.
MỞ ĐẦU
1
2 1.1. Lí do chọn đề tài
1
3 1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
2
4
12
2.3. Biện pháp
5
13 Biện pháp 1: Vận dụng kĩ thuật "KWL-KWLH" vào các tiết dạy
toán về tỉ số phần trăm nhằm phát huy tính tích cực, tư duy sáng
tạo của học sinh
5
Biện pháp 2: Vận dụng kĩ thuật "Trình bày một phút" vào các
tiết dạy ở buổi hai giúp học sinh nắm vững cách giải ba dạng
toán cơ bản về tỉ số phần trăm
9
15
Biện pháp 3: Xây dựng hệ thống bài tập có nội dung ứng dụng
thực tế cuộc sống nhằm nâng cao kĩ năng giải bài toán tỉ số
phần trăm cho học sinh
13
16
Vậy để giáo dục có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng
dạy chúng ta cần thiết phải đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học, trong đó
đổi mới phương pháp nhằm phát huy tích tích cực của học sinh là vấn đề quan
trọng. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học được xác định trong nghị
quyết Trung ương 4 khóa VII(1-93), nghị quyết Trung ương 2 khóa VII (121996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), trong chỉ thị của Bộ Giáo
dục và Đào tạo, đăc biệt chỉ thị số 14(4-1999). Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú học tập cho học sinh” [4]
Tuy nhiên, việc vận dụng các kỹ thuật dạy học trong môn Toán không
phải là vấn đề đơn giản, nó phụ thuộc khá nhiều vào yếu tố khách quan như cơ
sở vật chất, thiết bị dạy học, trình độ học sinh... vì vậy, với giáo viên ở nhiều
trường, nhiều địa phương thì các kỹ thuật dạy học tích cực vẫn là vấn đề khá
mới mẻ, việc vận dụng vào thực tiễn chưa thật thường xuyên, nhiều nơi còn
mang tính hình thức... đặc biệt là đối với môn Toán.
Trong chương trình toán lớp 5 hiện hành, mạch kiến thức số học có nội
dung về tỉ số phần trăm và giải toán về tỉ số phần trăm. Đây là một mảng kiến
thức rất quan trọng được ứng dụng nhiều trong thực tế và có tác dụng rất lớn
trong việc phát triển tư duy cho học sinh.
Dạy - học về “ tỉ số phần trăm” và “giải toán về tỉ số phần trăm” không
chỉ củng cố các kiến thức toán học có liên quan mà còn giúp học sinh gắn học
với hành, gắn nhà trường với thực tế cuộc sống lao động và sản xuất của xã hội.
Qua việc học các bài toán về Tỉ số phần trăm, học sinh có hiểu biết thêm về thực
tế, vận dụng được vào việc tính toán trong thực tế như: Tính tỉ số phần trăm các
loại học sinh (theo giới tính hoặc theo học lực,..) trong lớp mình học hay trong
nhà trường, tính tiền vốn, tiền lãi khi mua bán hàng hóa hay khi gửi tiền tiết
+ Biết thực hiện các phép tính cộng, trừ các tỉ số phần trăm, nhân các tỉ số phần
trăm với một số tự nhiên và chia các tỉ số phần trăm với một số tự nhiên khác 0.
+ Biết:
- Tìm tỉ số phần trăm của hai số.
- Tìm giá trị một số phần trăm của một số.
- Tìm một số biết giá trị một số phần trăm của số đó.
2.2. Thực trạng dạy học tỉ số phần trăm cho học sinh lớp 5 ở trường
tiểu học Vĩnh Thành:
2.2.1. Về việc dạy của giáo viên:
Để tìm hiểu thực trạng dạy học nội dung giải toán về tỉ số phần trăm tôi
đã tiến hành dự giờ một số tiết học của các giáo viên cùng khối và thấy các đồng
chí chưa coi trọng việc dạy học theo định hướng tích cực hóa hoạt động học tập
của học sinh, cụ thể như sau:
- Ở buổi 1 giáo viên chỉ tiến hành các bước làm truyền thống: ôn lại kiến
thức của bài trước đó và giới thiệu rồi dạy vào bài mới. Chưa nghiên cứu tìm tòi
những kiến thức có liên quan giúp học sinh huy động kiến thức cũ vào bài mới.
- Ở buổi hai giáo viên đưa ra một số bài tập có dạng mà học sinh đã học,
tổ chức cho học sinh làm rồi chữa bài, chưa cho học sinh ôn lại, khắc sâu ba
dạng toán giải cơ bản của tỉ số phần trăm, chưa tạo cho các em có cơ hội bày tỏ
những băn khoăn thắc mắc muốn được giải đáp trước lớp.
- Trong giảng dạy giáo viên còn chưa coi trọng việc phân loại kiến thức.
Chưa chú ý đến các bài toán có nội dung ứng dụng thực tế.
2.2.2. Về chất lượng của học sinh:
Để nắm bắt được thực trạng học của học sinh, tôi đã tìm hiểu cộng với
khảo sát qua bài kiểm tra sau: (Phụ lục 1a)
Tổng hợp kết quả bài kiểm tra khảo sát (bảng 1)
Lớp Số HS Điểm 9-10
Điểm 7-8
Quá trình tìm hiểu, khảo sát cho thấy học sinh hay mắc các lỗi như:
- Việc lựa chọn phép tính, ghi tỉ số phần trăm sai do chưa hiểu được bản
chất của tỉ số phần trăm.
- Học sinh đang còn nhầm lẫn cách giải của hai dạng toán: tìm giá trị một
số phần trăm của một số và tìm một số biết giá trị một số phần trăm của số đó.
- Ở bài toán mua bán có ứng dụng thực tế cuộc sống (bài toán 4), học sinh
còn nhầm lẫn giữa tiền vốn, tiền bán, tiền lãi.
2.2.3. Nguyên nhân của thực trạng:
Qua dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp và qua khảo chất lượng tôi đã tìm ra
guyên nhân học sinh học chưa tốt nội dung giải toán về tỉ số phần trăm như sau:
1) Giáo viên chưa thật triệt để trong việc đổi mới phương pháp dạy học.
Trong giảng dạy còn thuyết trình, giảng giải nhiều, còn cung cấp kiến thức một
cách áp đặt...Chính vì vậy học sinh chưa thực sự được tự mình tìm đến kiến
thức, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh. Các em thiếu tự
tin khi đến với kiến thức mới.
2) Học sinh chưa có cơ hội được tổng kết lại kiến thức đã học và đặt
những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày
ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp với thầy cô giáo. Chính vì vậy mà các
em chưa nắm chắc các kiến thức cơ bản giữa tỷ số và tỷ số phần trăm, chưa nắm
chắc ba dạng toán giải cơ bản về tỉ số phần trăm.
3) Với toán giải về tỉ số phần trăm thì đa số là các bài toán có ứng dụng
thực tế cuộc sống nhưng giáo viên chưa xây dựng hệ thống bài tập nhằm nâng
cao kĩ năng giải toán cho học sinh. Sau mỗi dạng bài còn chưa coi trọng việc
khái quát chung cách giải cho mỗi dạng để khắc sâu kiến thức cho học sinh.
2.3. Biện pháp:
Biện pháp 1: Vận dụng kĩ thuật "KWL-KWLH" vào các tiết dạy toán về tỉ
số phần trăm nhằm phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo của học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp tiếp cận về nội dung,
hình thức tổ chức, phương pháp dạy học,…
Tất cả những mục đích trên đều hướng tới phát triển các năng lực của HS.
Thứ ba nắm vững các bước thực hiện:
Bước 1: Chọn bài học/chủ đề. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả với
các bài học mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu, giải thích.
Bước 2: Tạo bảng KWLH. Giáo viên vẽ một bảng lên bảng (hoặc trình
chiếu trên Slide), đồng thời yêu cầu mỗi HS cũng kẻ một bảng theo mẫu của
giáo viên (hình dưới).
Họ và tên học sinh:
K
Lớp:
W
L
H
Bước 3: Đề nghị học sinh động não nhanh và nêu ra các từ, cụm từ có liên
quan đến bài học/chủ đề. Học sinh cùng ghi nhận hoạt động này vào cột K.
Lưu ý:: Giáo viên phải chuẩn bị câu hỏi để giúp học sinh động não. “Hãy
nói những gì các em đã biết về ……”; cần khuyến khích học sinh giải thích, vì
đôi khi những điều các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường.
Trong trường hợp học sinh viết được rất ít ở cột K thì giáo viên cũng đừng lo
lắng.
Bước 4: Giáo viên hỏi tiếp xem các em muốn biết/tìm hiểu thêm những gì
về bài học/chủ đề này. Học sinh sẽ ghi nhận câu hỏi vào cột W. Nếu học sinh trả
mới. Vì không phải mọi câu hỏi ở cột W đều được bài đọc trả lời hoàn chỉnh.
*Lưu ý: Cột H được thêm vào biểu đồ KWL - KWLH là để khuyến khích
học sinh tiếp tục tìm tòi nghiên cứu. Sau khi đã hoàn tất nội dung ở cột L, các
em có thể tìm hiểu thêm một thông tin. Các em sẽ nêu biện pháp để tìm thông
tin mở rộng. Những biện pháp này sẽ được ghi nhận ở cột H.
Sau khi tìm hiểu mục đích ý nghĩa...của kĩ thuật dạy học "KWL - KWLH"
trong quá trình dạy học tôi đã nghiên cứu và đưa vào sử dụng. Sau đây là một số
giáo án minh họa về các tiết dạy có sử dụng sơ đồ KWL-KWLH. Ở mỗi giáo án
đó tôi đã thiết kế các hoạt động dạy học đáp ứng mục tiêu bài học. (Được tập
huấn hè năm 2016-2017 do cô Thanh Tâm trực tiếp triển khai). Đó là:
1. Xác định mục tiêu bài học cho học sinh/hướng về học sinh (không cho GV)
2. Sử dụng các động từ cụ thể, có thể đo được/quan sát được (tránh dùng những
từ trừu tượng, chung chung).
3. Chú trọng thiết kế các hoạt động học tập cho học sinh.
4. Rút ra các dấu hiệu/biểu hiện tích cực trong hoạt động dạy của giáo viên và
học của học sinh.
5. Có thể điều chỉnh nội dung/tình huống/bài tập trong sách giáo khoa phù hợp
với địa bàn/học sinh nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu bài học.
6. Khi thiết kế các hoạt động học tập phải bám vào/đối chiếu với mục tiêu bài
học đã xác định.
Tuy nhiên vì khuôn khổ đề tài có hạn nên ở đây tôi chỉ trình bày ý tưởng
cho các tiết 74, 77, 79 còn nội dung giáo án chi tiết và ảnh minh họa xin được để
ở phần phụ lục.
Tiết 74. Toán: TỈ SỐ PHẦN TRĂM
(Giáo án minh họa: phụ lục 3)
Căn cứ vào mục tiêu của tiết học (sau bài học, học sinh có thể bước đầu
nhận biết về tỉ số phần trăm; viết được một phân số dưới dạng tỉ số phần trăm,
vận dụng vào thực tế), tôi đã tiến hành tiết dạy theo quy trình sau:
W
L
H
(Dự kiến)
(Dự kiến)
(Dự kiến)
(Dự kiến)
- Tỉ số của - Tỉ số phần - Bản chất của tỉ số - Đọc lại những kiến
hai số.
trăm
phần trăm.
thức đã được học
- Cách tìm tỉ - Cách tìm tỉ - Cách viết một phân - Đọc SGK, đọc sách
số của hai số phần trăm số dưới dạng tỉ số phần thao, khảo, tìm tiểu
số
của hai số.
trăm.
nguồn Internet, trao
- Cách tìm tỉ số phàn đổi cùng bạn
trăm của hai số
Tiết 77. Toán: GIẢI TOÁN VỀ TỈ SỐ PHẦN TRĂM (tiếp theo)
(Giáo án minh họa: phụ lục 4)
Tiết học này có mục tiêu là: sau bài học, HS có thể tính một số phần trăm
của một số; giải toán đơn giản về tính một số phần trăm của một số; vận dụng
vào thực tế.
Để đạt được mục tiêu này tôi đã tiến hành như sau:
Khởi động tiết học bằng việc hoàn thành hai cột K và W trong sơ đồ KWL
-KWLH (như bảng dưới).
Giúp học sinh huy động kiến thức cũ qua việc giải bài toán liên quan đến
tìm phân số của một số; nhắc lại cách tìm phân số của một số đã học ở lớp 4.
(Giáo án minh họa: phụ lục 5)
Mục tiêu của tiết học được xác định như sau: sau bài học, học sinh có thể
tìm một số khi biết giá trị một số phần trăm của số đó; vận dụng giải các bài
toán đơn giản về tìm một số khi biết một số phần trăm của số đó.
Để đạt được mục tiêu này tôi đã tiến hành như sau:
Khởi động tiết học bằng việc hoàn thành hai cột K và W trong sơ đồ KWL
-KWLH (như bảng dưới).
Giúp học sinh huy động kiến thức cũ qua việc giải bài toán tìm một số khi
biết giá trị phân số của số đó mà các em đã được học ở lớp 4.
Tìm hiểu cách giải bài toán ở ví dụ a, b trang 78 SGK để rút ra cách giải
bài toán tìm một số khi biết giá trị một số phần trăm của số đó và so sánh để
thấy được cách giải bài toán tìm một số khi biết giá trị một số phần trăm của số
đó cũng tương tự cách giải bài toán tìm một số khi biết giá trị phân số của số đó;
từ đó các em sẽ giải đáp được thắc mắc nêu đã nêu ở cột W.
Ở các hoạt động tiếp theo, học sinh được thực hành giải bài toán có liên
quan đến tìm một số khi biết giá trị một số phần trăm của số đó và cũng chính là
quá trình học sinh tự hoàn thành được cột L và cột H của sơ đồ KWL-KWLH
(như bảng dưới).
K
W
L
H
(Dự kiến)
(Dự kiến)
(Dự kiến)
(Dự kiến)
- Cách tìm một số - Giải bài toán - Cách giải bài - Đọc lại những
khi biết giá trị phân có liên quan toán có liên kiến thức đã được
trăm của hai số thì cần:
- Xác định rõ ràng đơn vị so sánh và đối tượng so sánh để có phép tính đúng.
- Xác định đúng được tỷ số phần trăm của 1số cho trước với số chưa biết hoặc tỉ
số phần trăm của số chưa biết so với số đã biết trong bài toán.
Dạng 2: Tìm giá trị một số phần trăm (n%) của một số cho trước.
Ví dụ: Một xí nghiệp có 60 công nhân được chia thành hai tổ, trong đó tổ một
chiếm 40% tổng số công nhân. Hỏi tổ một có bao nhiêu công nhân?
Tôi tiến hành như sau:
- Hướng dẫn học sinh phân tích đề toán.
- Yêu cầu học sinh giải thích lại cách hiểu của em về dữ kiện: “tổ một chiếm
40% tổng số công nhân” (có nghĩa là tổng số công nhân của cả xí nghiệp được
chia thành 100 phần bằng nhau thì số công nhân của tổ một chiếm 40 phần bằng
nhau đó. Mà cả xí nghiệp có 60 công nhân vậy việc tìm số công của tổ một
chính là đi tìm 40% của 60 công nhân)
40
100
40
- Vậy việc đi tìm 40% của 60 ta có thể đưa về tìm
của 60.
100
- 40% có thể viết dưới dạng phân số thập phân là:
- Tìm 40% của 60 là tìm 40 phần trong 100 phần của 60 công nhân đó. Từ ý
nghĩa đó học sinh dễ tư duy được muốn tìm 40 phần thì phải tìm giá trị 1 phần
rồi nhân với 40.
Bài giải:
Số công nhân của tổ một là:
60 : 100 40 = 24 (công nhân)
Đáp số: 24 công nhân
65
100
+ Yêu cầu học sinh giải thích lại cách hiểu của em về: “Số bò có 195 con và
chiếm 65% tổng số trâu bò”? (Số bò là 195 con và chiếm 65% tổng số trâu bò
65
tổng số trâu và bò. Vậy việc đi tìm tổng sô trâu và
100
65
bò của nông trại chỉ đơn giản là đi tìm một số khi biết
của số đó bằng 195.
100
tức là 195 con bò bằng
(Đến đây học sinh sẽ nhận thấy bài toán có dạng “Tìm một số khi biết giá trị một
phân số của số đó”– một dạng toán rất quen thuộc mà các em đã được học từ lớp
4).
Bài giải:
Tổng số trâu và bò của nông trại là:
195 100 : 65 = 300 (con)
Đáp số: 300 con
- Sau khi học sinh thực hiện giải bài toán, tôi giúp học sinh nhận xét để nhận ra
đây là dạng toán “Tìm một số khi biết giá trị tỉ số phần trăm của số đó”.
* Lưu ý: Nếu gọi giá trị tỉ số phần trăm của một số là A và tỉ số phần trăm của A
là m% thì khi thực hiện tìm số đó có thể lấy: A 100 : m
Hoặc: A : m 100
- Áp dụng kĩ thuật trình bày một phút ở cuối tiết học nhằm củng cố kiến thức
cho học sinh, tôi hỏi tiếp: Vậy điều quan trọng nhất mà em muốn được giải đáp
hợp kiến thức các môn học một cách nhẹ nhàng linh hoạt.
Biện pháp 3: Xây dựng hệ thống bài tập có nội dung ứng dụng thực tế cuộc
sống nhằm nâng cao kĩ năng giải bài toán tỉ số phần trăm cho học sinh.
Những bài toán về tỉ số phần trăm thường rất phong phú và đa dạng, chứa
đựng nội dung của cuộc sống, cung cấp cho học sinh vốn sống, phát triển tốt các
kĩ năng và khả năng tư duy. Có rất nhiều dạng toán giải về tỉ số phần trăm, qua
thực tế giảng dạy và nghiên cứu lâu năm ở tiểu học, tôi đã xây dựng một hệ
thống các dạng bài tập để giúp học sinh được rèn luyện trong các buổi 2 hay các
buổi sinh hoạt câu lạc bộ (Các dạng bài này học sinh được luyện tâp sau khi đã
nắm vững ba dạng bài cơ bản ở trên). Tuy nhiên vì khuôn khổ đề tài có hạn nên
tôi chỉ xin được trình bày một số dạng mà học sinh hay nhầm lẫn như sau:
Dạng 1: Các bài toán liên quan đến lãi suất ngân hàng hay bài toán về tăng
dân số (Phát triển từ dạng toán tìm tỉ số phần trăm của hai số).
Thực ra các bài toán dạng này chỉ là phát triển từ bài toán tìm tỉ số phần
trăm của hai số nhưng khi gặp, học sinh lại thường hay lúng túng bởi vì các em
chưa quen với các thuật ngữ như lãi suất, kì hạn, so với tháng trước, năm trước.
Vì vậy trước khi giải, tôi cho phân tích để các em hiểu thuật ngữ mới.
Ví dụ 1. Một thư viện có 6 000 quyển sách. Cứ sau mỗi năm số sách thư viện
lại tăng thêm 20% (so với năm trước). Hỏi sau hai năm thư viện có tất cả bao
nhiêu quyển sách? [7]
Phân tích: 20% là tỉ số phần trăm số sách tăng mỗi năm so với số sách năm
trước. Bởi vậy muốn biết số sách tăng ở năm thứ hai phải biết số sách có sau
năm thứ nhất.
Bài giải:
Sau năm thứ nhất số sách tăng thêm là:
6 000 x 20% = 1 200 (quyển)
Sau năm thứ nhất thư viện có số sách là:
6 000 + 1 200 = 7 200 (quyển)
Sau năm thứ hai số sách tăng thêm là:
7 200 x 20%= 1 440 (quyển)
- Tính tiền tổng số tiền sau tháng thứ hai: Lấy tổng số tiền sau tháng thứ nhất
cộng với tiền lãi của tháng thứ hai.
Cách 2: Coi số tiền gửi ban đầu là 100%
Tỉ số phần trăm số tiền sẽ có sau mỗi tháng so với tháng liền trước là:
100% + 7% = 107%
Từ đó tính số tiền sau tháng thứ nhất, sau tháng thứ hai.
Dạng 2: Bài toán dạng “tìm lượng hạt tươi, hạt khô và lượng thuần hạt”
(Phát triển từ dạng toán tìm một số phần trăm của một số)
Trong thực tế, khi giải các bài toán dạng “tìm lượng hạt tươi, hạt khô và
lượng thuần hạt” (coi lượng thuần hạt là phần hạt nguyên chất, không có nước,
hạt tươi gồm nước và lượng thuần hạt, hạt khô là hạt đã được phơi và có lượng
nước ít hơn lượng nước trong hạt tươi) học sinh thường vấp phải những sai lầm
đáng tiếc như sai câu trả lời, lẫn lộn giữa lượng hạt khô và lượng thuần hạt, giữa
lượng hạt tươi và lượng hạt khô…Vì vậy tôi đã đưa ra các kiểu bài tập sau:
Ví dụ 1: Lượng nước trong hạt tươi chiếm tỷ lệ là 19%, trong hạt khô chiếm tỷ
lệ là 10%. Hỏi phơi 500 kg hạt tươi sẽ được bao nhiêu ki-lô-gam hạt khô?[6]
Phân tích: Để tìm lượng hạt khô, ta cần tìm lượng thuần hạt có trong 500 kg hạt
tươi. Vì lượng thuần hạt không đổi nên dựa vào tỉ số phần trăm lượng nước có
trong hạt khô, ta tìm được tỉ số phần trăm lượng thuần hạt trong hạt khô. Từ đó
tìm được lượng hạt khô.
Bài giải:
Lượng nước có trong 500 kg hạt tươi là:
500 : 100 19 = 95 (kg)
Lượng thuần hạt có trong 500 kg hạt tươi là:
500 – 95 = 405 (kg)
Khi phơi 500 kg hạt tươi thành hạt khô thì chỉ có lượng nước thay
đổi còn lượng thuần hạt đó sẽ không thay đổi, vẫn là 405 kg và chiếm số phần
trăm trong lượng hạt khô là:
400 – 80 = 320 (kg)
Sau khi phơi, khối lượng giảm đi 60 kg là do nước trong hạt bốc
hơi. Vậy lượng nước còn lại sau khi phơi 400 kg hạt tươi là:
80 – 60 = 20 (kg)
Tỉ số phần trăm giữa lượng nước có trong hạt đã phơi khô và lượng
thuần hạt là:
20 : 320 = 0,0625 = 6,25%
Đáp số: 6,25%
Kết luận: Khi giải bài toán dạng này cần lưu ý:
Khi phơi hạt tươi thành hạt khô thì lượng nước trong hạt tươi sẽ bay hơi
nên lượng hạt khô thu được bao giờ cũng nhỏ hơn lượng hạt tươi.
Mặc dù hạt tươi đã được phơi khô nhưng trong hạt khô vẫn còn một
lượng nước, lượng nước này chiếm tỉ lệ nhỏ hơn lượng nước có trong hạt tươi.
Vậy khi phơi hạt tươi thành hạt khô thì lượng thuần hạt không thay đổi,
chỉ có lượng nước là thay đổi.
Dạng 3: Các bài toán về giá gốc, giá bán, lãi. (Phát triển từ dạng toán tìm một
số khi biết giá trị một tỉ số phần trăm của số đó.)
Mẫu1: Tìm giá bán khi biết giá gốc và giá lãi:
Ví dụ 1: Một người mua vào một ki-lô-gam đường với giá 20 000 đồng. Hỏi
người đó phải bán một ki-lô-gam đường với giá bao nhiêu để được lãi 20% so
với tiền vốn?
Ví dụ 2: Một người mua vào một ki-lô-gam đường với giá 20 000 đồng. Hỏi
người đó phải bán một ki-lô-gam đường với giá bao nhiêu để lãi 20% giá bán?
Để giải tốt hai bài toán này tôi giúp các em liên tưởng bài toán ra thực tế
của một người bán hàng để các em hiểu được trong bài toán về mua bán thường
có các yếu tố sau:
Tiền mua vào hay còn gọi là tiền vốn hay tiền gốc.
Tiền vốn không bao giờ thay đổi mà chỉ có tiền bán và tiền lãi thay đổi.
Kiểu bài giảm giá một lần
Ví dụ: Nhân dịp một ngày lễ một cửa hàng đã giảm giá 10% một chiếc điện
thoại di động. Tuy vậy cửa hàng vẫn còn được lãi 8%. Hỏi nếu không giảm giá
thì cửa hàng được lãi bao nhiêu phần trăm?
Bài giải:
Vì giảm giá 10% nên giá dự định là 100%, giá thực bán là:
100% - 10% =90% (giá dự định) (1)
Vì vẫn lãi 8% nên coi giá vốn là 100% thì giá thực bán là:
(2)
100% +8%=108% (giá vốn)
Từ (1) và (2) ta thấy, tỉ số phần trăm giữa giá định bán và giá vốn là:
108% : 90% = 120%
Vậy nếu không giảm giá thì cửa hàng được lãi:
120% - 100% = 20%
Đáp số: 20%
Kiểu bài giảm giá hai lần:
Ví dụ: Một cửa hàng còn một số mứt không bán hết trong Tết, cửa hàng bèn hạ
giá 15%. Vẫn không bán được cửa hàng lại hạ giá 15% giá đã hạ và bán hết số
mứt đó. Tuy vậy cửa hàng vẫn lãi 15,6%. Hỏi giá bán trong Tết của cửa hàng
bằng bao nhiêu phần trăm giá vốn?
Bài giải:
Vì lần thứ nhất giảm giá 15% nên giá bán trong Tết là 100%, giá bán lần
thứ nhất bằng:
100% - 15% =85% (giá bán trong Tết)
Lần thứ hai giảm tiếp 15% của giá bán lần thứ nhất nên lần thứ hai giảm:
15% 85% = 12,75%
Giá bán lần thứ hai bằng: 85% - 12,75% = 72,25% (giá bán trong Tết) (1)
Vì vẫn lãi 15,6% nên giá vốn là 100%, giá lần thứ hai bằng:
(2)
100%+15,6%= 115,6% (giá vốn)
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường:
Sau khi tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra những biện pháp cải tiến giúp học
sinh học tốt hơn nội dung giải toán về tỉ số phần trăm, tôi đã kiểm tra kết quả
học tập của học sinh trên 2 lớp 5, lớp 5A (lớp tôi trực tiếp giảng dạy và vận dụng
sáng kiến), lớp 5B (lớp đối chứng) với bài kiểm tra sau: (Phụ lục 1b)
Bảng tổng hợp kết quả bài kiểm tra khảo sát (bảng 2):
Lớp Số HS Điểm 9-10
Điểm 7-8
Điểm 5-6
Điểm dưới 5
được
SL TL
SL TL
SL
TL
SL TL
kiểm tra
5A
35 em
17
48,6% 14
40%
4
11,4% 0
0
5B
34 em
giỏi môn Toán của lớp tôi đạt 79,4% và những bài toán về tỉ số phần trăm có
trong đề thi, học sinh đều đạt được điểm tuyệt đối.
- Một điều quan trọng khẳng định việc triển khai đề tài đã đạt kết quả
đáng kể là chất lượng học sinh lớp 5 của trường tiểu học Vĩnh Thành luôn được
phòng GD-ĐT huyện Vĩnh Lộc đánh giá là đơn vị dẫn đầu trong toàn huyện.
Phần 3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT:
3.1. Kết luận:
Qua quá trình nghiên cứu và thực nghiệm sáng kiến kinh nghiệm trên
đây, tôi tự rút ra cho mình một vài kinh nghiệm nhỏ sau:
- Kinh nghiệm trong việc vận dụng kĩ thuật "KWL-KWLH" vào dạy học:
Trước khi dạy giải toán về tỉ số phần trăm nói riêng và dạy các dạng toán nói
chung, giáo viên cần nghiên cứu kĩ xem những có kiến thức cũ nào liên quan mà
học sinh đã học cần được huy động vào bài. Phải giúp học sinh hiểu được các
kiến thức đó theo cả chiều xuôi và chiều ngược lại. Tổ chức cho học sinh ôn tập,
nhắc lại trước khi vào bài mới, dự kiến những băn khoăn thắc mắc mà học sinh
cần được giải đáp, cách thức để tìm tòi nghiên cứu mở rộng thêm về chủ đề học.
Cần lưu ý rằng kĩ thuật "KWL-KWLH" có thể vận dụng vào tất cả các bài học.
- Kinh nghiệm trong việc sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy
học: cần căn cứ vào vốn sống, khả năng hiểu biết của học sinh để thiết kế các
hoạt động nhằm giúp các em tự phát hiện và giải quyết vấn đề dưới sự trợ giúp
của các bạn trong nhóm, trong lớp hay của giáo viên. Như vậy thầy/cô trở thành
người thiết kế, người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động,.. còn trò là người thi
công, người trực tiếp hoạt động để tìm tòi kiến thức. Khi dạy giải các bài toán về
tỉ số phần trăm nói riêng và cách mạch kiến thức khác nói chung, giáo viên cần
biết lựa chọn các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng của lớp
mình. Xuất phát từ các ví dụ hay các bài toán mẫu trong sách giáo khoa, cần tổ
chức cho học sinh thảo luận để tìm ra cách giải quyết vấn đề mà bài toán đưa ra.
Trên cơ sở đó sẽ giúp các em biết tổng hợp để rút ra những nhận xét hay những
- Kinh nghiệm trong việc tổ chức kiểm tra đánh giá học sinh: cần sử dụng
nhiều công cụ đánh giá khác nhau để có thể đánh giá học sinh một cách khách
quan: Kiểm tra vấn đáp (nêu cách giải hoặc giải miệng các bài toán %). Kiểm tra
viết (gồm kiểm tra ngắn, kiểm tra một tiết). Trong các bài kiểm tra viết cần kết
hợp cả bài tập trắc nghiệm và bài tập tự luận, các bài tập cần sắp xếp theo thứ tự
từ dễ đến khó và có đủ loại bài đại diện cho các kiến thức kĩ năng cơ bản nhất.
Cần vận dụng cách đánh giá theo nhiều chiều: giáo viên đánh giá học sinh, học
sinh đánh giá lẫn nhau và học sinh tự đánh giá. Vận dụng đánh giá học sinh theo
thông tư 30 và thông tư 22 một cách triệt để.
- Với sáng kiến này, tôi đã áp dụng thành công đối với học sinh của mình.
Theo chủ quan của cá nhân, tôi nhận thấy có thể mở rộng phạm vi áp dụng trước
hết là cho học sinh toàn khối 5 ở trường tiểu học Vĩnh Thành khi dạy mảng kiến
thức giải toán về tỉ số phần trăm.
3.2. Kiến nghị:
Các nhà trường cần tổ chức các phong trào thi đua đổi mới phương pháp
dạy học, có nhiều hình thức nhằm khích lệ giáo viên tích cực đúc rút các sáng
kiến kinh nghiệm dạy học.
Phòng giáo dục nên thường xuyên tổ chức hội thảo để phổ biến những
kinh nghiệm hay, những cách làm sáng tạo giúp giáo viên có cơ hội được thảo
luận và học hỏi kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp, giải đáp những băn
khoăn vướng mắc, khắc phục khó khăn, tồn tại thường gặp... nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục trong nhà trường.
Một đề xuất nữa là các cấp lãnh đạo cần quan tâm, tăng cường thêm cơ sở
vật chất như máy móc, thiết bị...để việc dạy học thuận lợi và đạt hiệu quả cao
hơn.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân mà tôi đã đúc rút ra từ thực
tế dạy giảng dạy. Trong quá trình công tác tôi đã áp dụng và thu được kết quả
nhất định. Tuy nhiên với khả năng và sự hiểu biết hạn chế của mình, tôi rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của các cấp quản lí và của các bạn
đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm được hoàn thiện hơn, giúp học sinh học
VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trần Thị Loan
Chức vụ đơn vị công tác: Giáo viên trường tiểu học Vĩnh Thành
TT
1
2
3
4
5
Tên đề tài SKKN
Một số giải pháp giúp học
sinh lớp 5 học tốt nội dung
giải toán về tỉ số phần trăm
Một số giải pháp giúp học
sinh lớp 5 học tốt nội dung
giải toán về tỉ số phần trăm
Một số giải pháp giúp học
sinh lớp 4 học tốt nội dung
tìm lại tích đúng
Một số giải pháp giúp học
sinh lớp 4 học tốt nội dung
tìm lại tích đúng
"Một số biện pháp nhằm
nâng cao chất lượng dạy học
giải toán tỉ số phần trăm cho
học sinh lớp 5A trường tiểu