Nghĩa của từ trong hoạt động ngôn ngữ - Pdf 53

2007/01/06, 17:52:28
Nghĩa của từ trong hoạt động ngôn ngữ
Khi phân tích nghĩa của từ, chúng ta đã tạm thời cô lập hoá hai bình diện ngôn ngữ và lời nói để xem
xét nghĩa của từ trong ngôn ngữ như một hệ thống tĩnh. Còn một vấn đề nữa là trong hoạt động ngôn
ngữ thì về phương diện nghĩa, từ sẽ như thế nào?
Tuy ngôn ngữ và lời nói không tách biệt nhau, nhưng về nguyên tắc nghiên cứu, nhiều khi sự cô lập
hoá tạm thời như vậy vẫn là cần thiết và hữu ích.
1. Khi từ đi vào hoạt động ngôn ngữ, nghĩa của nó được hiện thực hoá, cụ thể hoá và được xác định.
Lúc đó, các thành phần nghĩa trong cơ cấu nghĩa của từ sẽ giảm dần tính trừu tượng và khái quát đến
mức tổi thiểu để đạt tới tính xác định, tính cụ thể ở mức tối đa.
Ví dụ, từ "chân" trong tiếng Việt, với tư cách là đơn vị của ngôn ngữ có 6 nghĩa khác nhau (theo Từ
điển tiếng Việt. H., 1988). Cơ cấu đó đã được xây dựng nên một cách khái quát, và khi nhận thức từ
này dưới dạng một từ của ngôn ngữ, từ từ điển, thì người ta hướng đến nó như một cái nhìn tổng thể
chung. Chỉ khi nào đi vào những phát ngôn cụ thể như:
– Mong cho chân cứng đá mềm.
– Chân đi chữ bát, mắt thì hướng thiên.
– ...
thì một trong 6 nghĩa của từ này mới được bộc lộ, được cụ thể hoá và được xác định. Chính vì không
bị ràng buộc cố định vào một hoặc một phạm vi sự vật nào đó nên các đơn vị từ ngữ mới có được khả
năng hoạt động rộng rãi và trở nên có tính khái quát cao, để rồi, khi đi vào hoạt động trong văn bản
mới trở thành cụ thể và xác định.
2. Mặt khác, cũng trong hoạt động ngôn ngữ, đồng thời với sự giảm thiểu tính khái quát thì từ lại có
thể được gia tăng những sắc thái mới, nội dung mới do chính sự vật mà nó biểu thị đem lại. Chẳng
hạn, xét các từ máu, lửa, rũ, bùn trong câu:
"Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà". (Nguyễn Đình Thi)
Ở đây, các từ nêu trên không chỉ đơn thuần mang các nội dung ngữ nghĩa vốn có của chúng nữa.
Chúng đã mang những sắc thái mới, sắc thái bổ sung mà chỉ trong những bối cảnh sử dụng như ở
diễn từ (discourse) này mới có được. Các biểu vật máu, lửa, bùn,... không phải chỉ là máu, lửa và bùn
như trong từ điển chỉ ra, giải thích nữa.
Cái gọi là các nghĩa ngữ cảnh của từ đã được xây dựng và nảy sinh trong những điều kiện như vậy.

động như thế.
Chẳng hạn:
– "Tôi thấy chúng tôi thay đổi. Tiếng nói khác đi. Mặt hơi trứng cá" (Nam Cao).
– "Tôi ra con xe. Tôi nhảy con mã sang bên này. Tôi vào tướng thì bên kia hết chiếu."
c – Khi kết hợp với nhau, các từ chẳng những phải tuân theo quy tắc ngữ pháp mà còn phải tuân theo
quy tắc ngữ nghĩa. Chung phải tương hợp với nhau về nghĩa.
Người ta coi hai từ A và B là tương hợp với nhau về nghĩa khi A đòi hỏi ở B một nghĩa tố s thì B
không được chứa và cho xuất hiện nghĩa tố đối lập -s, và ngược lại.
Vậy một kết hợp từ sẽ được coi là đúng hay sai tuỳ theo nó có thoả mãn điều kiện nêu trên hay
không. Ví dụ:
– "Một con chó ốm". Câu đúng, vì:
"chó": động vật...
"ốm": trạng thái... động vật
– "Một con chó chết đang thở gấp". Câu sai vì:
2
"chó": động vật...
"chết": mất khả năng trao đổi chất
"thở": hoạt động trao đổi chất
Vậy chứng tỏ rằng khi hai từ A và B kết hợp với nhau thì chúng phải cùng chứa một nghĩa tố giống
nhau.
Tuy nhiên, thực tế vẫn có những kết hợp bất thường mà lại chấp nhận được và được coi là hay, bởi
đó là những câu, những kết hợp đòi hỏi phải có sự hiểu lại, hoặc chúng được tạo dựng nhờ các thủ
pháp tu từ như: nhân hoá, vật hoá hoặc cố tình vi phạm nguyên tắc tương hợp về nghĩa để gây hiệu
quả tu từ.
Ví dụ 1. "Thầy lí vội sủa lên mấy tiếng. Anh chồng bèn lấy thước phang cho một trận." (Văn học dân
gian)
Từ "sủa" chỉ kết hợp với "chó", nhưng ở đây, "thầy lí" đã được vật hoá, và câu trên được chấp nhận.
Ví dụ 2. Trong các câu sau đây, những thuộc tính của người đã được gán cho chó và cào cào theo lối
nhân hoá để trong kết hợp từ, sự tương hợp về nghĩa vẫn được bảo đảm.
– "Nhưng kẻ lên tiếng trước nhất là con Mực (...) Nó đứng lặng vẫy đuôi, đầu cúi xuống, hai mắt

ngữ nghĩa, việc làm quen với những vấn đề như vậy, vẫn là cần thiết để chuẩn bị cho việc tiếp xúc
với những giáo trình về ngữ nghĩa sâu hơn sau này.
Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt.
Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 182–187.
Nguồn: Net Ngôn ngữ
4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status