Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người việt, ý nghĩa của việc thờ thành hoàng làng và thờ vua hùng - Pdf 53

Mở đầu
Trong suốt chặng đuờng lịch sử hình thành và phát triền hành ngàn
năm qua, dân tộc Việt Nam đã kiến tạo nên một nền văn hoá phong
phú và đa dạng, mang bản lĩnh và bản sắc riêng. Trong số những
tinh hoa văn hoá dân tộc, có một nét truyền thống trong đời sống
văn hóa và tinh thần của người Việt là lòng tôn kính, yêu thương và
biết ơn ông bà, cha mẹ, tổ tiên, vì vậy chúng ta có tục lệ thờ cúng tổ
tiên, thờ thành hoàng làng. Sau đây chúng em xin trình bày đề tài
về “Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, ý nghĩa của
việc thờ Thành Hoàng làng và thờ vua Hùng.”
I. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
1. Khái niệm tín ngưỡng
Hiện nay, khái niệm tín ngưỡng được hiểu theo các hướng khác nhau nhưng
đều thống nhất rằng, tín ngưỡng là sự ngưỡng mộ, tin tưởng của con người vào các
lực lượng siêu nhiên, hư ảo, có tính chất thiêng liêng huyền bí.
Trong tác phẩm “ Văn hoá Việt Nam đỉnh cao Đại Việt”, Nguyễn Đăng Duy đã viết:
“Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào lực lượng siêu nhiên,
thần bí, hoặc do con người tưởng tượng ra những vị thần linh đến mức họ cho rằng
những lực lượng ấy có ảnh hưởng, chi phối đời sống, số phận của con người và gây
thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” (tr. 351); hoặc tác giả Đặng
Nghiêm Vạn cho rằng, “Trong tín ngưỡng phải có yếu tố thiêng liêng liên quan đến
một thế giới vô hình, đến những siêu linh, mà chính con người tưởng tượng và sáng
tạo ra nó” (“Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam”, tr. 67).
Trong đời sống thường ngày, khi đề cập đến tín ngưỡng người ta thường liên
tưởng đến những hiện tượng xã hội có tính chất linh thiêng, thần bí, thể hiện niềm tin
về một thế giới vô hình, về cuộc sống sau khi chết, về sự tồn tại của linh hồn người
chết và sự tác động của lực lượng này đối với cuộc sống hiện tại của con người. Hiện
1


tượng này gắn liền với các phong tục, tập quán, thói quen, truyền thống của một cộng

sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Nơi thờ cúng là ở gia đình và nhà
thờ họ.
Ở cấp độ làng xã, người Việt còn thờ cúng những người có công với làng xã và
được tôn vinh là Thành Hoàng và nơi thờ cúng ở đình làng.
Ở cấp độ Nhà nước, người Việt thờ cúng những người có công đối với đất
nước, Tổ quốc; như Các vua Hùng, thánh Gióng, Trần Hưng Đạo, Hồ Chủ Tịch …
Ở Việt Nam có 3 cộng đồng vốn từ xa xưa đã có quan hệ gắn bó chặt chẽ với
nhau, đó là: gia đình, làng xã và quốc gia. Vì vậy, tổ tiên gia đình, làng xã và đất
nước không tách rời nhau. Từ thực tế đó, chúng ta có thể hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên là một hiện tượng tâm lý xã hội thể hiện sự biết ơn của người còn sống đối với
người đã chết có công lao với cá nhân, gia đình, dòng tộc, làng xã, đất nước, thể hiện
niềm tin rằng, tổ tiên tuy đã chết nhưng linh hồn vẫn tồn tại ở một thế giới khác và
linh hồn tổ tiên có khả năng tác động tới đời sống, số phận của con cháu thông qua
các nghi lễ thờ cúng.
2. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
2.1. Khái quát chung về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
Trong các hình thái tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín
ngưỡng cổ truyền mang tính phổ quát của người Việt. Thờ cúng tổ tiên đã trở thành
một tập tục truyền thống, có vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống tinh thần của dân tộc
Việt Nam, là một trong những thành tố tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên rất giản dị : tin rằng tổ tiên mình là thiêng liêng, họ đi vào cõi vĩnh
hằng nhưng vẫn sống cạnh con cháu, họ phù hộ cho con cháu khi gặp tai ách, khó
khăn; vui mừng khi con cháu gặp may mắn , khuyến khích cho con cháu khi gặp điều
lành và cũng quở trách con cháu khi làm những điều tội lỗi…
Ở nước ta, thờ cúng tổ tiên không chỉ là tín ngưỡng phổ biến của người Việt –
tộc người đa số - mà còn lưu giữu ở một vài tộc người khác như người Mường, người
Thái…. Trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, trong khi nhiều tôn giáo, tín
ngưỡng dân gian khác đã phải chịu cảnh long đong , bị kết tội “ mê tín dị đoan” thì
3


ông bà và tổ tiên sẽ phù hộ độ trì cho con cháu.

4


+) Sự kính trọng biết ơn: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn được bắt nguồn từ lòng
hiếu thảo của con cháu. Quan hệ giữa bố mẹ đang sống với con cái là hiện thân của
mối quan hệ giữa tổ tiên với con cháu sau này. Sự kính hiếu cha mẹ được tiếp nối
bằng sự tôn thờ, sùng bái tổ tiên. Bổn phận kính trọng, báo hiếu, đền ơn công sinh
thành dưỡng… dục của bố mẹ cũng là bổn phận báo hiếu, ơn đền tổ tiên. Thờ phụng
tổ tiên thể hiện lòng hiếu thảo, sự thành kính biết ơn các bậc đã sinh thành, nuôi nấng
và tác thành cho mình. Tuy nhiên, con cháu chỉ được tổ tiên bao dung, che chở khi
sống xứng đáng với ước nguyện của tổ tiên. Mặt khác, con cháu chỉ tôn kính, qui
thuận và thờ phụng tổ tiên khi tổ tiên xứng đáng là tấm gương sáng cho con cháu noi
theo. Nếu ai, trong quá khứ có hành động đi ngược lại lợi ích của cộng đồng họ tộc và
gia đình, chẳng những không được kính trọng, tôn thờ mà còn bị nguyền rủa, trừng
phạt.
+) Sự sợ hãi: Trong cuộc sống con người còn gặp nhiều khó khăn, rủi ro, bất hạnh, sa
cơ, lỡ vận, bệnh tật hiểm nghèo …luôn đe doạ sự bình an của con người. Con người
còn thiếu tự tin vào chính bản thân khi phải đối mặt giải quyết với các vấn đề trên
trong cuộc sống của chính bản thân họ. Họ luôn mong muốn có sự giúp đỡ của các thế
lực khác nhau, trong đó họ cần đến sức mạnh của ông bà tổ tiên ở “thế giới bên kia”
che chở, nâng đỡ. Từ quan niệm dân gian về linh hồn, người ta cho rằng, nếu không
cúng tế linh hồn ông bà tổ tiên đầy đủ thì những linh hồn này trở thành ma đói và sẽ
mang lại rủi ro, quấy nhiễu cuộc sống của những người đang sống. Đồng thời, ở chế
độ phụ hệ quyền lực của người đàn ông, nhất là gia trưởng, tộc trưởng nam đã làm
nảy sinh ở phụ nữ, con cháu sự quy thuận lẫn cảm giác sợ hãi. Tâm trạng này không
phải chỉ tồn tại ở vợ và con cháu khi họ đang sống mà cả khi họ đã chết.
Trong cuộc sống của mỗi con người, càng về già, cái chết luôn là nỗi ám ảnh
kinh hoàng đối với mỗi người, con người không muốn nó diễn ra, ngay cả khi họ có

như các vị thần linh khác có thể giáng tai hoạ xuống con cháu, vì thế cần phải kính
trọng, thờ cúng thường xuyên thì tổ tiên mới không làm hại, mới che chở, bảo vệ, phù
giúp. Đối tượng thờ cúng thời kỳ này được chuyển từ tổ tiên tôtem sang tổ tiên thật,
6


cùng huyết thống đã chết. Đặc điểm này đã tạo nên nét khác biệt trong tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên ở Việt Nam và Trung Hoa.
Như vậy, có thể xem nguồn gốc xã hội sâu xa mang tính khách quan của tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên là ở tính hạn chế của lực lượng sản xuất và kèm theo đó là sự
hạn chế, tù túng trong quan hệ kép giữa con người với tự nhiên và giữa con người với
con người trong xã hội. Còn nguồn gốc trực tiếp, mang tính xã hội của nó là sự phân
hoá xã hội mà hệ quả của sự phân hoá ấy là việc đề cao vai trò của người đứng đầu
trong gia đình - thị tộc.
2.2.3. Cơ sở xã hội
-

Có thể nói rằng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cùng huyết thống chỉ thực sự ra

đời và phát triển trong thời kỳ thị tộc phụ quyền. Từ những cơ sở kinh tế nếu trên đã
dẫn đến một số hệ quả như sau: Trong chế độ phụ quyền, địa vị của người đàn ông
được đặt lên hàng đầu, quyền thừa kế tài sản theo dòng họ cha và tiếp nối đến thế hệ
sau đã củng cố vững chắc vị trí của người đàn ông trong xã hội.. Khi trình độ sản xuất
phát triển, của cải xã hội làm ra ngày càng nhiều làm xuất hiện một lớp tích luỹ được
nhiều của cải và dẫn tới có quyền uy chi phối người khác và là mầm mống cho sự
phân chia xã hội thành giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, vị trí của người đàn ông
trong gia đình và ngoài xã hội ngày càng được củng cố - cơ sở đích thực trong quá
trình chuyển đổi từ việc thờ cúng tổ tiên sang việc thờ cúng tổ tiên là con người thực
cùng chung dòng máu.
-

chú, ma chay, tang lễ, mồ mả và đốt vàng mã.
- Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo: Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến sự
giữ gìn và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam, trước hết là quan niệm
của Phật giáo về cái chết, về kiếp luân hồi và nghiệp báo,… Phật giáo cho rằng, sống
chết là quy luật tất yếu của thế gian giống như mặt trời lặn rồi lại mọc, mọc rồi lại lặn
mà thôi. Sống và chết chỉ có nghĩa là thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác.
Chết là bắt đầu của một chu kỳ sống mới, một kiếp sống mới. Theo Đạo Phật, không
có kiếp sống đầu và kiếp sống cuối cùng. Sau khi chết, linh hồn con người sẽ được tái
sinh, đầu thai vào một kiếp khác. Kiếp đó là hạnh phúc hay đau khổ, tuỳ thuộc vào
bản thân họ đã sống thiện hay ác trong quá khứ.

8


Những tư tưởng cơ bản của Phật giáo có ảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển
của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, nhưng không vì thế mà nó là sự sao
chép y nguyên tư tưởng của Phật giáo. Người Việt Nam quan niệm rằng, cha mẹ và tổ
tiên luôn lo lắng và quan tâm cho con cái ngay cả khi họ đã chết. Người sống chăm lo
đến linh hồn người chết, vong hồn người chết cũng quan tâm đến cuộc sống của
người đang sống.
2.3. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống người Việt ngày nay
2.3.1. Thờ cúng tổ tiên trong gia đình và gia tộc
Mang đặc tính của cư dân nông nghiệp đa thần giáo, trong gia đình người ta thường
thờ phụng nhiều vị thần. Bên cạnh việc thờ tổ tiên, thờ Phật, người ta còn thờ bà Cô,
ông Mãnh (ông Hoàng ) là những người thân thích, chết trẻ hoặc chết vào giờ linh
thiêng. Ở một số gia đình, vị trí đặt bàn thờ được sắp xếp theo quy định, ví dụ thờ
Thánh sư ở trong góc nhà, thờ Tiền chủ ở bàn thờ đặt ngoài sân, thờ bà Cô, ông Mãnh
ở cạnh thấp hơn bàn thờ tổ tiên…Trong các vị thần được thờ tại gia, thường không có
vị thần nào được sắp xếp ngang hang với tổ tiên. Đây là điểm khác biệt với một số
dân tộc khác ở Đông Á. Ở Hàn Quốc người ta chỉ lập bàn thờ và dán bài khi có việc

coi việc tang ma là trọng sự, gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên
2.3.2. Lễ giỗ tỗ Hùng Vương
Ngoài việc tôn thờ công đức của cha ông, tộc họ, những người đã khuất cùng
huyết thống người Việt còn tôn thờ tất cả những người có công với nước, với xóm
làng, những anh hung dân tộc. Cũng trong truyền thống ấy, với người Việt Nam từ
bao đời nay ngày giỗ tổ Hùng Vương luôn được coi trọng, và đó được gọi ngày ngày
“ Quốc lễ ”. Đó là sự tưởng nhớ, là sự trở về cội nguồn của dân tộc. Và đây được coi
là ngày giỗ quan trong và thiêng liêng nhất của cộng đồng người Việt:
“ Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba”
10


Mùng Mười tháng Ba hàng năm đã trở thành ngày giỗ của vua Hùng, thành ngày hội
tụ con cháu khắp mọi miền đất nước hướng về đất Tổ. Có thể nói ngày giỗ tổ Hùng
Vương là sự phát triển cao có tính chất trừu tượng hóa ý thức về cội nguồn, bắt rễ sâu
xa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở làng xã, trong gia đình và gia tộc.
2.4. Giá trị lịch sử, văn hóa và đạo đức của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Việt
-

Giá trị lịch sử, văn hóa.
Trên cơ sở phân tích những bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, chúng ta có
thể đánh giá thống nhất về những giá trị lịch sử, văn hóa của di sản văn hóa phi vật
thể đặc biệt này.
Thờ cúng Tổ tiên ở Việt Nam là một tín ngưỡng có sức sống lâu bền, có gốc rễ
sâu xa trong cộng đồng người Việt. Do đó, thờ cúng Tổ tiên là hiện tượng xã hội có
tính phổ biến. “Thờ cúng tổ tiên là nghi thức mang hiệu quả đặc biệt trong việc
giáo dục chữ Hiếu, chữ Nhân, chữ Lễ, chữ Tâm là những phẩm chất cần thiết nhất
để con người có thể được xem là hoàn thiện trong nhân cách. Một trong những ảnh

đó đã được củng cố và phát huy trong lịch sử chống ngoại xâm cũng như trong kiến
thiết xây dựng đất nước khi hòa bình. Biểu tượng Hùng Vương đã trở thành chỗ
dựa của niềm tin, thành điểm tựa cho sự đoàn kết quốc gia.
-

Cùng với việc phân tích những chân giá trị của tín ngưỡng Thờ tổ tiên ở Việt

Nam, các tác giả cũng đồng thời khẳng định về sức sống của tín ngưỡng này trong
đời sống đương đại : “Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn được các triều đại phong
kiến thừa nhận và thể chế hóa bằng pháp luật.” Tín ngưỡng thờ cúng ông Tổ dòng
họ cũng đang được phục hồi. Các dòng họ đua nhau xây dựng và tu sửa từ đường,
mồ mả tổ tiên, lập lại gia phả. Nhiều dòng họ cử người ra Bắc vào Nam sưu tập tài
liệu, biên soạn gia phả để lưu truyền cho đời sau.
Về phần mình, chúng tôi cho rằng, với những nội dung giá trị tinh thần không
thể phủ nhận, tín ngưỡng thờ Quốc Tổ Hùng Vương nói riêng và tín ngưỡng thờ
12


cúng tổ tiên nói chung đã trở thành một trong những di sản văn hóa độc đáo của
quốc gia dân tộc Việt Nam, một bộ phận hữu cơ của kho tàng di sản văn hóa nhân
loại, xứng đáng được bảo vệ và phát huy giá trị.
-

Giá trị đạo đức:

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt trong quá trình hình thành, tồn tại của
nó đã góp phần tạo ra những giá trị đạo đức truyền thống như lòng hiếu thảo, lòng
nhân ái, tính cộng đồng, lòng hiếu học và lòng yêu nước. Vì thế, tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên đã trở thành một cái gì đó vĩnh hằng cùng với sự tồn tại và phát triển
của dân tộc. Hiếu với tổ tiên, ông bà, cha mẹ còn được nâng lên cao hơn, đẹp hơn

đặt ban thờ tổ tiên cũng được chú trọng. Ngày nay, để đặt một ban thờ, người ta không
còn tùy tiện chỗ nào cũng được như trước mà cần phải xem hướng ban thờ, xem kích
thước ban thờ về chiều cao, chiều dài, chiều rộng. Ngày đặt ban thờ hay bốc bát
hương cũng là một sự kiện quan trọng của gia đình. Những gia đình có điều kiện,
người ta thường dành một phòng riêng, trên tầng cao nhất, hay khu vưc sạch sẽ và
trang trọng nhất trong ngôi nhà làm phòng thờ. Sự thay đổi trong cách thức bài trí bát
hương và không gian thờ tổ tiên trong các gia đình ngày nay là chỉ báo rõ nét thể hiện
tầm quan trọng của thờ cúng tổ tiên trong đời sống tâm linh người Việt Nam đương
đại.
Tầm quan trọng của thờ cúng tổ tiên bên cạnh sự biểu hiện qua không gian thờ
cúng tổ tiên trong gia đình còn thể hiện qua sự chú trọng xây dựng hệ thống nhà thờ
tổ, nhà thờ dòng tộc. Trong những năm gần đây, nhiều nhà thờ họ đã được tu bổ, xây
mới. Nhiều gia đình chi phí đóng góp xây dựng nhà thờ tộc, nhà thờ họ lên tới vài tỉ
đồng. Xu thế xây dựng nhà thờ tộc được phục hồi nhưng xu thế cá nhân hóa thờ cúng
tổ tiên cũng phát triển rất mạnh mẽ. Tính cá nhân hóa mà chúng tôi đề cập tới ở đây
để chỉ xu thế thờ cúng tổ tiên ngày nay được chuyển vào từng thành viên trong gia
đình. Nếu trước đây, thờ cúng tổ tiên được tập trung tại nhà dòng trưởng (trưởng tộc,
trưởng họ, trưởng chi, con trưởng) thì nay, mọi thành viên trong gia đình đều thờ cúng
14


tổ tiên tại gia đình mình. Nhiều gia đình vẫn còn giữ được tục lệ cứ giỗ tết tập trung
lại vào nhà con trưởng để làm giỗ. Tuy nhiên, tại nhiều gia đình, ngày giỗ không còn
là ngày con cháu tập trung như trước nữa. Hình thức cúng giỗ mang tính cộng đồng
chung các thành viên trong gia đình được chuyển thành hình thức cúng giỗ cá thể.
Mỗi thành viên trong gia đình làm lễ cúng giỗ người đã mất tại nhà mình. Như vậy,
giả dụ một ông bố có 5 người con, khi ông bố mất đi, nếu theo hình thức cúng giỗ
trước kia, các con sẽ tập trung tại nhà con trai trưởng để làm lễ cúng giỗ bố vào ngày
giỗ và không làm tại nhà riêng của mình thì ngày nay cả 5 người con không phân biệt
trai hay gái sẽ tiến hành làm lễ cúng giỗ bố tại nhà riêng của mình. Nếu cho rằng

hơn”. Vì sao linh thiêng thì không ai giải thích. Mô hình thường thấy của một ban
thờ tổ tiên hiện nay trong các gia đình là môt ban thờ hoặc trang thờ trên đó bày các
bát hương. Ban thờ tổ tiên cũng đồng thời là ban thờ Thần linh cai quản ngôi nhà nên
bài trí một ban thờ tổ tiên hiện nay thông thường gồm 3 bát hương. Bát to nhất ở giữa
thờ thần linh; bát bên phải to thứ hai thờ gia tiên dòng tộc không kể nội hay ngoại và
bao nhiêu đời; bát bên trái nhỏ hơn thờ những người mất trẻ (bà cô, ông mãnh) của
dòng tộc. Cũng có những gia đình bài trí khác, gồm một bát hương thần linh ở giữa;
bên phải là bát hương thờ bên nội; bên trái là bát hương thờ bên ngoại… Hiện không
có quy chuẩn cho sự bài trí ban thờ tổ tiên.
Sự chú trọng thờ cúng tổ tiên ngày nay còn được thể hiện ở sự chú trọng phần
mộ dòng tộc. Từ bao đời, phần mộ tổ tiên luôn được con cháu coi trọng và gìn giữ.
Tục ngữ có câu “ giữ như giữ mả tổ”. Câu tục ngữ đã thể hiện được tầm quan trọng
của mồ mả tổ tiên đối với người sống. Tuy nhiên, theo chúng tôi, đã có nhiều biểu
hiện chú trọng phần mộ tổ tiên một cách hơi thái quá trong xã hội ngày nay. Nhà nhà
đua nhau xây phần mộ nhà mình cho thật to, thật đẹp. Mộ là ngôi nhà của người mất.
Việc con cháu xây dựng cho tổ tiên một ngôi nhà mới, nhà đẹp là một nét đẹp văn hóa
nhưng đua nhau xây mộ sao cho mộ nhà mình phải to, phải đẹp hơn những nhà khác
lại là vấn đề cần phải suy nghĩ. Hiện chưa ai chứng minh được mộ to thì phúc lớn, mộ
nhỏ thì phúc bé. Chính lòng mong mỏi mộ nhà mình phải hơn nhà khác mà chúng ta
thấy hiện nay nhiều nghĩa trang xuất hiện tình trạng các mộ xây lấn vào nhau khiến
16


con cháu đến thắp hương không còn chỗ mà đứng mà đi vào phần mộ nhà mình.
Chăm sóc phần mộ tổ tiên là một nét văn hóa truyền thống của người Việt nhưng có lẽ
không nhất thiết phải đua nhau như vậy. Nhiều gia đình đã lâm vào tình trạng kinh tế
khó khăn, anh em bất đồng với những khoản đóng góp không nhỏ cho việc xây dựng
phần mộ, nhà thờ như vậy. Chúng ta cần tìm một cách nào để tránh lãng phí và phiền
hà cho những người thân đang sống thì có lẽ cũng sẽ hợp ý tổ tiên hơn.
II. Ý nghĩa của việc thờ cúng Vua Hùng

vua Hùng được gọi là Thánh Tổ và đựơc chính quyền Trung ương công nhận; nhân
dân ta trên khắp mọi miền đất nước xây đền thờ phụng. Trải qua hàng trăm năm, từ
thế kỷ XIII đến thế kỷ XV từ ngữ danh xưng Hùng Vương đã được tích tụ dần trở
thành chính thống.
Năm 1470, bằng việc soạn dựng “Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh Vương
triều Hùng” triều đại Hậu Lê đã khẳng định vị trí độc tôn dựng nước, sinh dân thuộc
về các Vua Hùng. Các Vua Hùng được nhân dân lập bàn thờ chính tại núi Nghĩa Lĩnh,
xã Hy Cương, thành phố Việt Trì (Phú Thọ) và còn rất nhiều các đền miếu thờ cúng
Hùng Vương và tướng lĩnh dưới thời các Vua Hùng ở Phú Thọ và nhiều địa phương
trong cả nước. Tín ngưỡng thờ Hùng Vương trong tiến trình lịch sử luôn là yếu tố nội
lực của văn hóa dân tộc, góp phần hun đúc lòng tự hào, tạo nên tinh thần đoàn kết,
yêu nước thương nòi của người Việt Nam.
Bằng chứng sinh động để khẳng định hệ tín ngưỡng thờ Hùng Vương là hơn 80
triệu con Lạc, cháu Hồng sinh sống trên dải đất hình chữ S đã lập hơn 1.400 di tích
thờ các vua Hùng, rồi tổ chức lễ hội hàng năm để bày tỏ tấm lòng tri ân tiên tổ. Đền
Hùng không phải là gốc của một tôn giáo, các Vua Hùng không phải là giáo chủ,
người Việt thờ cúng Hùng Vương không có học thuyết và cũng không có giáo hội
truyền bá, nhưng từ hàng ngàn đời nay, người Việt Nam vẫn hành hương về đền Hùng
để tri ân quốc Tổ, những người đã có công dựng nước. Lòng biết ơn, thành kính Tổ
tiên đã được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát biểu trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
năm 1969: “Từ lòng biết ơn đến sự tôn kính các thế hệ tiền nhân và tổ tiên gia đình,
dòng họ, dân tộc ta đã phát triển hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần ấy thành một

18


đạo lý và tín ngưỡng dân tộc độc đáo, là tín ngưỡng và phụng thờ một Tổ tiên chung
của toàn dân tộc - các Vua Hùng”.

2. Ý nghĩa của việc thờ cúng Vua Hùng.

Đây là một bước quan trọng nhằm hoàn thiện Hồ sơ khoa học đề nghị tổ chức
UNESCO công nhận “Tín ngưỡng thờ Hùng Vương” là di sản văn hóa phi vật thể của
nhân loại.
III. Ý nghĩa của việc thờ Thành Hoàng làng
1.Tên gọi, nguồn gốc thờ thành Hoàng Lạc.
a. Tên gọi
Thành hoàng xuất phát từ chữ Hán: Thành là cái thành, hoàng là cái hào bao quanh cái
thành; và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái
thành. Nhà văn Sơn Nam cho biết thêm: Ông thần ở đình làng gọi là thần Thành
hoàng, cai quản khu vực trong khung thành. Thoạt tiên là thần ngự trị nơi thị tứ, sau
áp dụng (cả) nơi thôn xóm, (vì) vẫn có điếm canh bố trí bao quanh...
Cũng theo Sơn Nam, thần Thành hoàng, theo thông lệ, thờ thần đàn ông, vì khí Dương
đem sức mạnh cho muôn loài, muôn vật. Và gọi ông Thần hoàng là sai nghĩa, vì cái tên
này chỉ là thứ nghi lễ đốt tờ giấy vàng, tức bản sao sắc phong do nhà vua tặng cho cha
mẹ, ông bà đã qua đời của quan chức cao cấp thời phong kiến; và tục này ở trong Nam
Bộ không có.
Bởi vậy, khi trích lại đoạn viết về tục "thờ thần" ở trong sách Việt Nam phong
tục của Phan Kế Bính, nhà văn Sơn Nam đã sửa từ "Thần hoàng" ra "Thành hoàng", cốt
để người đọc không còn lầm lẫn giữa hai thứ. Tuy nhiên, xét trong sách Việt Nam
phong tục, lễ Thần hoàng được xếp vào mục Phong tục trong gia tộc; còn việc thờ
phụng Thần hoàng được xếp vào mục Phong tục hương đảng, thì rõ là tác giả sách đã
chỉ ra đó là hai thứ khác nhau.

20


Điểm đáng chú ý khác nữa, vì là vùng đất mới, nên ở Nam Bộ nhiều đình làng, thần chỉ
có tên là Bổn cảnh Thành hoàng hay Thành hoàng Bổn cảnh. Theo sách Minh
Mạng chính yếu, quyển thứ 12, năm Minh Mạng thứ 20 (1839), thì nhà vua đã chuẩn y
lời tâu của Bộ Lễ xin hạ lệnh cho các địa phương lập thêm thần vị Bổn cảnh. Đây là

sống.
Tương truyền rằng, khoảng năm 1938 đến năm 1940 của thế kỷ XX, ở xóm Dinh Thị
xã Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc có ông Nguyễn Đình Cận làm nghề nuôi dê lấy sữa. Hàng
ngày ông dẫn đàn dê đến chăn ở khu đồi làng Khai Quang. Mỗi lần ông đi qua đình
làng thì ngai thờ Thành hoàng đổ nhào về phía trước. Nhiều lần như vậy, ông Thủ Từ
lấy làm lạ nên chú ý đến chuyện không bình thường này. Ông thấy, cứ mỗi lần ông Cận
đi qua đình là ngai thờ Thành hoàng đều bị đổ. Ông trình bày đầu đuôi mọi sự với
hương chức làng. Hương chức cùng các vị bô lão họp bàn, làm lễ khấn xin thần linh
báo mộng để dân làng biết lý do việc ngai của thành hoàng đổ. Thần linh báo mộng
rằng: Thành hoàng cũ Thượng đế chuyển sang làm việc khác và chỉ định ông Nguyễn
Đình Cận thay thế. Sau đó, làng làm lễ đón ông Cận về thờ.
Thời xưa, các thành hoàng được vua sắc phong (trừ những tà thần, yêu thần...) thành ba
bậc: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần, tuỳ theo sự tích và công
trạng của các vị thần đối với nước với dân, với làng xã, biểu hiện của lịch sử, đạo đức,
phong tục, pháp luật cũng như hy vọng sống của cả làng.
2.Ý nghĩa việc thờ thành Hoàng Lạc
Thành hoàng có sức toả sáng vô hình như một quyền uy siêu việt, khiến cho làng
quê trở thành một hệ thống chặt chẽ.

22


Chính sự thờ phụng này là sợi dây liên lạc vô hình, giúp dân làng đoàn kết, nếp
sống cộng cảm hoà đồng, đất nề quê thói được bảo tồn. Vì lẽ đó, các hương chức cũng
như các gia đình trong làng, mỗi khi muốn mở hội hoặc tổ chức việc gì đều phải có lễ
cúng thành hoàng để xin phép trước. Dường như sự ngưỡng mộ thành hoàng của người
dân không kém gì sự ngưỡng mộ đối với tổ tiên của họ. Hàng năm, ngày giỗ Thành
hoàng là ngày hội đông vui nhất của làng, của phố. Trong những ngày hội, ngoài việc
làm cỗ, ăn uống còn rất nhiều nghi lễ như diễn lại sự tích về Thành hoàng, tế lễ, rước
kiệu hay các trò vui: đấu võ, chọi gà, thổi cơm thi, bơi chải, đánh đu, đánh cờ người,

ngưỡng mộ thành hoàng cũng chẳng kém gì sự ngưỡng mộ tổ tiên.
Ngày nay, lễ hội làng đang phát triển mạnh mẽ và nở rộ ở khắp nơi. Tục thờ cúng
thành hoàng, diễn lại thần tích, rước xách, tế lễ đang được phục hồi, vì có như vậy mới
ghi nhớ được công lao của các vị tiền bối với nước, với làng.

Kết luận
Trong đời sống xã hội hiện đại, đã có thời kỳ người ta nghĩ đơn giản
rằng xã hội càng phát triển, khoa học kỹ thuật càng tiến bộ thì con
người càng bớt đi tìm niềm tin vào thế giới vô hình. Có lẽ điều này
chỉ đúng một phần, vì thế khi thế giới càng chia nhỏ rành mạch, con
người càng mở rộng tầm nhìn thì những khoảng trống, nhưng điều
chưa thể giải thích càng lớn. Đó là điều bí ẩn, của thế giới tâm linh.
Vì thế càng ngày tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên càng có vai trò quan
trọng trong đời sống tâm kinh của mỗi người Việt Nam, nó là một
trong những nhân tố góp phần quan trọng để bảo tồn và duy trì văn
háo truyền thồng. Tín ngưỡng thờ cúng tôt tiên là một tập tục mang
đâm nét văn hóa của người Việt.

24


MỤC LỤC
Mở đầu..............................................................................................................................................1
I. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt..................................................................................1
1. Khái niệm tín ngưỡng.....................................................................................................................1
2. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.................................................................................3
2.1. Khái quát chung về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.............................................3
2.2. Cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong cộng đồng người Việt...........................4
2.2.1. Xuất phát từ nhận thức, từ quan niệm tâm linh của con người về thế giới.........................4
2.2.2. Cơ sở kinh tế..............................................................................................................................6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status