ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
DOÃN THÀNH KIÊN
QUAN HỆ CAMPUCHIA - TRUNG QUỐC
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
DOÃN THÀNH KIÊN
QUAN HỆ CAMPUCHIA - TRUNG QUỐC
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60310206
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thành Văn
Hà Nội - 2014
PHỤ LỤC
Hoạt động chính trị ngoại giao giữa lãnh đạo cấp cao Campuchia - Trung
Quốc từ năm 2000 đến 2014 ......................................................................... 113
Nội dung một số Tuyên bố chung, Thông cáo chung giữa Campuchia và
Trung Quốc từ năm 2000 đến nay................................................................. 116
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ASEAN
Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CNRP
Cambodia National Rescue Party
Đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia
CPP
Cambodian People's Party
Đảng Nhân dân Campuchia
FUNCINPEC
National United Front for an Independent, Neutral,
Peaceful, and Cooperative Cambodia
Đảng Mặt Trận dân tộc thống nhất vì sự phát triển
với sự trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế, quân sự và chính trị, Trung Quốc triển khai
chiến lược “Hướng Nam”, trong đó khu vực châu Á - Thái Bình Dương và khu
vực Đông Nam Á luôn được đặt vị trí ưu tiên số một. Đây là một trong ưu tiên
chiến lược quan trọng của Trung Quốc nhằm chiếm không gian, mở rộng ảnh
hưởng cho sự trỗi dậy, đồng thời tìm cách thoát khỏi vành đai bao vây chiến
lược của Mỹ. Việc Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á Thái Bình Dương và tranh chấp lãnh thổ giữa các nước ở Biển Đông, Biển Hoa
Đông đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích, tham vọng trỗi dậy, giấc mộng
“phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa - giấc mơ lớn nhất của Trung Quốc”.
Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc tăng cường quan hệ hợp
tác với Campuchia, nâng quan hệ Campuchia - Trung Quốc lên tầm “Quan hệ
đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”. Đây là một trong những vấn đề nổi bật,
thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế.
Campuchia và Trung Quốc đều là hai quốc gia láng giềng có chung
đường biên giới với Việt Nam. Vì vậy, mọi diễn biến, biến động về chính trị,
kinh tế, quốc phòng - an ninh, văn hóa - xã hội ở Campuchia và Trung Quốc
đều có tác động, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, trước mắt hoặc lâu dài
đối với Việt Nam, nhất là về chính trị, quốc phòng - an ninh. Quan hệ giữa
Việt Nam với Trung Quốc, giữa Việt Nam với Campuchia đã có từ lâu đời và
5
trải qua không ít những thăng trầm. Bước sang thế kỷ XXI, trước bối cảnh
nhu cầu tìm hiểu về những vấn đề trong quan hệ quốc tế, khu vực, nhất là
thực trạng, xu thế phát triển của các quốc gia xung quanh Việt Nam gia tăng,
khiến chúng ta cần có sự quan tâm nghiên cứu cụ thể hơn để làm rõ thực trạng
quan hệ Campuchia - Trung Quốc và tác động đối với Việt Nam.
Do đó, việc nghiên cứu quan hệ Campuchia - Trung Quốc những năm
đầu thế kỷ XXI có ý nghĩa quan trọng để đánh giá về kết quả, tác động của
quan hệ này đối với Việt Nam. Đây là cơ sở để đưa ra những giải pháp phát
Quốc kể từ năm 2000 đến năm 2014.
- Đánh giá thành công, hạn chế trong quan hệ Campuchia - Trung Quốc
từ năm 2000 đến 2014 trên các lĩnh vực chủ yếu; rút ra tác động trong quan hệ
Campuchia - Trung Quốc đối với mỗi nước.
- Rút ra những tác động, nhất là những tác động tiêu cực của quan hệ
Campuchia - Trung Quốc đối với Việt Nam.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là một vấn đề nổi bật, đáng chú ý, quan hệ Campuchia - Trung Quốc
những năm đầu thế kỷ XXI giành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu,
phân tích chính trị của Việt Nam và thế giới. Đã có một số bài viết, bài bình
luận đánh giá về thực chất quan hệ Campuchia - Trung Quốc, những tác động
ảnh hưởng của quan hệ này đối với mỗi nước và đối với Việt Nam.
4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Quan hệ Campuchia - Trung Quốc từ 1993 đến nay của Both Sreng,
7
Luận văn thạc sỹ quan hệ quốc tế, Học viện Ngoại giao, Hà Nội, 2011 đã
cung cấp một số thông tin, tư liệu cơ bản về quan hệ Campuchia - Trung
Quốc kể từ năm 1993 đến năm 2010 trên các lĩnh vực chủ yếu dựa trên hai
mặt thành tựu và hạn chế. Luận văn cho biết, những thành tựu đạt được trong
quan hệ Campuchia - Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng, góp phần thiết thực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của Campuchia, đáp ứng lợi ích hai
nước, tuy nhiên quan hệ này đứng trước hàng loạt các vấn đề nhạy cảm và
phức tạp, tác động tiêu cực trên nhiều lĩnh vực đối với Campuchia. Luận văn
đã rút ra đánh giá thực trạng quan hệ Campuchia - Trung Quốc, bài học đối
với Campuchia; đồng thời tác giả dự báo triển vọng quan hệ Campuchia Trung Quốc và đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ hai nước.
Sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Campuchia trong những năm
đầu thế kỷ XXI của Nguyễn Thành Văn (Tạp chí Khoa học và chiến lược,
lực quốc gia của Trung Quốc đối với Campuchia, góp phần giúp Trung Quốc
đẩy mạnh chiến lược xây dựng liên minh khu vực để chống lại ảnh hưởng của
Mỹ và tăng cường an ninh riêng của mình ở Đông Nam Á.
China and Cambodia: With Friends Like These... của Viện nghiên cứu
Jamestown Foundation/Mỹ, tháng 1/2013 đã phân tích những thành công, kết
quả đạt được trong quan hệ Campuchia - Trung Quốc thời gian qua và dự báo
trở ngại trong quan hệ hai nước trong tương lai. Bài viết mô tả việc Trung
Quốc ủng hộ các chế độ chính trị khác nhau ở Campuchia từ năm 1960 đến
nay nhằm duy trì ảnh hưởng, nhấn mạnh những thành công đạt được trong các
lĩnh vực hợp tác giữa hai nước từ năm 2010 đến 2012. Tác giả đặt ra ba thách
thức lớn trong quan hệ Campuchia - Trung Quốc trong tương lai gồm: chính
sách ngoại giao của Campuchia với các nước nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc vào
Trung Quốc; một số tác động tiêu cực từ đầu tư kinh tế, viện trợ của Trung
9
Quốc cho Campuchia và hoài nghi về việc duy trì quyền lực lãnh đạo lâu dài
của chính quyền Campuchia hiện nay.
Cambodia - China Relation: Past, Present and Future của nghiên cứu
sinh Phou Sambath, 2011, Viện quan hệ quốc tế, Đại học Thành Công/Trung
Quốc đã tiếp tục kế thừa quan điểm trước đó của các học giả và đưa ra nhiều
số liệu đánh giá về quan hệ Campuchia và Trung Quốc kể từ khi hai bên thiết
lập quan hệ trên 4 lĩnh vực chủ yếu là chính trị - các khía cạnh ngoại giao,
quân sự, kinh tế và văn hóa - giáo dục - khoa học. Từ đó, bài viết dự báo, mặc
dù một số vấn đề tồn tại nhưng trên cơ sở quan hệ truyền thống và lợi ích,
quan hệ Campuchia - Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng cường và củng cố trong
những năm tới. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số biện pháp thúc đẩy
quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới.
Rõ ràng là nghiên cứu về quan hệ Campuchia - Trung Quốc nói chung
6.2. Nguồn tài liệu thứ cấp
- Các công trình khoa học đã được công bố, bao gồm các bài viết đăng ở
tạp chí chuyên ngành, sách tham khảo, các công trình nghiên cứu tiếng Việt.
- Tài liệu nghiên cứu, tài liệu dịch từ các cơ quan nghiên cứu, ý kiến của
các chuyên gia, nhà hoạt động chính trị do Thông tấn xã Việt Nam phát hành.
- Số liệu, thông tin do các cơ quan thông tấn, báo chí quốc tế có uy tín và
các số liệu tham khảo, dịch từ báo chí Việt Nam.
7. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn
7.1. Ý nghĩa khoa học
- Luận văn đề cập đến vấn đề có ý nghĩa thiết thực nhưng tương đối mới
11
và có nhiều vấn đề khoa học cần phải làm rõ, trong đó tập trung khái quát, hệ
thống và cụ thể hóa quan hệ hợp tác Campuchia - Trung Quốc trong những
năm đầu thế kỷ XXI trên các lĩnh vực chủ yếu, từ đó làm rõ sự gia tăng ảnh
hưởng của Trung Quốc đối với Campuchia, đánh giá thành công, hạn chế và
tác động của quan hệ này đối với mỗi nước.
- Rút ra tác động ảnh hưởng của quan hệ hợp tác Campuchia - Trung
Quốc những năm đầu thế kỷ XXI đối với Việt Nam, từ đó nhằm đưa ra các
luận điểm khoa học phục vụ cho công tác đối ngoại của Việt Nam hiện nay.
7.2. Đóng góp của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa và cập nhật tư liệu về quan hệ Campuchia và
Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI.
- Trên cơ sở làm rõ thực trạng quan hệ Campuchia - Trung Quốc, đưa ra
những đánh giá, tác động, nhất là đối với Việt Nam. Từ đó, đưa ra những luận
cứ khoa học có tính tham khảo để hoạch định chính sách đối ngoại phù hợp
với sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Campuchia hiện nay.
- Nội dung của luận văn có thể được tham khảo cho việc nghiên cứu, học
tập, giảng dạy về chủ đề này ở bậc đại học và sau đại học.
Á. Điều chỉnh này mang tính chiến lược, thực chất và lâu dài nhằm tạo thế
đứng ở khu vực được dự báo sẽ là trung tâm quyền lực mới của thế giới.
Mỹ suy giảm sức mạnh tương đối, nhưng chủ động điều chỉnh trọng tâm
chính sách, cách thức tiếp cận nhằm duy trì, củng cố ảnh hưởng trên phạm vi
13
toàn cầu trong cục diện mới. Chính sách đối ngoại linh hoạt, chú trọng “sức
mạnh thông minh” của chính quyền Obama đã đạt được một số thành công
nhất định, giúp Mỹ “thích nghi” với sự thay đổi ngày càng rõ nét về tương
quan lực lượng. Mặc dù kinh tế châu Âu (EU) đang từng bước hồi phục, song
vị thế và ảnh hưởng của EU đối với các vấn đề quốc tế có phần suy giảm,
nhất là các vấn đề quốc tế liên quan đến kinh tế. Trong khi đó, Trung Quốc
trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế, chính trị đã và đang thách thức vị thế của các
cường quốc khác, đặc biệt là Mỹ. Do sự trỗi dậy của Trung Quốc, Mỹ lập tức
triển khai mạnh mẽ chiến lược tái cân bằng tại khu vực Đông Nam Á, nhằm
thu hẹp không gian chiến lược của Trung Quốc và thắt chặt hơn nữa quan hệ
với các đồng minh, đối tác tại châu Á - Thái Bình Dương như với Nhật Bản,
Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia nhằm kiềm chế tham vọng của Trung Quốc.
Sau khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới năm 2008, nhất là trước sự
phục hồi mạnh mẽ của các nền kinh tế mới nổi, tranh thủ vị thế của mình, các
nước thuộc Nhóm tổ chức các nền kinh tế lớn mới nổi (BRICS) tăng cường
hợp tác nhằm gia tăng sức ép lên các nước phát triển, đồng thời đã có những
bước can dự mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực chính trị - an ninh. Những động thái
này thể hiện rõ tham vọng của Nga, Brasil và Ấn Độ muốn đẩy nhanh quá
trình hình thành trật tự đa cực. Sự trở lại của Tổng thống Putin khiến quan hệ
Nga - Trung tiếp tục được củng cố cả về song phương và đa phương (trong
khuôn khổ Tổ chức hợp tác Thượng Hải - SCO) nhằm tạo đối trọng chiến
lược với Mỹ và EU. Chính vì vậy, quan hệ Nga - Mỹ có sự bất đồng trong
tranh gay gắt giữa các nền kinh tế, song cũng cho thấy nhu cầu hợp tác tiếp
tục là xu thế lớn. APEC thúc đẩy mở rộng hợp tác thương mại, đầu tư gắn với
ứng phó các thách thức phi truyền thống.
1
Lê Khương Thùy, Quan hệ Mỹ - Trung Quốc thập niên đầu thế kỷ XXI, Viện nghiên cứu châu Mỹ, 2012, Tr.17
15
Tuy nhiên, khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục đối mặt với nhiều
vấn đề nổi cộm như tranh chấp biên giới lãnh thổ gia tăng; các nước vừa và
nhỏ đứng trước sức ép bị lôi kéo vào cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn,
nhất là Trung Quốc và Mỹ; các vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng
gay gắt hơn, cùng với những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội ở một số
nước. Trong những năm gần đây, khu vực này đặc biệt nóng lên bởi sự bùng
phát của các tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải như giữa Trung Quốc - Nhật Bản,
Đài Loan - Nhật Bản, Nhật Bản - Hàn Quốc tại Biển Hoa Đông; giữa Trung
Quốc với một số nước ASEAN tại Biển Đông. Mức độ gay gắt của một số
tranh chấp như Trung Quốc - Nhật Bản về Senkaku/Điếu Ngư, Trung Quốc Philippines về Scarborough lên mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, đe
dọa an ninh và ổn định ở khu vực, dẫn tới bùng phát của tư tưởng chủ nghĩa
dân tộc cực đoan ở một số nước, đặc biệt là Trung Quốc. Quan hệ giữa Trung
Quốc - Nhật Bản tiếp tục căng thẳng, nhưng các bên vẫn đang kiềm chế, chưa
để các điểm nóng bùng phát thành xung đột.
1.1.3. Tình hình khu vực Đông Nam Á
Khu vực Đông Nam Á, về cơ bản, diễn biến hòa bình ổn định, hợp tác và
cùng phát triển, trong đó ASEAN ngày càng phát huy vai trò của mình trong
hợp tác khu vực, quốc tế và với các nước lớn.
ASEAN chú trọng hiện thực hóa mục tiêu Cộng đồng ASEAN dựa trên
ba trụ cột là chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội với thời hạn đặt ra
Về chính trị, Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) ngày càng phát huy vai
trò lãnh đạo trong Chính phủ liên minh với FUNCINPEC, trong Quốc hội,
Thượng viện và chính quyền các cấp; tiếp tục củng cố vị thế của đảng cầm
quyền và giữ vai trò nòng cốt trên chính trường Campuchia.
17
Từ năm 1991 đến năm 1998, tình hình Campuchia diễn biến phức tạp do
sự đấu tranh giữa các phe phái chính trị, sự can thiệp của Mỹ, Trung Quốc…
Ngày 23/10/1991, Hiệp định hoà bình Campuchia được ký kết giữa 19 nước
và 4 phái Campuchia tại Paris, trao cho Liên Hiệp Quốc quyền giám sát
ngừng bắn, hồi hương người tị nạn Khmer, giải giáp và giải ngũ các phe xung
đột, chuẩn bị tiến hành bầu cử tự do. Tháng 5/1993, Campuchia tiến hành bầu
cử Quốc hội nhiệm kỳ 1. Kết quả, CPP và đảng FUNCINPEC giành được số
phiếu gần tương đương (FUNCINPEC giành 58 ghế, CPP giành 51 ghế). Sau
đó, hai đảng thỏa hiệp dưới vai trò trung gian của Quốc vương Campuchia
Sihanuok để thành lập Chính phủ liên hiệp CPP - FUNCINPEC nhiệm kỳ 1
với cơ chế đồng Thủ tướng (Ranariddh là Thủ tướng thứ nhất, Hun Sen là
Thủ tướng thứ hai). Đến đầu năm 1997, mâu thuẫn giữa FUNCINPEC và
CPP liên tiếp diễn ra, cao trào là vụ xung đột ngày 5-6/7. Phát hiện ý đồ đảo
chính của Ranariddh, Hun Sen chủ động điều lực lượng về Phnom Penh,
nhanh chóng trấn áp lực lượng quân sự của FUNCINPEC và Khmer Đỏ buộc
Ranariddh phải lưu vong. Sau đó, Quốc vương Sihanouk đứng ra hòa giải để
Ranariddh về nước tranh cử trong Tổng Tuyển cử nhiệm kỳ 2 năm 1998.
Từ năm 1998 đến 2013, CPP giữ vai trò là đảng cầm quyền ở Campuchia
khi liên tục giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử Quốc hội nhiệm kỳ 2 năm
1998, nhiệm kỳ 3 năm 2003, nhiệm kỳ 4 năm 2008, nhiệm kỳ 5 năm 2013;
các cuộc bầu cử Thượng viện, bầu cử Hội đồng xã/phường, bầu cử Hội đồng
quận/huyện, tỉnh/thành phố. Trong quan hệ chính trị nội bộ, CPP chủ trương
Về kinh tế, kể từ năm 1991 đến nay, Campuchia chú trọng đẩy mạnh
phát triển các lĩnh vực kinh tế có thế mạnh, thúc đẩy cải cách nhằm tăng
19
cường hiệu lực quản lý kinh tế nội địa và duy trì tăng trưởng. Trung bình từ
năm 1991 đến 2008, GDP hàng năm tăng trưởng bình quân 8,14%, trong đó
khu vực công nghiệp tăng trưởng đến 14,23%, khu vực dịch vụ tăng trưởng
8,42% và khu vực nông nghiệp tăng trưởng 4.2%. Tăng trưởng kinh tế từ năm
2009 đến 2014 đạt trung bình 6,8%. Tăng trưởng nông nghiệp năm 2012 đạt
4,1%, công nghiệp đạt 9,5%, dịch vụ là 6,4%. GDP năm 2013 của Campuchia
đạt 8,83 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.080 USD/năm. Tuy
nhiên, Campuchia vẫn là quốc gia nghèo trong khu vực, có thu nhập bình
quân đầu người thấp. Khoảng ¼ dân số Campuchia sống ở mức đói nghèo với
thu nhập dưới 1,25 USD/ngày và phần lớn sống ở nông thôn. Nền kinh tế
Campuchia vẫn còn dựa vào nông nghiệp, nhưng vẫn nhập khẩu thực phẩm từ
các nước láng giềng.
Về quốc phòng - an ninh, Chính phủ Campuchia nắm chắc lực lượng vũ
trang, quan tâm tăng cường tiềm lực quân sự, bảo đảm chủ quyền, giữ vững
an ninh. Chính phủ Campuchia ưu tiên tăng ngân sách quốc phòng, tăng
cường mua sắm vũ khí trang bị. Ngân sách quốc phòng của Campuchia năm
2013 đạt 400,16 triệu USD, dự kiến năm 2014 là 468 triệu USD. Quân đội
Campuchia đã mua khoảng 250 xe tăng, xe bọc thép đã qua sử dụng mua từ
các nước Đông Âu từ năm 2010 - 20122. Tình hình quốc phòng - an ninh
Campuchia cơ bản ổn định, tuy nhiên, biên giới Campuchia - Thái Lan còn
tiềm ẩn bất ổn liên quan đến tranh chấp chủ quyền xung quanh ngôi đền Preah
Vihear. Từ năm 2008 - 2011, hai bên xảy ra nhiều cuộc xung đột ở khu vực
biên giới, gây thiệt hại cho binh lính và thường dân hai nước, ảnh hưởng đến
hòa bình, ổn định ở khu vực. Trong đó, cuộc giao tranh tháng 10/2008 đã làm
quân sự, Mỹ và Campuchia thúc đẩy hợp tác, duy trì diễn tập chung, hợp tác
đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình cho Quân đội Campuchia… Mỹ thực hiện
Sáng kiến gìn giữ hòa bình toàn cầu (GPOI) với một số nước trong khu vực,
trong đó có Campuchia và duy trì tập trận thường niên “Người gác đền
3
BBC, Căn nguyên của xung đột Thái - Campuchia, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/
2011/04/110428_thai_khmer_dispute_history.shtml, truy cập ngày 14/11/2014
21
Angkor” với Campuchia từ năm 2010. Về kinh tế, Mỹ là đối tác thương mại
quan trọng, là thị trường xuất khẩu nhiều mặt hàng của Campuchia.
Quan hệ Campuchia - Việt Nam được củng cố và tăng cường. Hai bên
tích cực thúc đẩy các chuyến thăm, làm việc ở các cấp nhằm tăng cường hợp
tác chính trị; nhất trí đẩy mạnh hợp tác trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, thương mại, đầu tư, quốc phòng, an ninh…; triển khai hiệu quả các thỏa
thuận đã được ký kết; thúc đẩy công tác phân giới cắm mốc trên đất liền nhằm
xây dựng đường biên giới giữa Việt Nam và Campuchia thành đường biên
giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Kim ngạch thương mại song
phương năm 2013 đạt khoảng 3,5 tỷ USD và hai bên cam kết sẽ đạt 5 tỷ USD
vào năm 2015. Việt Nam tiếp tục ưu tiên giúp Campuchia đào tạo nguồn nhân
lực, y tế, khám chữa bệnh cho nhân dân Campuchia. Hai bên tổ chức nhiều
hoạt động thiết thực kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai
nước vào năm 2012; thúc đẩy các chuyến thăm song phương giữa lãnh đạo
cấp cao hai nước nhằm cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác toàn diện.
Quan hệ giữa Campuchia với Thái Lan từng bước được cải thiện. Hợp
tác thương mại được nối lại, khu vực biên giới dần đi vào ổn định. Hai bên
tiếp tục đàm phán để từng bước rút quân khỏi khu vực tranh chấp biên giới ở
Quốc là nước sản xuất, tiêu dùng năng lượng lớn nhất trên thế giới, trong đó
đứng thứ hai thế giới về tiêu thụ dầu, dự kiến sẽ là nước nhập khẩu dầu lớn
nhất trong năm 2014; là quốc gia sản xuất và tiêu thụ than lớn nhất trên thế
giới, chiếm gần một nửa số lượng than tiêu thụ của thế giới; tiêu thụ khoảng
40% sản lượng kim loại toàn cầu6. Ngoài ra, Trung Quốc đối mặt với khó
4
Thông tấn xã Việt Nam, Sự trỗi dậy đồng thời của Trung Quốc, Ấn Độ ở Châu Á và quan hệ Trung - Ấn,
TLTKĐB, Số 61, Hà Nội, ngày 07/3/2013
5
Thông tấn xã Việt Nam, Làm gì để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc, TLTKĐB, số 45, ngày 24/2/2014
6
Thông tấn xã Việt Nam, Làm gì để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc, TLTKĐB, số 45, ngày 24/2/2014
23
khăn trong giải quyết vấn đề lao động, ô nhiễm môi trường…
Về quốc phòng - an ninh, Trung Quốc tăng cường tiềm lực quân sự, đẩy
mạnh đối ngoại quân sự nhằm đối phó với những thách thức ở khu vực, sự
hiện diện quân sự của Mỹ và bảo đảm lợi ích an ninh hàng hải cũng như tham
vọng chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực.
Trung Quốc tích cực triển khai chiến lược biển, áp dụng nhiều biện
pháp, thủ đoạn để từng bước hiện thực hóa tham vọng độc chiếm Biển Đông,
mở rộng lãnh hải. Trung Quốc đẩy mạnh yêu sách “đường chín đoạn” trên
Biển Đông, khiến tình hình khu vực trở nên bất ổn, tranh chấp về chủ quyền,
quyền chủ quyền giữa Trung Quốc với một số nước ASEAN ngày càng trở
nên phức tạp và căng thẳng. Tranh chấp chủ quyền giữ Trung Quốc và Nhật
Bản đối với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku trở nên căng thẳng.
Trung Quốc mở rộng đối ngoại quân sự, tích cực tham gia các cuộc
các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhấn mạnh cùng xây dựng
một môi trường khu vực ổn định, hòa bình và tin tưởng lẫn nhau, hợp tác cùng
có lợi, thúc đẩy quan hệ với Nga, Hàn Quốc, Triều Tiên, các nước Nam Á,
Nam Thái Bình Dương với phương châm “thân thiện với láng giềng và coi
láng giềng là bạn”; (3) Tăng cường hợp tác và gia tăng ảnh hưởng mạnh mẽ
đối với ASEAN. Trung Quốc chủ trương đẩy nhanh tiến trình “hợp tác vành
đai Vịnh Bắc Bộ mở rộng”, đẩy nhanh tiến trình thực hiện Khu vực thương mại
tự do Trung Quốc - ASEAN (CAFTA)… Trung Quốc là đối tác thương mại
lớn nhất của ASEAN, ngược lại, ASEAN là đối tác lớn thứ ba của Trung Quốc.
Quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đạt 230 tỷ vào năm 2011,
tạo thành khu vực lớn thứ 3 về thương mại tự do của thế giới8. Trong nửa đầu
năm 2013, kim ngạch thương mại ở mức 210 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ
năm 2012 và gần bốn lần so với năm 2002. ASEAN hiện là địa điểm đầu tư
8
Thông tấn xã Việt Nam, Biển Đông sẽ là nơi đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc, TLTKĐB, số 290, ngày 25/3/2011
25