1
Phần một
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
VÀ QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIỐNG
MIỀN NAM TẠI HÀ NỘI
***
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần giống Miền
Nam tại Hà Nội:
Công ty cổ phần giống cây trồng Miền Nam tại Hà Nội là chi nhánh
của công ty cổ phần giống cây trồng Miền Nam. Công ty cổ phần giống
cây trồng Miền Nam đã được thành lập vào ngày 14/5/1976 với nhiệm vụ
cung ứng giống cho các tỉnh phía Nam, từ Đà Nẵng trở vào. Công ty là
thành viên của Hiệp hội cây trồng giống Việt Nam và Hiệp hội cây trồng
Châu Á Thái Bình Dương. Năm 2002 công ty được chuyển thành Công ty
cổ phần giống cây trồng Miền Nam (SSC) theo quyết định số 213/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 01/07/2002. Công ty đã chính thức hoạt
động theo hình thức cổ phần, là doanh nghiệp cổ phần hóa đầu tiên và có
vốn điều lệ lớn nhất ngành giống Việt Nam. Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu
của công ty bao gồm:
Nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu giống cây trồng
các loại;
Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu nông sản, vật tư nông nghiệp;
Thiết kế, chế tạo, lắp đặt, xuất nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị
chế biến hạt giống và nông sản.
Sản xuất gia công, sang chai đóng gói thuốc bảo vệ thực vật.
Ngày 01/03/2005, công ty cổ phần giống cây trồng Miên Nam chính
thức niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đơn vị tư vấn niêm
yết là công ty chứng khoán đầu tư BSC.
2
Do điều kiện hạn chế về thị trường tiêu thụ, chỉ giới hạn ở các tỉnh
Miện Nam, trong khi đó Miền Bắc, tính từ Thừa Thiên Huế trở ra, bao
sản xuất. Với việc xây dựng thêm một nhà máy chế biến hạt giống cây
trồng tại Hưng Yên, công ty đang mong muốn mở rộng thị trường tiêu thụ
không chỉ trong nước mà còn vươn ra thị trường nước ngòai với các giống
cây trồng chất lượng cao, giá cả cạnh tranh. Việc xây dựng thêm nhà máy
chế biến sẽ đảm bảo chủ động và đáp ứng kịp thời nhu cầu hạt giống của
toàn miền Bắc, đồng thời nơi đây còn là một trung tâm hướng dẫn kỹ thuật
công tác nghiên cứu, thử nghiệm các giống cây trồng mới và ứng dụng
những tiến bộ kỹ thuật cho cả địa phương và các vùng lân cận.
Bảng 1
Khối lượng doanh thu hạt giống của công ty từ năm 1997 đến năm 2007
Trong các năm tiếp theo, phương châm hoạt động của công ty bao
gồm các nhiệm vụ sau đây:
Về công tác tài chính: ngày càng hoàn thiện công tác tài chính - kế
toán của công ty. Rà soát lại các quy chế quản lý và tổ chức bộ máy
cho phù hợp với tình hình mới khi công ty cổ phần giống cây trồng
Miền Nam đã tham gia thị trường chứng khoán.
Về công tác nghiên cứu: tiếp tục công tác khảo nghiệm, chọn tạo
giống rau mới và nghiên cứu, lai tạo các giống bắp lai có thời gian
Sản phẩm
Doanh thu (1 triệu đồng)
Đồng bằng
sông Hồng
Đông Bắc
Bộ
Tây Bắc
Bộ
Bắc Trung
Bộ
Cộng
Lúa 24.005 12.480 18.281 21.998 79.764
5
Nghiên cứu, phát triển sản phẩm, trình diễn và hội thảo: công ty
hiện nay có đội ngũ chuyên làm nhiệm vụ nghiên cứu, trình diễn hội
thảo và phát triển sản phẩm. Công ty thường xuyên phối hợp với
Trung tam khảo kiểm nghiệm giống cây trồng Trung ương, các sở
nông nghiệp và phát triển nông thôn, các Trung tâm khuyến nông
tỉnh, các Công ty giống, các trạm khuyến nông để thực hiện các
khảo nghiệm, các mô hình trình diễn sản phẩm. Từ năm 2004 trở lại
đây, công ty đã thực hiện khảo nghiệm cơ bản, khảo nghiệm Quốc
gia được 216 giống lúa, 77 giống ngô và gần 80 giống rau, dưa…
trên bốn vùng sinh thái của các tỉnh phía Bắc và đã xác định nhiều
giống có triển vọng, có thể đưa ra phục vụ cho sản xuất trong thời
gian gần nhất.
Phát triển sản xuất: nhà máy chế biến giống cây trồng Hà Nội của
công ty tại khu công nghiệp Phố Nối A, Hưng Yên với công suất
thiết kế của hệ thống máy sấy có sức chứa 200 tấn bắp ngô/mẻ;
năng suất máy tẽ hạt là 3 tấn bắp/giờ; dây chuyền chế biến, xử lý,
đóng gói hạt giống ngô đạt 2,5 tấn/giờ; tổng công suất chế biến
giống là 2.000 tấn/năm. Do đó, công ty đã bảo đảm chủ động cung
cấp và đáp ứng kịp thời nhu cầu hạt giống cho từng khu vực, từng
mùa vụ.
Xây dựng mạng lưới khách hàng, đại lý: hệ thống khách hàng, đại
lý đã được cán bộ, nhân viên công ty phát triển mạnh mẽ. Từ khách
hàng chỉ là bảy Trung tâm giống cấy trồng, công ty giống cây trồng
năm 1997, đến nay công ty đã đa dạng hệ thống khách hàng, bao
gồm các Công ty giống cây trồng, các Công ty vật tư nông nghiệp,
các trung tâm giống cây trồng, các công ty trách nhiệm hữu hạn
kinh doanh các mặt hàng phục vụ nông nghiệp và hơn rất nhiều đại
lý trên 32 tỉnh và thành phố phía Bắc.
6
Các loại hạt giống rau đậu.
Do quy định của công ty giống cây trồng Miền Nam, thị trường của
công ty là các tỉnh phía Bắc từ Thừa Thiên Huế trở ra với bốn vùng sinh
thái: vùng Đồng bằng song Hồng, vùng núi Tây Bắc, vùng núi Đông Bắc
và Bắc Trung Bộ. Các vùng sinh thái trên có các đặc điểm khác nhau về
điều kiện sản xuất nên công ty đã tổ chức hình thức khác nhau cho từng
địa bàn.
Ngô lai: thị trường chủ yếu của sản phẩm ngô lai là vùng núi phía
Bắc do diêu kiên thổ nhưỡng và khí hậu ở đây phù hợp với điều kiện
sinh trưởng và phát triển của cây ngô. Sau đó là vùng núi Đông Bắc
và các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Lúa lai: công ty cung cấp sản phẩm này chủ yếu cho vùng đồng
bằng sông Hồng và đồng bằng thuộc các tỉnh duyên hải Bắc Trung
Bộ.
Hạt giống rau: do các loại hạt giống rau này thích hợp cho việc gieo
đồng tại đồng bằng sông hồng và các tỉnh thuộc vùng núi Đông Bắc
vào mùa đông nên đây là thị trường chính mà công ty tập trung cung
ứng các loại hạt giống rau mùa đông, và đây là một thị trường rất
tiềm năng, cần được khai thác khi công ty đã xây dựng nhà máy chế
biến hạt giống tại miền Bắc.
3. Đặc điểm bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của đơn vị:
3.1. Cơ cấu quản lý của công ty:
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức một mặt phù hợp với điều
kiện sản xuất kinh doanh hiện nay của công ty, mặt khác cũng thích ứng
với xu thế phát triển mạnh mẽ của công ty trong thời gian qua với việc đa
dạng hóa lĩnh vực kinh doanh và sản xuất. Do vậy việc mở rộng cơ cấu tổ
chức của công ty cũng là một tất yếu khách quan.
8
Hiện nay công ty có ba phòng ban, một kho và một nhà máy trực
thuộc công ty.
Phòng tài chính - kế toán: Theo dõi tình hình sản xuất và tình hình
kinh doanh cũng như tình trạng tài chính của công ty trong kỳ. Phòng thực
hiện chức năng của mình thông qua việc thu thập và xử lý các số liệu kế
toán, từ đó tiến hành lập và trình bày các báo cáo tài chính cũng như các
loại báo cáo nội bộ theo yêu cầu của ban giám đốc công ty. Ngoài ra,
phòng còn có nhiệm vụ dựa trên các báo cáo tài chính đã được lập để tiến
hành phân tích tài chính để có thể cung cấp thông tin tìa chính đầy đủ, kịp
thời và có hiệu quả cho bộ máy lãnh đạo để đưa ra các quyết định kinh tế
đúng đắn và chính xác nhất. Do công ty là một chi nhánh của công ty
Giám đốc
Phó giám
đốc kinh
doanh
Phòng tài
chính - kế
toán
Phòng
nghiên cứu -
sản xuất
Phó giám đốc
phụ trách sản
xuất
Phòng kinh
doanh
Nhà máy chế
biến
10
giống cây trồng Miền Nam nên các số liệu kế toán của công ty sau khi
được thu thập và xử lý sẽ được chuyển về phòng kế toán trung tâm của
công ty giống cây trồng Miền Nam để tổng hợp kết quả sản xuất kinh
khác nhau, mà còn vươn rộng ra tiến hành nghiên cứu và khảo nghiệm các
giống cây mới phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai đặc thù của miền
Bắc. Mặt khác, với việc xây dựng và đưa vào vận hành nhà máy chế biến
giống cây trồng Hà Nội đặt tại Phố Nối, Hưng Yên, nhiệm vụ của phòng
còn tăng thêm với việc điều hành hoạt động sản xuất tại nhà máy.
12
Phần hai
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI
CÔNG TY GIỐNG MIỀN NAM TẠI MIỀN BẮC
***
1. Đặc điểm bộ máy kế toán:
1.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán:
Việc tổ chức thực hiện các chức năng nhiệm vụ hạch toán trong một
đơn vị hạch toán cơ sở do bộ máy kế toán đảm nhiệm. Do vậy, cần thiết
phải tổ chức hợp lý bộ máy kế toán cho đơn vị - trên cơ sở định hình được
khối lượng công tác kế toán cũng như chất lượng cần đạt được về hệ thống
thông tin kế toán.
Căn cứ vào điều kiện cụ thể của công ty, tổ chức bộ máy kế toán
được tổ chức theo mô hình tập trung, trực tuyến. Theo cách thức tổ chức
này, kế toán trưởng của công ty trực tiếp điều hành các nhân viên kế toán
phần hành không qua khâu trung gian nhận lệnh. Phòng kế toán thực hiện
toàn bộ công tác kế toán từ thu nhận, ghi sổ, xử lý thông tin trên hệ thống
báo cáo phân tích và tổng hợp của đợn vị. Hình thức tổ chức này làm cho
bộ máy kế toán trở nên đơn giản, tinh gọn, có thể xử lý thông tin nhanh
chóng và kịp thời.
Bộ máy kế toán của công ty gồm nhiều người, được bố trí thực hiện
các nhiệm vụ theo yêu cầu của công tác kế toán như sau:
Kế toán trưởng: là người giúp việc trong lĩnh vực chuyên môn kế
toán, tài chính cho giám đốc công ty, đồng thời là giám sát viên kế toán -
toán, các khoản hoa hồng phải trả cho đại lý. Sau khi tiến hành tổng hợp
14
doanh thu và chi phí, kế toán sẽ thực hiện tính toán lợi nhuận trong kỳ của
công ty.
Kế toán tiền mặt và tiền gửi ngân hàng kiêm kế toán giá thành: chịu
trách nhiệm về các nghiệp vụ liên quan đến tình hình biến động tiền mặt
và tiền gửi tại các ngân hàng, thực hiện các gia dịch với ngân hàng và theo
dõi các khoản vay, trả đối với ngân hàng. Do nhà máy chế biến giống cây
trồng Hà Nội trực thuộc công ty không thành lập bộ phận kế toán riêng
nên các số liệu của nhà máy sẽ được tổng hợp tại phòng kế toán của công
ty. Tại đây, sau khi thu thập đầy đủ số liệu sẽ tiến hành tính toán các loại
chi phí để có thể tính chính xác giá thành của các sản phẩm được sản xuất
tại nhà máy.
Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức tập trung,
khái quát theo sơ đồ sau đây:
15
Sơ đồ 2
Bộ máy tổ chức kế toán của công ty
Một tổ chức kinh tế muốn quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh có
hiệu quả đòi hỏi phải có thông tin về tình hình huy động, phân bổ, sử dụng
tài sản và kiểm soát toàn bộ quá trình luân chuyển tài sản trong đơn vị. Để
đạt được những thông tin hữu ích đó, bộ máy quản lý của công ty đã đặt ra
những nhiệm vụ cơ bản của công tác kế toán như sau:
Cung cấp kịp thời, đầy đủ và chính xác các tài liệu về tình hình cung
ứng, dự trữ, sử dụng tài sản trong quan hệ với nguồn hình thành tài
sản.
Kế toán trưởng
Kế toán tổng hợp
Bộ phận kế
toán tiền
để phù hợp với quy mô cũng như điều kiện hoạt động kinh doanh của
mình. Bộ máy kế toán luôn phải cung cấp các thông tin kịp thời, chính xác
và đầy đủ cho bộ máy quản lý để có thể ra các quyết định đúng đắn. Để đạt
được điều đó, kế toán luôn được tạo những điều kiện tốt nhất để thu thập,
xử lý và trình bày các thông tin kế toán. Tuy nhiên, bộ máy kế toán luôn
chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ của ban giám đốc để đảm bảo bộ máy
kế toán hoạt động đúng theo chức năng và nhiệm vụ của mình.
Bộ máy kế toán trong công ty phải thỏa mãn các đòi hỏi về thông tin
về tài sản và nguồn vốn của lãnh đạo một cách nhanh chóng, đúng đắn và
đầy đủ nhất. Ngoài ra, theo chức năng quy định của pháp luật, kế toán của
công ty còn phải đáp ứng yêu cầu của các đối tượng có liên quan như các
cổ đông và ngân hàng với các thông tin trung thực và khách quan. Đây là
lí do để bộ máy kế toán phải có tính độc lập tương đối với bộ máy quản lý.
Nguyên tắc này được tuân thủ chặt chẽ ở công ty để đảm bảo hoạt động
của bộ máy kế toán phù hợp với quy định của pháp luật.
2. Vận dụng chế độ kế toán hiện hành:
Căn cứ vào đặc điểm tổ chức kinh doanh, căn cứ vào yêu cầu quản lý
cũng như trình độ nghiệp vụ của các nhân viên trong phòng kế toán và các
trang thiết bị, đồng thời trên cơ sở xem xét nội dung, đặc điểm, cách thức
ghi chép của các hình thức sổ kế toán, ngoài ra để đáp ứng yếu cầu thống
17
nhất trong việc áp dụng chế độ kế toán với công ty giống cây trồng Miền
Nam, công ty đã áp dụng hình thức sổ kế toán Nhật ký - chứng từ theo
quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính.
2.1. Chế độ chứng từ:
Công ty là một đơn vị kinh doanh có nhiều hoạt động đa dạng nên
các loại chứng từ được tổ chức khá phong phú để đáp ứng được nhu cầu
thu thập tài liệu kế toán, lưu trữ các bằng chứng kế toán cũng như yêu cầu
quản lý của đơn vị, bao gồm hệ thống chứng từ kế toán thống nhất bắt
của các phần hành
Kế toán trưởng
Giám đốc đơn vị
Ký duyệt các chứng từ
Kế toán phần
hành
Ghi sổ kế toán chi tiết
19
Sơ đồ 3
Quy trình luân chuyển chứng từ
Bộ phận có nhu cầu
Lập các chứng từ để nghị có
liên quan
Giám đốc đơn vị Ký duyệt các chứng từ
Kế toán trưởng
Kiểm tra và ký duyệt các
chứng từ
Kế toán phần
hành
Lập các chứng từ đặc trưng
của các phần hành
Kế toán trưởng
Giám đốc đơn vị
Ký duyệt các chứng từ
Kế toán phần
hành
Ghi sổ kế toán chi tiết
Bảo quản, lưu trữ
20
2.2. Chế độ tài khoản:
không hoàn toàn giống mẫu sổ kế toán ghi bằng tay mà được thiết kế linh
hoạt, phù hợp với đặc điểm của công ty. Cuối tháng, cuối năm sổ kế toán
tổng hợp và sổ kế toán chi tiết được in ra giấy, đóng thành quyển và thực
hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý theo quy định về sổ kế toán ghi bằng tay.
Căn cứ để ghi sổ là các chừng từ gốc và bảng phân bổ. Hằng ngày
căn cứ vào các chừng từ kế toán đã được kiểm tra lấy số liệu ghi trực tiếp
vào các Nhật ký - Chứng từ hoặc Bảng kê, sổ chi tiết có liên quan. Đối với
các Nhật ký - Chứng từ được ghi căn cứ vào các Bảng kê, sổ chi tiết thì
căn cứ vào số liệu tổng cộng của Bảng kê, sổ chi tiết, cuối tháng chuyển số
liệu vào Nhật ký - Chứng từ. Cuối tháng khóa sổ, công số liệu trên các
Nhật ký - Chứng từ, kiểm tra, đối chiếu số liệu trên các Nhật ký - Chứng
từ với các sổ, thẻ kế toán chi tiết, bảng tổng hợp chi tiết co liên quan và lấy
số liệu tổng cộng của các Nhật ký - Chứng từ ghi trực tiếp vào Sổ Cái. Đối
với các chứng từ có liên quan đến các sổ, thẻ kế toán chi tiết thì được ghi
trực tiếp vào các sổ, thẻ kế toán có liên quan. Cuối tháng, cộng các sổ, thẻ
kế toán chi tiết và căn cứ vào sổ, the kế toán chi tiết để lập các Bảng tổng
hợp chi tiết theo từng tài khoản để đối chiếu với Sổ Cái. Số liệu tổng cộng
ở Sổ Cái và một số chỉ tiêu chi tiết trong Nhật ký - Chứng từ, Bảng kê và
các Bảng tổng hợp chi tiết được dùng để lập báo cáo tài chính.
22
Ghi chú
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
Sơ đồ 4
Quy trình ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký - Chứng từ
Chứng từ gốc và các
bảng phân bổ
Bảng kê
phù hợp với nhu cầu của bộ máy quản lý.
Các báo cáo cơ bản được lập tại công ty bao gồm:
Bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng
quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình
thành tài sản tại một thời điểm nhất định, được kết cấu dưới dạng bảng cân
24
đối số dư các tài khoản kế toán và sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu
quản lý.
Khi lập bảng cân đối kế toán, kế toán của công ty sử dụng nguồn số
liệu sau: Bảng cân đối kế toán cuối kỳ trước, Sổ cái các tài khoản tổng hợp
và tài khoản phân tích, Bảng cân đối tài khoản và các tài khoản lien quan
khác như sổ chi tiết, bảng tổng hợp và chi tiết, bảng kê,…
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo chính phản ánh
tóm lược các khoản doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định bao gồm kết quả hoạt động
kinh doanh (hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính)
và hoạt động khác.
Ngoài ra, công ty còn thường xuyên lập các báo cáo tổng hợp bộ
phận phục vụ cho nhu cầu quản trị cũng như theo dõi tình hình tài chính
của công ty như:
Bảng tổng hợp các khoản phải thu, Bảng tổng hợp các khoản phải
trả, Bảng kê tiền mặt và tiền gửi để cung cấp cho ban giám đốc tình
hình công nợ, khả năng thu hồi vốn, tình hình và khả năng thành
toán hiện tại của công ty, qua đó công ty co thể cân đối các khoản
thu chi và công nợ để bảo đảm khả năng tài chính cũng như mức độ
an toàn vốn của mình.
Bảng tổng hợp nhập - xuất - tồn, Bảng theo dõi tình hình tiêu thụ
cho biết tình hinh luân chuyển thành phẩm, hàng hóa cũng như khả
mất mát, hư hỏng nhưng việc bảo quản tại kho của công ty không quá khó
khăn phức tạp, tốn nhiều chi phí và công sức nhưng vẫn bảo đảm chất
lượng vật tư hàng hóa dù hàng hóa chủ yếu được chuyên chở từ miền Nam
ra. Vì vậy kế toán công ty không phải quan tâm nhiều tới định mức hao
hụt của các loại hàng tồn kho.