Tổ chức công tác kế toán khoản doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu - Pdf 53

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều biến đổi sâu
sắc, sự thay đổi này đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý kinh tế phù hợp. Một
trong những công cụ quản lý kinh tế tài chính có vai trò tích cực chính là hạch
toán kế toán. Hệ thống kế toán Việt Nam đã không ngừng được hoàn thiện,
phát triển, góp phần tích cực vào việc tăng cường và nâng cao chất lượng tài
chính quốc gia.
Tuy nhiên, trong cơ chế kinh tế mới, hệ thống kế toán của Việt Nam
vẫn chưa thực sự phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, yêu cầu của
nền kinh tế mở, của sự hoà nhập với chuẩn mực và thông lệ phổ biến của kế
toán các nước, nó đòi hỏi phải đuợc cải cách một cách triệt để, toàn diện. Kế
toán các nghiệp vụ “Doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu”
cũng là một trong những nội dung cần được hoàn thiện để ngày càng phù hợp
hơn với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, phù hợp với chuẩn mực kế toán
quốc tế. Nếu đơn vị làm tốt được công tác tổ chức “kế toán khoản doanh thu
bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu” sẽ cung cấp được những thông tin
chính xác phục vụ cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, sau một thời gian
nghiên cứu những kiến thức từ thực tế, kết hợp với những kiến thức đã được
học tập tại nhà trường, cùng với sự hướng dẫn chỉ bảo của thầy giáo hướng
dẫn em đã chọn đề tài “Tổ chức công tác kế koán khoản doanh thu bán hàng
và các khoản giảm trừ doanh thu” làm đề tài nghiên cứu của mình với mong
muốn hiểu rõ hơn về vấn đề doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu và
xin được đóng góp một số ý kiến nhỏ bé của mình đối với việc hoàn thiện
phương pháp hạch toán khoản doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ
doanh thu của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
1
Nội dung bài viết của em gồm ba phần:
Phần I : Những vấn đề lý luận chung về doanh thu bán hàng và các
khoản giảm trừ doanh thu trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
Phần II : Thực trạng việc thực hiện chuẩn mực số 14 trong hệ thống

hồi nhanh chóng tiền hàng,doanh nghiệp cần có chế độ khuyến khích đối với
khách hàng, có các biện pháp kích thích phù hợp đối với lượng hàng bán ra.
Cụ thể là: nếu hàng hoá của doanh nghiệp kém phẩm chất thì khách hàng có
quyền yêu cầu doanh nghiệp giảm giá bán, bớt giá bán… Các khoản như vậy
buộc doanh nghiệp phải chấp nhận nếu muốn có mối quan hệ lâu dài với
khách hàng. Các khoản đó được gọi là các khoản giảm trừ doanh thu.
Như vậy, các khoản giảm trừ doanh thu là các khoản phát sinh làm
giảm doanh thu bán hàng trong kỳ.
3
Theo chế độ kế toán hiện hành, các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm:
- Chiết khấu thương mại: là số tiền doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc
đã thanh toán cho khách hàng trong những trường hợp khách hàng
mua hàng với số lượng lớn theo thoả thuận.
- Giảm giá hàng bán: là số tiền doanh nghiệp giảm trừ cho khách
hàng mua hàng do hàng hoá kém phẩm chất, sai quy cách và lạc thị
hiếu.
- Trị giá hàng bán bị trả lại: là só tiền doanh nghiệp phải trả lại cho
khách hàng trong trường hợp hàng đã xác định là bán nhưng do
chất lượng hàng quá kém so với yêu cầu, khách hàng trả lại số tiền
ấy.
- Chiết khấu thanh toán: là khoản tiền thưởng doanh nghiệp chấp
thuận cho khách hàng đã thanh toán trước thời hạn.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩuphải nộp đối với sản phẩm,
hàng hoá dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất
khẩu.
- Thuế GTGT đối với sản phẩm, hàmg hoá, dịch vụ bán ra của cơ sở
nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.
3, Vai trò của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:
Đối với các doanh nghiêp sản xuất kinh doanh,việc xác định doanh thu
bán hàng là để tính toán thu nhập từ hoạt đông sản xuất kinh doanh thông

Như vậy, để ghi nhận một khoản doanh thu bán hàng, doanh nghiệp cần
phải xem xét đầy đủ hai điều kiện trên thì mới được xét hạch toán sao cho
đúng chính sáchvà chế độ hiện hành.
5
5, Thời điểm xác định doanh thu bán hàng:
Thời điểm xác nhận doanh thu bán hàng là thời điểm người mua đã trả
tiền (Số tiền bán hàng được ghi trên hoá đơn thuế GTGT, hoá đơn bán hàng
và các chứng từ khác có liên quan) hoặc chấp nhận trả tiền về số lượng hàng
hoá mà doanh nghiệp đã cung cấp. Tuỳ theo từng phương thức bán hàng mà
thời điểm xác định doanh thu bán hàng có sự khác nhau.
Việc xác định đúng đắn thời điểm ghi chép bán hàng là việc tôn trọng
các quy định về xác định và ghi nhận doanh thu, đồng thời nó cũng tuân theo
nguyên tắc phù hợp. Bên cạnh đó, việc xác định đúng đắn thời điểm ghi chép
bán hàng giúp cho việc xác định kết quả trong kỳ được chính xác và nó sẽ góp
phần làm cho công tác quản lý hoạt động bán hàng của doanh nghiệp được tốt
hơn tránh tình trạng ứ đọng vốn, tăng nhanh vòng quay của đồng vốn.
II, TỔNG QUAN VỀ HẠCH TOÁN DOANH THU BÁN HÀNG VÀ CÁC KHOẢN
GIẢM TRỪ DOANH THU BÁN HÀNG:
1, Chuẩn mực số 14 về “Doanh thu và thu nhập khác” trong hệ thống
chuẩn mực kế toán Việt Nam do bộ tài chính ban hành và công bố theo
quyết định số 149/ 2001/ QĐ-BTC:
1.1, Quy định chung:
- Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên
tắcvà phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác, gồm: Các loại doanh
thu, thời điểm ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán doanh thu và thu
nhập khác làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
- Chuẩn mực này áp dụng trong kế toán các khoản doanh thu và thu
nhập khác phát sinh từ các giao dịch và nghiệp vụ sau:
(a) Bán hàng:Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng
hoá mua vào

hợp cụ thể. Trong hầu hết các trường hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn
rủi ro trùng với thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp
pháp, hoặc quyền kiểm soát hàng hoá cho người mua.
Trường hợp doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với
quyền sở hữu hàng hoá thì giao dịch không được coi là hoạt động bán hàng và
doanh thu không được ghi nhận. Doanh nghiệp còn phải chịu rủi ro gắn liền
với quyền sở hữu hàng hoá dưới nhiều hình thức khác nhau, như:
+ Doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản được
hoạt động bình thường mà việc này không nằm trong các điều khoản bảo
hành thông thường.
+ Khi việc thanh toán tiền bán hàng còn chưa chắc chắn vì phụ thuộc
vào người mua hàng hoá đó.
+ Khi hàng hoá được giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đó là một
phần quan trọng của hợp đồng mà doanh nghiệp chưa hoàn thành.
+ Khi người mua có quyền huỷ bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó
được nêu trong hợp đồng mua bán và doanh nghiệp chưa chắc chắn về khả
năng hàng bán có bị trả lại hay không.
- Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với
quyền sở hữu hàng hoá thì việc bán hàng được xác định và doanh thu được
ghi nhận. Ví dụ doanh nghiệp còn nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu hàng hoá
chỉ để đảm bảo nhận được đủ các khoản thanh toán.
- Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh nghiệp
nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch
bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu
khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong (Ví dụ khi doanh nghiệp không
8
chắc chắn chính phủ nước sở tại có chấp nhận chuyển tiền bán hàng ở nước
ngoài về hay không). Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chứ
thu được tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được
thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ mà không được

thành.
- Doanh thu cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh
nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch.khi không thể thu hồi được
khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được
ghi giảm doanh thu. Khi không chắc chắn thu hồi được môt khoản mà trước
đó đã ghi vào doanh thu ( Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải
thu khó đòi mà không được ghi nhận là doanh thu. Khoản nợ phải thu khó đòi
khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự
phòng Nợ phải thu khó đòi.
- Doanh nghiệp có thể ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ khi thoả
thuận đươc với bên đối tác giao dịch những điều kiện sau:
+ Trách nhiệm và quyền của mỗi bên trong việc cung cấp hoặc nhận
dịch vụ.
+ Giá thanh toán
+ Thời hạn và phương thức thanh toán.
Để ước tính doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải có hệ
thống hạch toán tài chính và kế toán phù hợp. Khi cần thiết, doanh nghiệp có
quyền xem xét và sửa đổi cách ước tính doanh thu trong quá trình cung cấp
dịch vụ.
- Phần công việc đã hoàn thành được xác định theo một trong ba bước
sau, tuỳ thuộc vào bản chất của dịch vụ:
10
+ đánh giá phần công việc đã hoàn thành.
+ So sánh tỷ lệ (%) giữa phần công việc đã hoàn thành với tổng khối
lượng công việc phải hoàn thành.
+ Tỷ lệ (%) chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn
thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ.
Phần công việc đã hoàn thành không phụ thuộc vào các khoản thanh
toán định kỳ hay khoản ứng trước của khách hàng.
-Trường hợp dịch vụ được thực hiện bằng nhiều hoạt động khác nhau

coi là doanh thu.
12
b, Doanh thu bán hàng:
- Xác định doanh thu:
Doanh thu được xác định trong từng trường hợp cụ thể sau:
+ Trường hợp bán hàng thu tiền hoặc các khoản tương đương tiền thì
doanh thu bằng số tiền hoặc các khoản tương đương tiền thu được.
+ Trường hợp bán hàng cho người trả chậm: nếu bán chịu cho khách
hàng không tính lãi thì doanh thu bằng số tiền hoặc các khoản tương đương
tiền sẽ nhận được, nếu bán chịu cho khách hàng có tinh lãi thì doanh thu bằng
giá trị hiện tại của các khoản sẽ thu được trong tương lai.
+ Trường hợp trao đổi hàng hoá: trao đổi hàng hoá có cùng tính chất thì
doanh thu không được ghi nhận, trao đổi hàng hoá không tương tự thì doanh
thu được ghi nhận là bằng giá trị tương đương của hàng hoá nhận được, bằng
giá trị tương đương của hàng hoá đem trao đổi.
- Doanh thu bán hàng được công nhận khi:
+ Rủi ro và lợi ích quan trọng của việc sở hữu hàng hoá được chuyển
sang cho người mua.
+ Doanh nghiệp không tiếp tục tham gia quản lý quyền sở hữu cũng
không giám sát hiệu quả hàng đã bán ra.
+ Số doanh thu có thể được tính toán một cách chắc chắn.
+ Doanh nghiệp có khả năng là sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch.
+ Chi phí giao dịch có thể được tính toán một cách chắc chắn.
- Tính không chắc chắn về khả năng thu về khoản đã được tính trong
doanh thu sẽ được coi như là một khoản chi phí chứ không phải là một khoản
điều chỉnh doanh thu.
- Doanh thu không thể được công nhận khi chi phí không thể được tính
toán một cách chắc chắn. Những khoản hoàn trả đã nhận được từ bán hàng
13
sau này sẽ được chuyển về sau như một khoản nợ cho tới khi công nhận

được khi doanh nghiệp về căn bản đã hoàn thành quá trình bán hàng và thu
được lợi ích. Tuy nhiên, do có sự đa dạng khác nhau của các nghiệp vụ doanh
thu nên doanh thu cũng có khi được ghi nhận tại các thời điểm khác nhau
trong quá trình bán hàng, đó là:
- Ghi nhận doanh thu tại thời điểm bán hàng( giao hàng)
- Ghi nhận doanh thu trước khi giao hàng
- Ghi nhận doanh thu sau khi giao hàng.
- Ghi nhận doanh thu đối với hàng gửi bán đại lý
b, Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu:
- Chiết khấu thương mại: Là sự giảm giá so với giá được ghi trên danh
mục giá bán hàng hoá, được dùng để tính giá trên hoá đơn hay giá bán loại
hàng được hưởng chiết khấu. Chiết khấu thương mại thường được các nhà sản
xuất hay các nhà bán buôn dùng để tái xuất bản danh mục giá bán khi giá bán
biến đổi. Giá được đưa ra có phần chiết khấu thương mại chỉ sử dụng để
thuận tiện cho việc đạt đến một thoả thuận giá cả trên và không thể hiện trên
các ghi chép của kế toán.
- Giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại: phát sinh khi bán hàng
không đúng quy cách, phẩm chất quy định trong hợp đồng. Khách hàng có thể
trả lại hàng hoặc doanh nghiệp có thể giảm giá bán cho khách hàng nếu khách
hàng chấp nhận mua. Hàng bị trả lại hay giảm giá được phản ánh vào tài
khoản “ Hàng bán bị trả lại và giảm giá”. Tài khoản này là tài khoản hiệu
chỉnh cho tài khoản danh thu.
- Chiết khấu thanh toán : Việc bán chịu hàng thường kèm theo các điều
khoản về tín dụng để làm tăng khả năng thanh toán của khách hàng. Có hai
15
phương pháp ghi nhận doanh thu được chấp nhận có liên quan đến chiết khấu
thanh toán, đó là những doanh thu gộp( doanh thu ghi nhận theo giá bán, tài
khoản chiết khấu bán hàng được xem là tài khoản hiệu chỉnh giảm trừ doanh
thu) và doanh thu ròng( doanh thu được ghi sổ theo giá bán đã trừ chiết khấu
cho khách hàng).

người mua.
- Giá bán không bao gồm các khoản thuế đã thu của người mua và phảI
nộp cho nhà nước sau này.
- Nếu có chiết khấu chấp thuận cho người mua đã trừ bớt đi trên tổng
trị giá hoá đơn bán hàngcũng phải kể vào giá bán. Khoản chiết khấu này được
hạch toán vào chi phí tài chính.
b, Thời điểm ghi nhận doanh thu:
Kế toán Pháp chỉ đề cập là thời điểm khi việc bán hàng đã thực sự xảy
ra và kế toán đã có trong tay kết quả của ngiệp vụ để ghi nhận vào sổ sách.
- Khi hàng được bán xong, doanh nghiệp đã thưc hiện hầu hết tất cả các
công việc cần thiết trong việc bán hàng và mọi công việc còn lại sẽ không
đáng kể.
- Vào thời điểm bán hàng giá bán đã được người bán và người mua
thoả thuận là một sự đo lường khách quan của thu nhập.
- Vào thời điểm bán hàng, xảy ra một sự trao đổi tài sản, hàng hoá được
trao đổi để lấy khoản sẽ thu hoặc tiền mặt.
c, Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu:
Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm giảm giá, bớt giá, hồi khấu và
chiết khấu thanh toán.
17
- Nếu các khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu và chiết khấu thanh toán
được ghi trên hoá đơn bán hàng, các khoản này được trừ vào tổng số tiền ghi
trên hoá đơn. Kế toán chỉ ghi nhận doanh thu theo giá bán thực thu.
- Nếu các khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu được chấp thuận ngoài hoá
đơn bán hàng thì người bán phải lập hoá đơn báo có gửi cho khách hàng và
khoản giảm trừ này được ghi giảm trừ doanh thu bán hàng vào cuối kỳ. Nếu
nghiệp vụ xảy ra vào cuối năm và doanh nghiệp chưa lập hoá đơn báo có gửi
cho khách hàng thì kế toán tạm thời ghi nhận khoản giảm giá, bớt giá, hồi
khấu sẽ trả cho khách hàng và kết chuyển các khoản giảm trừ này vào doanh
thu bán hàng trong kỳ. Sang năm sau, ghi bút toán đảo ngược để xoá bỏ bút


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status