LờI NóI ĐầU
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều biến đổi sâu
sắc, sự thay đổi này đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý kinh tế phù hợp. Một
trong những công cụ quản lý kinh tế tài chính có vai trò tích cực chính là hạch
toán kế toán. Hệ thống kế toán Việt Nam đã không ngừng đợc hoàn thiện, phát
triển, góp phần tích cực vào việc tăng cờng và nâng cao chất lợng tài chính quốc
gia.
Tuy nhiên, trong cơ chế kinh tế mới, hệ thống kế toán của Việt Nam vẫn
cha thực sự phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trờng, yêu cầu của nền kinh
tế mở, của sự hoà nhập với chuẩn mực và thông lệ phổ biến của kế toán các nớc,
nó đòi hỏi phải đuợc cải cách một cách triệt để, toàn diện. Kế toán các nghiệp
vụ Doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu cũng là một trong
những nội dung cần đợc hoàn thiện để ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của
nền kinh tế thị trờng, phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế. Nếu đơn vị làm
tốt đợc công tác tổ chức kế toán khoản doanh thu bán hàng và các khoản giảm
trừ doanh thu sẽ cung cấp đợc những thông tin chính xác phục vụ cho yêu cầu
quản trị doanh nghiệp.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này, sau một thời gian nghiên
cứu những kiến thức từ thực tế, kết hợp với những kiến thức đã đợc học tập tại
nhà trờng, cùng với sự hớng dẫn chỉ bảo của thầy giáo hớng dẫn em đã chọn đề
tài Tổ chức công tác kế koán khoản doanh thu bán hàng và các khoản giảm
trừ doanh thu làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn hiểu rõ hơn về
vấn đề doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu và xin đợc đóng góp một số
ý kiến nhỏ bé của mình đối với việc hoàn thiện phơng pháp hạch toán khoản
doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu của các doanh nghiệp
trong cơ chế thị trờng.
1
Nội dung bài viết của em gồm ba phần:
Phần I : Những vấn đề lý luận chung về doanh thu bán hàng và các khoản
giảm trừ doanh thu trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
Phần II : Thực trạng việc thực hiện chuẩn mực số 14 trong hệ thống
có các biện pháp kích thích phù hợp đối với lợng hàng bán ra. Cụ thể là: nếu
hàng hoá của doanh nghiệp kém phẩm chất thì khách hàng có quyền yêu cầu
doanh nghiệp giảm giá bán, bớt giá bán Các khoản nh vậy buộc doanh
nghiệp phải chấp nhận nếu muốn có mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Các
khoản đó đợc gọi là các khoản giảm trừ doanh thu.
Nh vậy, các khoản giảm trừ doanh thu là các khoản phát sinh làm giảm
doanh thu bán hàng trong kỳ.
3
Theo chế độ kế toán hiện hành, các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm:
- Chiết khấu thơng mại: là số tiền doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã
thanh toán cho khách hàng trong những trờng hợp khách hàng mua hàng với số
lợng lớn theo thoả thuận.
- Giảm giá hàng bán: là số tiền doanh nghiệp giảm trừ cho khách hàng
mua hàng do hàng hoá kém phẩm chất, sai quy cách và lạc thị hiếu.
- Trị giá hàng bán bị trả lại: là só tiền doanh nghiệp phải trả lại cho
khách hàng trong trờng hợp hàng đã xác định là bán nhng do chất lợng hàng
quá kém so với yêu cầu, khách hàng trả lại số tiền ấy.
- Chiết khấu thanh toán: là khoản tiền thởng doanh nghiệp chấp thuận
cho khách hàng đã thanh toán trớc thời hạn.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩuphải nộp đối với sản phẩm, hàng
hoá dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu.
- Thuế GTGT đối với sản phẩm, hàmg hoá, dịch vụ bán ra của cơ sở
nộp thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp.
3, Vai trò của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ:
Đối với các doanh nghiêp sản xuất kinh doanh,việc xác định doanh thu
bán hàng là để tính toán thu nhập từ hoạt đông sản xuất kinh doanh thông thờng
nhằm bù đắp, trang trải các chi phí đã bỏ ra để tạo nên khoản doanh thu đó, và
xác định đợc kết quả bán hàng.
- Doanh thu là một trong các yếu tố đánh giá khả năng sản xuất kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp. Khả năng sản xuát kinh doanh của bất kỳ doanh
(Số tiền bán hàng đợc ghi trên hoá đơn thuế GTGT, hoá đơn bán hàng và các
chứng từ khác có liên quan) hoặc chấp nhận trả tiền về số lợng hàng hoá mà
doanh nghiệp đã cung cấp. Tuỳ theo từng phơng thức bán hàng mà thời điểm
xác định doanh thu bán hàng có sự khác nhau.
5
Việc xác định đúng đắn thời điểm ghi chép bán hàng là việc tôn trọng
các quy định về xác định và ghi nhận doanh thu, đồng thời nó cũng tuân theo
nguyên tắc phù hợp. Bên cạnh đó, việc xác định đúng đắn thời điểm ghi chép
bán hàng giúp cho việc xác định kết quả trong kỳ đợc chính xác và nó sẽ góp
phần làm cho công tác quản lý hoạt động bán hàng của doanh nghiệp đợc tốt
hơn tránh tình trạng ứ đọng vốn, tăng nhanh vòng quay của đồng vốn.
II, Tổng quan về hạch toán doanh thu bán hàng và các khoản
giảm trừ doanh thu bán hàng:
1, Chuẩn mực số 14 về Doanh thu và thu nhập khác trong hệ thống
chuẩn mực kế toán Việt Nam do bộ tài chính ban hành và công bố theo
quyết định số 149/ 2001/ QĐ-BTC:
1.1, Quy định chung:
- Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hớng dẫn các nguyên tắcvà
phơng pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác, gồm: Các loại doanh thu, thời
điểm ghi nhận doanh thu, phơng pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác làm
cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
- Chuẩn mực này áp dụng trong kế toán các khoản doanh thu và thu nhập
khác phát sinh từ các giao dịch và nghiệp vụ sau:
(a) Bán hàng:Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán hàng hoá
mua vào
(b) Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thoả thuận theo hợp đồng
trong một hoặc nhiều kỳ kế toán.
(c) Tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức lợi nhuận đợc chia.
(d) Các khoản thu nhập khác ngoài giao dịch và nghiệp vụ tạo ra doanh
thu kể trên .
sở hữu hàng hoá dới nhiều hình thức khác nhau, nh:
7
+ Doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản đợc
hoạt động bình thờng mà việc này không nằm trong các điều khoản bảo hành
thông thờng.
+ Khi việc thanh toán tiền bán hàng còn cha chắc chắn vì phụ thuộc vào
ngời mua hàng hoá đó.
+ Khi hàng hoá đợc giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đó là một phần
quan trọng của hợp đồng mà doanh nghiệp cha hoàn thành.
+ Khi ngời mua có quyền huỷ bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó đ-
ợc nêu trong hợp đồng mua bán và doanh nghiệp cha chắc chắn về khả năng
hàng bán có bị trả lại hay không.
- Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với
quyền sở hữu hàng hoá thì việc bán hàng đợc xác định và doanh thu đợc ghi
nhận. Ví dụ doanh nghiệp còn nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu hàng hoá chỉ để
đảm bảo nhận đợc đủ các khoản thanh toán.
- Doanh thu bán hàng đợc ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh nghiệp
nhận đợc lợi ích kinh tế từ giao dịch. Trờng hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán
hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu
tố không chắc chắn này đã xử lý xong (Ví dụ khi doanh nghiệp không chắc
chắn chính phủ nớc sở tại có chấp nhận chuyển tiền bán hàng ở nớc ngoài về
hay không). Nếu doanh thu đã đợc ghi nhận trong trờng hợp chứ thu đợc tiền thì
khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu đợc thì phải hạch toán vào
chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ mà không đợc ghi giảm doanh thu. Các
khoản nợ phải thu khó đòi khi xác đinh là thực sự không đòi đợc thì đợc bù đắp
bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi.
- Doanh thu và chi phí có liên quan tới cùng một giao dịch thì phải đợc
ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Các chi phí, bao gồm cả chi phí
phát sinh sau ngày giao hàng( nh chi phí bảo hành và chi phí khác), thờng đợc
xác định chắc chắn khi các điều kiện ghi nhận doanh thu đợc thoả mãn. Các
- Doanh nghiệp có thể ớc tính doanh thu cung cấp dịch vụ khi thoả thuận
đơc với bên đối tác giao dịch những điều kiện sau:
+ Trách nhiệm và quyền của mỗi bên trong việc cung cấp hoặc nhận dịch
vụ.
+ Giá thanh toán
+ Thời hạn và phơng thức thanh toán.
Để ớc tính doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải có hệ thống
hạch toán tài chính và kế toán phù hợp. Khi cần thiết, doanh nghiệp có quyền
xem xét và sửa đổi cách ớc tính doanh thu trong quá trình cung cấp dịch vụ.
- Phần công việc đã hoàn thành đợc xác định theo một trong ba bớc sau,
tuỳ thuộc vào bản chất của dịch vụ:
+ đánh giá phần công việc đã hoàn thành.
+ So sánh tỷ lệ (%) giữa phần công việc đã hoàn thành với tổng khối lợng
công việc phải hoàn thành.
+ Tỷ lệ (%) chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ớc tính để hoàn
thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ.
Phần công việc đã hoàn thành không phụ thuộc vào các khoản thanh toán
định kỳ hay khoản ứng trớc của khách hàng.
-Trờng hợp dịch vụ đợc thực hiện bằng nhiều hoạt động khác nhau mà
không tách biệt đợc, và đợc thc hiện trong nhiều kỳ kế toán nhất định thì doanh
thu từng kỳ đợc ghi nhận theo phơng pháp bình quân. Khi có một hoạt động cơ
bản so với hoạt đông khác thì việc ghi nhận doanh thu đợc thực hiện theo hoạt
động đó.
- Khi kết quả của một giao dịch về cung cấp dịch vụ không thể xác định
đợc chắc chắn thì doanh thu đợc ghi nhận tơng ứng với chi phí đã ghi nhận và
có thể thu hồi.
- Trong giai đoạn đầu của một giao dịch về cung cấp dịch vụ, khi cha xác
định đợc kết quả một cách chắc chắn thì doanh thu đợc ghi nhận bằng chi phí
10
đã ghi nhận và có thể thu hồi đợc. Nếu chi phí liên quan đến dịch vụ đó chắc
doanh thu không đợc ghi nhận, trao đổi hàng hoá không tơng tự thì doanh thu đ-
ợc ghi nhận là bằng giá trị tơng đơng của hàng hoá nhận đợc, bằng giá trị tơng
đơng của hàng hoá đem trao đổi.
- Doanh thu bán hàng đợc công nhận khi:
+ Rủi ro và lợi ích quan trọng của việc sở hữu hàng hoá đợc chuyển sang
cho ngời mua.
+ Doanh nghiệp không tiếp tục tham gia quản lý quyền sở hữu cũng
không giám sát hiệu quả hàng đã bán ra.
+ Số doanh thu có thể đợc tính toán một cách chắc chắn.
+ Doanh nghiệp có khả năng là sẽ thu đợc lợi ích kinh tế từ giao dịch.
+ Chi phí giao dịch có thể đợc tính toán một cách chắc chắn.
- Tính không chắc chắn về khả năng thu về khoản đã đợc tính trong
doanh thu sẽ đợc coi nh là một khoản chi phí chứ không phải là một khoản điều
chỉnh doanh thu.
- Doanh thu không thể đợc công nhận khi chi phí không thể đợc tính toán
một cách chắc chắn. Những khoản hoàn trả đã nhận đợc từ bán hàng sau này sẽ
đợc chuyển về sau nh một khoản nợ cho tới khi công nhận doanh thu.
12
c, Một số điểm khác biệt giữa Chuẩn mực số 14 của Việt Nam (VAS
14) với chuẩn mực doanh thu thế giới( IAS 18) là:
Có thể thấy rằng những nội dung về doanh thu của IAS 18 là khá tơng
đồng với VAS 14 : quan niệm về doanh thu, Vấn đè xác định doanh thu ( IAS
và VAS đều phân theo các trờng hợp cụ thể là doanh thu thu đợc tiền, doanh thu
trả chậm và doanh thu do trao đổi hàng hoá có tính chất thơng mại, doanh thu
đợc xét theo các loại hình kinh doanh là doanh thu bán hàng hoá, doanh thu
cung cấp dịch vụ, doanh thu và thu nhập từ các hoạt đông khác. Tuy nhiên, theo
VAS còn xét thêm thu nhập khác ngoài doanh thu từ tiền lãI, tiền bản quyền, cổ
tức và lợi nhuận đợc chia, nghĩa là VAS phân loại rõ hơn theo xu hớng xét
doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác từ các hoạt động không thơng
xuyên của doanh nghiệp.
một thoả thuận giá cả trên và không thể hiện trên các ghi chép của kế toán.
- Giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại: phát sinh khi bán hàng không
đúng quy cách, phẩm chất quy định trong hợp đồng. Khách hàng có thể trả lại
hàng hoặc doanh nghiệp có thể giảm giá bán cho khách hàng nếu khách hàng
chấp nhận mua. Hàng bị trả lại hay giảm giá đợc phản ánh vào tài khoản
H ng bán bị trả lại và giảm giá. Tài khoản này là tài khoản hiệu chỉnh cho tài
khoản danh thu.
- Chiết khấu thanh toán : Việc bán chịu hàng thờng kèm theo các điều
khoản về tín dụng để làm tăng khả năng thanh toán của khách hàng. Có hai ph-
ơng pháp ghi nhận doanh thu đợc chấp nhận có liên quan đến chiết khấu thanh
toán, đó là những doanh thu gộp( doanh thu ghi nhận theo giá bán, tài khoản
chiết khấu bán hàng đợc xem là tài khoản hiệu chỉnh giảm trừ doanh thu) và
doanh thu ròng( doanh thu đợc ghi sổ theo giá bán đã trừ chiết khấu cho khách
hàng).
c, Nhận xét mô hình kế toán Mỹ:
14
- Ưu điểm:
+ Là hệ thông kế toán mở, việc đa ra những thời điểm khác nhau để ghi
nhận doanh thu đã đáp ứng đợc thực tiễn đa dạng của các nghiệp vụ phát sinh
doanh thu, nhờ đó các doanh nghiệp có thể chủ động trong công tác hạch toán.
+ Tại mỗi thời điểm ghi nhận doanh thu, quy định của kế toán lại đa ra
nhiều phơng pháp ghi nhận và hạch toán doanh thu, việc lựa chọn phơng pháp
nào là tuỳ thuộc vào doanh nghiệp, nhng nhìn chung đều dựa trên nguyên tắc
đảm bảo tính thận trọng tối đa cho doanh nghiệp.
+ Thông tin trình bày trên Báo cáo kết quả kinh doanh đợc công bố rõ
ràng để trình bày, dễ đọc và sử dụng.
- Nh ợc điểm:
+ Việc đa ra hai phơng pháp ghi nhận doanh thu sau khi bán hàng đã
không đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc dồn tích của kế
toán.
c, Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu:
Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm giảm giá, bớt giá, hồi khấu và
chiết khấu thanh toán.
- Nếu các khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu và chiết khấu thanh toán đợc
ghi trên hoá đơn bán hàng, các khoản này đợc trừ vào tổng số tiền ghi trên hoá
đơn. Kế toán chỉ ghi nhận doanh thu theo giá bán thực thu.
- Nếu các khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu đợc chấp thuận ngoài hoá
đơn bán hàng thì ngời bán phải lập hoá đơn báo có gửi cho khách hàng và
khoản giảm trừ này đợc ghi giảm trừ doanh thu bán hàng vào cuối kỳ. Nếu
nghiệp vụ xảy ra vào cuối năm và doanh nghiệp cha lập hoá đơn báo có gửi cho
khách hàng thì kế toán tạm thời ghi nhận khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu sẽ
trả cho khách hàng và kết chuyển các khoản giảm trừ này vào doanh thu bán
hàng trong kỳ. Sang năm sau, ghi bút toán đảo ngợc để xoá bỏ bút toán đã điều
16